Với mục đích tìm hiểu sâu hơn về bệnh lý hẹp van mũi trong và vấn đề phẫu thuật trong điều trị bệnh lý van mũi, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần trong vi
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân có tình trạng nghẹt mũi trên 3 tháng, độ tuổi từ 16 trở lên, đến khám tại phòng khám Tai Mũi Họng, được chẩn đoán hẹp van mũi trong và có chỉ định phẫu thuật điều trị hẹp van mũi trong
- Bệnh nhân nghẹt mũi mạn tính trên 3 tháng và được xác định nguyên nhân bất thường đơn lẻ hay phối hợp các cấu trúc tại khu vực van mũi trong: lệch vách ngăn mũi 1/3 trước, quá phát đầu cuốn mũi dưới, sụp vách mũi bên
- Có chỉ định phẫu thuật riêng lẻ hoặc phối hợp bao gồm: phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn mũi qua nội soi, phẫu thuật chỉnh hình cuốn mũi dưới qua nội soi, phẫu thuật chỉnh hình vách mũi bên qua nội soi
- Tái khám sau phẫu thuật 1 tuần, 4 tuần và 12 tuần, được đánh giá lại van mũi bằng khám lâm sàng và nội soi
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân nghẹt mũi do nguyên nhân: lệch vách ngăn ở vị trí ngoài khu vực van mũi trong, quá phát thân và đuôi cuốn mũi dưới, polype mũi, khối u, hẹp van mũi ngoài
- Chống chỉ định gây mê toàn thân
- Đang mắc các bệnh lý cấp tính
2.1.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ và Bệnh Viện Tai Mũi Họng Cần Thơ
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2020.
Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tiến cứu, mô tả, có can thiệp lâm sàng
Tính cỡ mẫu thiết kế theo công thức: n = Z 2 1-α/2 p(1-p)/d 2
Mức độ tin cậy là 95% nên Z = 1.96, mức ý nghĩa thống kê α = 0,05 Chọn sai số cho phép d = 0.04
Tỉ lệ thành công dự kiến: dựa vào nghiên cứu của Yoo (2012), tỉ lệ bệnh nhân cải thiện nghẹt mũi sau phẫu thuật là 98% [19] Do vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi dự kiến tỉ lệ bệnh nhân cải thiện triệu chứng nghẹt mũi sau phẫu thuật là 98%, nên p = 0.98
Kết quả cỡ mẫu được tính là n = 47 (mẫu)
Mỗi mẫu được chọn là 1 bên mũi, do đó cỡ mẫu trong nghiên cứu dự kiến 47 mẫu hay bên mũi
Kết quả trong quá trình thu thập mẫu và theo dõi, chúng tôi ghi nhận được 47 trường hợp thỏa điều kiện và tái khám đủ thời gian
2.2.3 Phương pháp chọn bệnh thuận tiện
Những bệnh nhân bị nghẹt mũi mạn tính trên 3 tháng được xác định có hẹp van mũi trong, và không có nguyên nhân khác gây nghẹt mũi kèm theo, hội đủ tiêu chuẩn chọn bệnh, không có tiêu chuẩn loại trừ, được chọn lựa Bệnh nhân được giải thích kỹ quy trình: khám, chẩn đoán, lựa chọn phương thức phẫu thuật, phẫu thuật và tái khám
Bệnh nhân được quyền ngừng tham gia nghiên cứu bất kỳ thời điểm nào
Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu, đến khám sẽ được tiến hành hỏi bệnh sử, tiền sử, khám lâm sàng, đánh giá cận lâm sàng và phẫu thuật
2.2.4.1 Khai thác bệnh sử, tiền sử
Tiến hành khai thác bệnh sử của bệnh nhân bao gồm:
- Tình trạng nghẹt mũi (mức độ, thời gian), mức độ ảnh hưởng của tình trạng nghẹt mũi đến giấc ngủ và sinh hoạt hằng ngày
- Dấu hiệu sụp lõm vách mũi bên do bệnh nhân tự ghi nhận khi hít vào trong điều kiện bình thường và trong tình trạng hoạt động nặng, gắng sức
- Triệu chứng khác ở mũi kèm theo: chảy mũi, giảm khứu, nhức đầu Khai thác tiền sử bao gồm:
- Quá trình điều trị nội khoa trước đó
- Phẫu thuật chỉnh hình tháp mũi, phẫu thuật tạo hình cánh mũi
- Đánh giá nghẹt mũi do bất thường bẩm sinh hay thứ phát
- Khai thác tiền sử bệnh lý nội khoa liên quan
2.2.4.2 Khám lâm sàng, cận lâm sàng
- Cho bệnh nhân tự đánh giá mức độ nghẹt mũi theo thang điểm NOSE (theo bảng 2.1)
- Bệnh nhân sẽ tự khoanh tròn vào ô tương ứng với mức độ khó chịu từ
0 đến 4 ở mỗi yếu tố được đánh giá Sau đó sẽ tính điểm cho cả khảo sát Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bảng thang điểm NOSE giống như được đề xuất áp dụng rộng rãi
Cách tính và diễn giải theo Stewart [57] như sau: số điểm thu được khi bệnh nhân khoanh tròn trên bảng NOSE sẽ được cộng lại sau đó nhân với
5, khi đó số điểm NOSE tối đa là 100 và tối thiểu là 0 và luôn là bội số của 5
(0 ≤ NOSE ≤ 100) Mức độ ảnh hưởng nghẹt mũi được phân chia như sau:
- Mức độ nhẹ: 0< đến ≤ 25 điểm
- Mức độ trung bình: 25< đến ≤ 50 điểm
- Mức độ nặng: 50< đến ≤ 75 điểm
- Mức độ rất nặng: 75< đến < 100 điểm
- Nghẹt gần như hoàn toàn: 100 điểm
Bảng 2.1 Bảng đánh giá hiệu quả điều trị nghẹt mũi và hiệu quả phẫu thuật vách ngăn-cuốn dưới-van mũi (NOSE) [57]
Triệu chứng Không ảnh hưởng
3 Khó khăn khi thở bằng mũi 0 1 2 3 4
5 Không thể thở bằng mũi khi tập thể dục hay gắng sức
- Khám sơ bộ bằng đèn đội đầu, đánh giá tình trạng vẹo, gù, dị hình tháp mũi, tiền đình mũi, sụp tiểu trụ Quan sát hiện tượng sụp lõm cánh mũi khi hít vào xác định có hay không dấu hiệu này để đánh giá mức độ vững chắc của vách mũi bên
- Nghiệm pháp Cottle: kéo nếp mũi má hướng lên trên và sang bên và hỏi xem bệnh nhân có thở tốt hơn không Nghiệm pháp dương tính khi bệnh nhân trả lời thở tốt hơn, điều này hướng tới ghi nhận có tình trạng nghẹt mũi liên quan đến hẹp van mũi trong Nếu kết quả âm tính có nghĩa là tắc nghẽn ở nơi khác [44]
- Soi mũi bằng ống nội soi cứng 0 độ, đường kính 4 milimet hoặc 2.7 milimet trước khi xịt thuốc co mạch đánh giá các cấu trúc bao gồm:
+ Vách ngăn: về hình dạng, vị trí lệch, mức độ lệch theo phân loại của Hong- Ryul Jin [25] Ghi nhận chính xác các vị trí lệch vách ngăn, mức độ lệch ảnh hưởng đến sự thông thoáng tại khu vực van mũi trong
Bảng 2.2 Mô tả mức độ lệch vách ngăn theo Hong-Ryul Jin [25]
Mức độ lệch Mô tả
Nhẹ Lệch ít hơn nửa khoảng cách đến vách mũi bên
Vừa Lệch hơn nửa khoảng cách nhưng không chạm đến vách mũi bên Nặng Lệch chạm đến vách mũi bên
Bảng 2.3 Phân loại các dạng lệch vách ngăn theo Hong-Ryul Jin [25] Loại Mô tả
I Lệch khu trú: gai, mào, lệch đuôi vách ngăn
II Lệch dạng cong/gập góc, không kèm theo lệch khu trú
III Lệch dạng cong/gập góc, có kèm theo lệch khu trú
IV Lệch dạng cong/gập góc, kèm theo lệch bên ngoài mũi
Bảng 2.4 Bảng phân độ quá phát cuốn mũi dưới theo Friedman [38] Độ Mô tả
I Quá phát nhẹ không có bít tắc rõ ràng
II Quá phát vừa không bít tắc hoàn toàn
III Quá phát bít tắc hoàn toàn hốc mũi khu vực van mũi trong
Hình 2.2 Hình ảnh phân độ quá phát cuốn dưới theo Friedman
- Soi lại sau khi xịt mũi thuốc co mạch khoảng 15 phút và đánh giá lại các cấu trúc trên Bệnh nhân đánh giá sự cải thiện nghẹt mũi trước và sau khi dùng thuốc co mạch xịt mũi Nếu có cải thiện sau khi xịt thuốc co mạch xem Độ I Độ II Độ III như thử nghiệm với thuốc co mạch là dương tính cùng với sự thay đổi cuốn dưới qua nội soi hướng tới sự can thiệp cuốn mũi dưới qua nội soi
2.2.4.3 Lựa chọn phương thức và tiến hành phẫu thuật
Dựa vào kết quả đánh giá trên mỗi bệnh nhân, xác định được các yếu tố bất thường cấu trúc là vách mũi bên, vách ngăn và cuốn dưới tác động riêng lẻ hay phối hợp đến sự thông thoáng van mũi trong, gây nghẹt mũi ở một bên hốc mũi hay cả hai bên hốc mũi Từ kết quả trên, tiến hành lựa chọn phương thức phẫu thuật cho bệnh nhân bao gồm: phẫu thuật chỉnh hình van mũi trong, chỉnh hình vách ngăn mũi qua nội soi, phẫu thuật chỉnh hình cuốn mũi dưới qua nội soi: đốt điện đơn cực
Phẫu thuật được thực hiện dưới ống soi 0 0 , 4mm, sử dụng bóc tách và các dụng cụ bao gồm: dao mổ 15, dụng cụ bóc tách vách ngăn, ống hút, kéo cắt sụn, kéo cắt chỉ, kẹp gắp, kẹp mang kim nhỏ, đục, que thăm dò hai đầu, bộ đốt điện đơn cực, thuốc tê, merocel…
+ Các bước phẫu thuật và diễn giải chỉnh hình van mũi trong và vách ngăn qua nội soi:
Bước 1: Tiêm tê bóc tách niêm mạc vách ngăn 2 bên dùng thuốc tê có lidocain và epinephrine
Bước 2: Rạch niêm mạc vách ngăn ở vị trí phía trước van mũi trong hướng về tiền đình mũi mức tối đa Vị trí rạch thay đổi tùy từng trường hợp
Bước 3: Rạch sụn vách ngăn, bóc tách niêm mạc vách ngăn bên đối diện Đối với trường hợp không đặt mảnh ghép: ưu tiên bảo tồn tối đa sụn tứ giác, lấy bỏ phần vách ngăn vẹo đến khi kiểm tra vách ngăn thẳng, phủ lại niêm mạc sau khi lấy bỏ phần vẹo, khâu bằng chỉ tan khi cần, tiếp tục ở bước 6 Đối với trường hợp cần đặt mảnh ghép: lấy mảnh sụn lớn nhất làm mảnh ghép, dùng que thăm dò hai đầu cong 90 0 dưới sự hướng dẫn của nội soi bóc tách niêm mạc vách ngăn bên cần đặt mảnh ghép van mũi trong ngược lên đến khu vực đỉnh của góc, tiếp tục ở bước 4
Bước 4: Đưa mảnh ghép dài vào khoang còn trống khu vực đỉnh góc van mũi trong, cố định mảnh ghép đúng vị trí
Bước 5: Khâu cố định mảnh ghép theo phương pháp cố định khít dạng ống là khâu ép niêm mạc dần từ dưới lên và khâu xuyên qua mảnh ghép cố định Bước 6: Nhột merocel hai bờn mũi mỗi bờn ẵ miếng, cú thể rỳt ở phũng hậu phẫu hoặc ngày hôm sau trước khi xuất viện
Các bước lấy sụn làm mảnh ghép và đặt mảnh ghép (bước 3,4,5) được áp dụng trong trường hợp bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật chỉnh hình vách mũi bên
+ Các bước phẫu thuật và diễn giải chỉnh hình cuốn mũi dưới qua nội soi:
Kỹ thuật đốt cuốn mũi dưới qua nội soi dùng dao điện đơn cực (Monopolar), được thực hiện đối với các trường hợp cuốn dưới co tốt sau nhỏ thuốc co mạch 15 phút
Bước 1: Tiêm tê cuốn dưới dùng thuốc tê có lidocain và epinephrine
Đạo đức trong nghiên cứu
Đây là nghiên cứu mô tả có can thiệp lâm sàng, tất cả các quy trình trong nghiên cứu của chúng tôi đều được thực hiện dựa trên lợi ích, quyền lợi của bệnh nhân, đáp ứng được các yêu cầu của y đức:
- Tất cả bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu đều đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi đã được nghe giải thích và hiểu về quá trình tiến hành nghiên cứu Đối với bệnh nhân từ 16 đến 18 tuổi, việc đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được thông qua người giám hộ trực tiếp
- Bệnh nhân sau khi được khám và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng sẽ được chẩn đoán và điều trị theo phác đồ điều trị thích hợp Quá trình thực hiện đều cùng góp phần cho việc chẩn đoán bệnh lý của bệnh nhân, giúp cho việc điều trị sau đó Kết quả nghiên cứu cũng nhằm giúp cho việc đưa ra một phương thức điều trị tốt nhất các bệnh lý gây hẹp van mũi trong Do đó, toàn bộ quá trình của nghiên cứu đều nhằm mang lại những lợi ích cho sức khỏe của bệnh nhân.
KẾT QUẢ
Đặc điểm chung của mẫu
3.1.1 Phân bố theo giới, tuổi
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ phân bố theo giới Nhận xét: trong tổng số 47 trường hợp nghiên cứu, nam chiếm tỉ lệ 78,72% (37/47), nữ chiếm 21,28% (10/47) (biểu đồ 3.1)
Bảng 3.1 Độ tuổi trong nghiên cứu
Số lượng Độ tuổi trung bình
Tuổi lớn nhất Độ lệch chuẩn
Nhận xét: trung bình độ tuổi trong nghiên cứu là 35.19 tuổi, nhỏ nhất là
17 tuổi, lớn nhất là 62 tuổi (bảng 3.1)
3.1.2 Phân bố mẫu theo địa dư
Biểu đồ 3.2 Phân bố mẫu theo địa dư Nhận xét: Trong nghiên cứu, bệnh nhân có địa chỉ đến từ Cần Thơ chiếm tỉ lệ cao nhất (55,32%), tiếp đến là Hậu Giang (25,53%), Vĩnh Long (12,77%), thấp nhất là Đồng Tháp, Kiên Giang, Sóc Trăng (cùng chiếm 2,13%) (Biểu đồ 3.2).
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước phẫu thuật
3.2.1 Thời gian nghẹt mũi trước khi phẫu thuật
Bảng 3.2 Thời gian nghẹt mũi của bệnh nhân trước phẫu thuật
Thời gian nghẹt mũi Số lượng (nG) Tỉ lệ
Nhận xét: Thời gian nghẹt mũi trung bình trước mổ của bệnh nhân là 34,94 ± 5,33 tháng, ngắn nhất 3,5 tháng, dài nhất 120 tháng, độ lệch chuẩn 36,52 tháng Trong đó, thời gian nghẹt mũi trước phẫu thuật từ 3 đến 12 tháng chiếm 2,13% (bảng 3.3)
3.2.3 Tiền sử bệnh của bệnh nghiên cứu
Bảng 3.4 Phân bố tiền sử bệnh trước phẫu thuật
Tiền sử Số lượng Tỉ lệ
Dị dạng bẩm sinh vùng mũi ngoài 0 0
Các phẫu thuật vùng mũi 0 0
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ ghi nhận một trường hợp có tiền sử chấn thương vùng mũi trước đó, có gãy xương chính mũi sau chấn thương và đã được nâng nắn xương chính mũi gây tê (chiếm 2,1%) Ngoài ra, nghiên cứu không ghi nhận trường hợp nào có tiền sử phẫu thuật và dị dạng bẩm sinh vùng mũi (bảng 3.4)
Bảng 3.5 Phân bố triệu chứng cơ năng trước phẫu thuật
Triệu chứng cơ năng Số lượng
Khó thở bằng mũi khi vận động nhiều hoặc gắng sức 31 66
Khó thở bằng mũi khi ngủ 36 76.6
Sụp lõm cánh mũi khi hít vào (khi thở không gắng sức) 0 0 Sụp lõm cánh mũi khi hít vào (khi thở gắng sức) 0 0
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu ghi nhận triệu chứng lâm sàng ngoài nghẹt mũi, các triệu chứng thường gặp khác theo tần suất giảm dần bao gồm: nhức đầu (80,9%), khó thở bằng mũi khi ngủ (76,6%), chảy mũi (66%), khó thở bằng mũi khi vận động nhiều hoặc gắng sức (66%), giảm khứu (42,6%), không ghi nhận có trường hợp sụp lõm cánh mũi (bảng 3.5)
3.2.4.2 Đánh giá nghẹt mũi theo thang điểm NOSE trước mổ
Bảng 3.6 Đánh giá điểm NOSE trước mổ
Chỉ số Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất Độ lệch chuẩn Điểm NOSE
Biểu đồ 3.3 Phân độ nghẹt mũi dựa vào thang điểm NOSE
Nhận xét: qua khảo sát triệu chứng nghẹt mũi thông qua thang điểm NOSE do bệnh nhân tự đánh giá trước mổ theo mẫu có sẵn, ghi nhận trường hợp điểm thấp nhất là 30 điểm, cao nhất là 80 điểm, trung bình là 47,77 điểm với độ lệch chuẩn 13,78 điểm Mức độ nghẹt mũi trung bình chiếm tỉ lệ cao nhất (57,4%), mức độ nặng chiếm 38,3%, mức độ rất nặng chiếm 4,3% (bảng 3.6, biểu đồ 3.3)
3.2.4.3 Phân bố bên bệnh, nghiệm pháp Cottle và Cottle cải tiến trước phẫu thuật
Trong tổng số 47 mẫu, tần suất bất thường van mũi gây nghẹt mũi tương đương nhau khi so sánh ở hai bên mũi: 23 trường hợp bên phải, 24 trường hợp bên trái
Nghiệm pháp Cottle âm tính trong 47/47 trường hợp (100%)
3.2.5 Đánh giá van mũi trong qua nội soi trước phẫu thuật
3.2.5.1 Độ nặng của lệch vách ngăn theo Hong – Ryul Jin
Bảng 3.7 Đánh giá độ nặng của lệch vách ngăn theo Hong – Ryul Jin Bên bệnh Độ nặng của lệch vách ngăn Tổng
Hình 3.1 Hình ảnh lệch vách ngăn mức độ nặng theo Hong – Ryul Jin Nguồn: Bệnh nhân Nguyễn Hữu H., Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ
Nhận xét: qua đánh giá mức độ lệch vách ngăn theo tác giả Hong – Ryul Jin cho thấy, có 1 trường hợp vách ngăn thẳng, trong những 46 trường hợp còn lại, lệch vách ngăn mức độ vừa chiếm tỉ lệ cao nhất (78,72%), tiếp đến là mức độ nhẹ (10,64%), nặng (8,51%), không có sự khác biệt giữa 2 bên bệnh (p=0.7) (bảng 3.7, hình 3.1)
Khi đánh giá độ lệch vách ngăn theo mức độ nghẹt mũi, chúng tôi nhận thấy: các trường hợp nghẹt mũi mức độ nhẹ thường có vách ngăn vẹo nhẹ và vừa, 2 trường hợp nghẹt mũi rất nặng đều có vách ngăn lệch nhiều (mức độ vừa và nặng), còn lại hầu hết các trường hợp nghẹt mũi mức độ trung bình và nặng đều có vách ngăn lệch mức độ vừa (lần lượt chiếm 44.7% và 27,7%) Tuy nhiên, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
3.2.5.2 Phân loại lệch vách ngăn theo Hong – Ryul Jin
Bảng 3.8 Phân loại lệch vách ngăn theo Hong – Ryul Jin
Bên bệnh Phân loại lệch vách ngăn Tổng
Loại I Loại II Loại III Loại
Hình 3.2 Hình ảnh lệch vách ngăn loại II, mức độ vừa theo Hong – Ryul Jin Nguồn: Bệnh nhân Nguyễn Văn C (hình A) và Trần Văn T (hình B), Bệnh viện Tai Mũi Họng Cần Thơ
Nhận xét: kết quả đánh giá hình dạng lệch vách ngăn theo Hong – Ryul Jin qua nội soi cho thấy: vách ngăn loại II chiếm tỉ lệ cao nhất (29/47 trường
B hợp), 16/47 trường hợp loại III, 1 trường hợp loại I, 1 trường hợp có vách ngăn thẳng, không có trường hợp nào loại IV, không có sự khác biệt giữa 2 bên bệnh (bảng 3.8, hình 3.2)
3.2.5.3 Mức độ quá phát cuốn dưới trước khi xịt thuốc co mạch
* Mức độ quá phát cuốn dưới (trước khi xịt thuốc co mạch):
Bảng 3.9 Mức độ quá phát cuốn dưới trước khi xịt thuốc co mạch (trước phẫu thuật)
Cuốn dưới Mức độ quá phát (trước phẫu thuật, trước khi xịt thuốc co mạch)
Không quá phát Độ I Độ II Độ III
Nhận xét: Khi đánh giá cuốn dưới trước mổ (trước khi xịt thuốc co mạch), 46/47 trường hợp (bên mũi) ghi nhận có hẹp van mũi trong do lệch vách ngăn, với 45 trường hợp không có quá phát cuốn dưới kèm theo, 1 trường hợp có quá phát cuốn dưới độ II; 1/47 trường hợp hẹp van mũi trong do quá phát cuốn dưới (độ III) và không có lệch vách ngăn kèm theo; không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa độ quá phát của cuốn dưới với độ nặng của lệch vách ngăn cùng bên (bảng 3.11) Trong tổng số các trường hợp hẹp van mũi trong, 25/47 trường hợp không có quá phát cuốn dưới đối bên (53,19%), 21/47 trường hợp (44,68%) cuốn dưới đối bên quá phát độ I, 1/47 trường hợp (2,13%) cuốn dưới đối bên quá phát độ II (bảng 3.9)
Không quá phát Độ I Độ II Độ III cuốn dưới cùng bên trước xịt cuốn dưới cùng bên sau xịt
* Mức độ quá phát cuốn dưới (sau khi xịt thuốc co mạch):
Biểu đồ 3.4 Sự đáp ứng của cuốn dưới cùng bên với thuốc co mạch (trước phẫu thuật)
Biểu đồ 3.5 Sự đáp ứng của cuốn dưới đối bên với thuốc co mạch (trước phẫu thuật)
Bảng 3.10 Mức độ quá phát cuốn dưới sau khi xịt thuốc co mạch (trước phẫu thuật)
Cuốn dưới Mức độ quá phát (trước phẫu thuật, sau khi xịt thuốc co mạch)
Không quá phát Độ I Độ II Độ III
Nhận xét: Sau khi xịt thuốc co mạch 15 phút, qua nội soi chúng tôi ghi nhận có sự phục hồi rõ rệt kích thước của cuốn dưới đối bên, từ 22/47 trường hợp trước khi xịt thuốc có dấu hiệu quá phát cuốn dưới, giảm xuống chỉ còn 3/47 trường hợp, với 1 trường hợp quá phát độ I và 2 trường hợp quá phát độ
II (bảng 3.10) Biểu đồ 3.4 và 3.5 cho thấy sự thay đổi trong đáp ứng với thuốc co mạch của cuốn dưới cùng bên và cuốn dưới đối bên.
Can thiệp phẫu thuật
3.3.1 Các loại can thiệp phẫu thuật
Bảng 3.11 Can thiệp phẫu thuật trong nghiên cứu Bên bệnh
Phẫu thuật nội soi chỉnh hình
Vách ngăn Cuốn dưới Vách ngăn
Nhận xét: qua quá trình thu thập mẫu, chúng tôi tiến hành phẫu thuật 47 trường hợp hẹp van mũi trong thỏa tiêu chí chọn mẫu, kết quả ghi nhận: phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn qua nội soi đơn thuần chiếm phần lớn (45/47 trường hợp, chiếm 95,74%), 1/47 trường hợp (2,13%) phẫu thuật nội soi chỉnh hình cuốn dưới đơn thuần, 1/47 trường hợp (2,13%) phẫu thuật nội soi kết hợp chỉnh hình vách ngăn và chỉnh hình cuốn dưới; tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu đều được phẫu thuật ở 1 bên van mũi, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh giữa bên phải và bên trái (bảng 3.11)
Bảng 3.12 Biến chứng sau can thiệp phẫu thuật
Loại can thiệp phẫu thuật (nG)
Vách ngăn Tần số (tỉ lệ)
Cuốn dưới Tần số (tỉ lệ)
Vách ngăn + cuốn dưới Tần số (tỉ lệ)
Nhận xét: Trong tổng số 47 trường hợp, chúng tôi ghi nhận có 5 trường hợp (chiếm 10,6%) biến chứng sau phẫu thuật, trong đó: 4/47 trường hợp (8,5%) chảy máu sau mổ, 1/47 trường hợp (2,1%) tụ máu vách ngăn; tất cả các trường hợp biến chứng đều gặp sau phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn đơn thuần (bảng 3.12).
Đánh giá các dấu hiệu sau phẫu thuật
3.4.1 Đánh giá mức độ nghẹt mũi theo thang điểm NOSE
Bảng 3.13 Điểm NOSE tại các thời điểm trước và sau phẫu thuật Điểm NOSE
Thời điểm đánh giá Trước mổ Sau mổ 1 tuần Sau mổ 4 tuần Sau mổ 12 tuần
Lớn nhất 80 60 25 15 Độ lệch chuẩn 13,78 11,49 5,49 4,21
Nhận xét: Qua khảo sát tình trạng nghẹt mũi của bệnh nhân sau mổ theo thang điểm NOSE, cho thấy có sự thay đổi rõ rệt điểm NOSE trung bình: 47,77 điểm trước mổ giảm còn 29,36 điểm sau mổ 1 tuần, 12,87 điểm sau mổ
4 tuần và 3,30 điểm sau mổ 12 tuần Có nhiều trường hợp, tình trạng nghẹt mũi được cải thiện hoàn toàn với điểm NOSE bằng 0 sau 12 tuần (bảng 3.13, biểu đồ 3.6)
Kết quả cũng cho thấy sự cách biệt trung bình cao nhất khi so sánh giữa trước mổ và sau mổ 12 tuần (44,47 điểm), kế đến là trung bình khác biệt điểm NOSE giữa trước mổ và sau mổ 4 tuần (34,90), trung bình khác biệt thấp nhất khi so sánh giữa trước mổ và sau mổ 1 tuần (18,41); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi dùng kiểm định dấu và hạng Wilcoxon với p