BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC LÊ THỊ LAN LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU NGUYÊN, (THIỆU HÓA, THANH HÓA) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THANH HÓA, N[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ THỊ LAN
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU NGUYÊN,
(THIỆU HÓA, THANH HÓA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
LÊ THỊ LAN
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THIỆU NGUYÊN,
(THIỆU HÓA, THANH HÓA)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 82.29.013
Người hướng dẫn khoa học:
CB hướng dẫn 1: TS Nguyễn Thị Vân
CB hướng dẫn 2: PGS.TS Mai Văn Tùng
THANH HÓA, NĂM 2022
Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sỹ khoa học
Trang 4(Theo Quyết định số : / QĐ- ĐHHĐ ngày tháng năm 2022
của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức)
Học hàm, học vị
Họ và tên Cơ quan Công tác
Chức danh trong Hội đồng
Chủ tịch HĐ
UV Phản biện 1
UV Phản biện 2
Uỷ viên Thư ký
Xác nhận của Người hướng dẫn
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Ngày tháng năm 2022
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Thanh Hoá, ngày tháng năm 2022
Người cam đoan
Lê Thị Lan
Trang 6
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tiến hành triển khai nghiên cứu, tôi đã hoàn thành nội dung luận văn “Lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Nguyên (Thiệu Hóa, Thanh Hóa)” Luận văn được hoàn thành không chỉ là công sức của bản thân tác giả
mà còn có sự giúp đỡ, hỗ trợ tích cực của nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Vân và PGS.TS Mai Văn Tùng - những người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khoa học xã hội, đặc biệt bộ môn Lịch sử - Trường Đại học Hồng Đức
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ văn hóa huyện Thiệu Hóa, Phòng Địa chí thư viện tỉnh Thanh Hóa, cán bộ và nhân dân xã Thiệu Nguyên đã cung cấp thông tin, tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ về tinh thần, vật chất để tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu nhưng chắc chắn Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy, tác giả rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các quý thầy cô, đồng nghiệp và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, tháng năm 2022
Tác giả
Lê Thị Lan
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN - 1 -
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Nguồn tài liệu 9
7 Đóng góp của luận văn 10
8 Cấu trúc luận văn 11
Chương 1.VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU NGUYÊN 12
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông 12
1.1.1 Vị trí địa lý 12
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 14
1.1.3 Hệ thống giao thông 17
1 2 Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Thiệu Nguyên 17
1.2.1 Nguồn gốc dân cư và sự hình thành làng xã 17
1.2.2 Vùng đất Thiệu Nguyên từ khi thành lập đến trước cách mạng tháng Tám 17
1.2.3 Vùng đất Thiệu Nguyên sau cách mạng tháng Tám đến nay 20
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa 22
1.3.1 Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động 22
1.3.2 Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm 24
1.3.3 Truyền thống uống nước nhớ nguồn 28
1.3.4 Truyền thống hiếu học 30
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 33
2.1 Chùa Vĩnh Phúc 33
2.1.1 Quá trình hình thành và tôn tạo 33
Trang 82.1.2 Cấu trúc không gian 35
2.1.3 Bài trí đồ thờ 38
2.1.4 Văn bia chùa Vĩnh Phúc 39
2.2 Lăng mộ Hoàng đế Lê Ý Tông 41
2.2.1 Thân thế, sự nghiệp của Hoàng đế Lê Ý Tông 41
2.2.2 Nguồn gốc khu lăng mộ 45
2.2.3 Quá trình phát hiện 48
2.2.4 Cấu trúc khu lăng mộ 49
2.3 Nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân 51
2.3.1 Thân thế và sự nghiệp tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân 51
2.3.2 Quá trình hình thành tôn tạo 52
2.3.3 Cấu trúc nhà thờ 53
2.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản 55
2.4.1 Giá trị lịch sử - văn hóa 55
2.4.2 Thực trạng 60
2.4.3 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản 64
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 69
3.1 Tín ngưỡng - tôn giáo 69
3.2 Nghệ thuật dân gian 72
3.2.1 Nghệ thuật chèo 72
3.2.2 Sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc 83
3.3 Tri thức dân gian - bài thuốc chữa trị độc rắn 86
3.3.1 Quá trình ra đời 86
3.3.2 Quy trình chữa bệnh 87
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản 88
3.4.1 Giá trị lịch sử - văn hóa 88
3.4.2 Thực trạng 90
3.4.3 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản 93
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC P1
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thiệu Nguyên là một xã nằm ở phía Đông của huyện Thiệu Hóa, thuộc
tả ngạn sông Chu, cách trung tâm huyện khoảng 2 km Vùng đất này có phía Đông giáp với thôn Xử Nhân, xã Thiệu Duy, phía Tây giáp với thị trấn Thiệu Hóa, phía Bắc giáp với xã Thiệu Duy Phía Nam là sông Chu giáp xã Thiệu
Đô, Thiệu Châu và Thiệu Tân
Nằm trong không gian văn hóa của người Việt cổ, Thiệu Nguyên là vùng đất thiêng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Nơi đây còn hiện hữu nhiều giá trị văn hóa có ý nghĩa to lớn, bao gồm cả DSVH vật thể và phi vật thể Đó là chùa Vĩnh Phúc - minh chứng cho sự phát triển và ảnh hưởng sâu sắc của đạo Phật đến đời sống cư dân, di sản đã được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2012; Lăng mộ Hoàng đế Lê Ý Tông
- một vị Hoàng đế nhân cách cao cả, đức độ của nhà Lê, chứng thực cho sự tồn tại, phát triển của nhà Lê Trung Hưng trong lịch sử dân tộc Việt Nam; Nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân - một vị quan tài đức, khổ học thành tài, trung vua, yêu nước, thương dân… Vùng đất Thiệu Nguyên còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa phi vật thể phong phú, đa dạng, thể hiện sự sáng tạo tuyệt vời của cư dân nông nghiệp, như nghệ thuật chèo truyền thống hay việc gìn giữ và phát triển các loại nhạc cụ dân tộc… Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của các loại hình giải trí, nơi đây vẫn có những nghệ nhân sử dụng các loại nhạc cụ dân tộc phục vụ cho văn hóa, văn nghệ quần chúng… Những giá trị DSVH vật thể và phi vật thể ấy đã làm nên chiều sâu lịch sử và bề dày văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của vùng đất cổ này
Thiệu Nguyên còn là vùng đất có truyền thống hiếu học và lao động cần cù và sáng tạo Trên cơ sở điều kiện tự nhiên có nhiều thuận lợi từ dòng sông Chu, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa…Thiệu Nguyên sớm đã trở thành địa bàn sinh sống của cư dân Việt cổ Trên nền tảng kinh tế nông nghiệp lúa nước, trải qua quá trình hàng nghìn năm cùng dựng nước và giữ nước, cư dân
Trang 11Thiệu Nguyên đã để lại những minh chứng đậm nét cho truyền thống hiếu học
và lao động cần cù, sáng tạo Dân gian vẫn lưu truyền những giai thoại về tiến
sĩ Nguyễn Lệnh Tân - người học trò nghèo ham học, 38 tuổi đã đỗ tiến sĩ, sau này được được ghi danh ở bia Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội Nơi đây có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo được phản ánh đậm nét trong các chiếu chèo cổ với làn điệu mượt mà, duyên dáng, tinh tế mà giản dị…Nơi đây còn lưu giữ những tri thức dân gian như trị độc rắn đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ
Có thể khẳng định, hệ thống di sản lịch sử - văn hóa này có giá trị vô cùng to lớn trên tất cả các lĩnh vực như: giá trị lịch sử - văn hóa, giá trị giáo dục, giá trị nghệ thuật, giá trị về kinh tế - du lịch…Vì vậy, nghiên cứu về lịch
sử văn hóa vùng đất Thiệu Nguyên là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm rõ các giá trị của hệ thống DSVH vật thể và phi vật thể của vùng đất Từ đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu đề cập đến lịch sử văn hóa của vùng đất Thiệu Nguyên dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, dưới góc độ chuyên ngành lịch sử Việt Nam đến nay vẫn còn hạn chế Chính vì vậy, luận văn này sẽ là sự bổ sung có ý nghĩa cho hướng nghiên cứu còn chưa đầy đủ, hệ thống này Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Nguyên là một việc làm cần thiết, không những có tác động tích cực đối với việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc thù của vùng đất, mà còn giúp cho các thế hệ người dân xã Thiệu Nguyên nói riêng và
xứ Thanh nói chung thêm hiểu biết và gắn bó với quê hương Từ đó, có những việc làm thiết thực để xây dựng Thanh Hóa ngày một giàu đẹp hơn Đây còn là một khâu quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt ở nông thôn, góp phần đưa sự nghiệp CNH - HĐH của nước ta đi đến thắng lợi
Trang 12Với những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Lịch sử văn hoá vùng
đất Thiệu Nguyên (Thiệu Hóa, Thanh Hóa)” để làm đề tài luận văn Thạc sỹ
chuyên ngành Lịch sử Việt Nam của mình
“Le Thanh Hoa” - “Xứ Thanh Hóa” [21] là bộ sách chuyên khảo về
địa lý Thanh Hóa của Tiến sĩ Charles Robequanin - cựu Hội viên trường Viễn
Đông Bác Cổ Pháp được đánh giá là một công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội, con người xứ Thanh công phu và khoa học Robequain đã phát hiện ra Thanh Hóa là mảnh đất giàu tiềm năng về văn hóa và kinh tế Điều đó chứng tỏ vùng đất Thanh Hóa đã được các học giả Pháp quan tâm nghiên cứu từ rất sớm
Cuốn Địa chí Thanh Hóa, tập I [48] đã giới thiệu khái quát về địa lý,
lịch sử của các địa phương tỉnh Thanh Hóa, trong đó có huyện Thiệu Hóa Mặc dù chỉ trình bày sơ lược nhưng công trình là cơ sở tài liệu giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh khi tìm hiểu về vùng đất Thiệu Nguyên đặt trong cái nhìn tổng thể với huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa Đây là công trình quan trọng phục vụ cho quá trình nghiên cứu của đề tài khi đi vào tìm hiểu văn hóa của một vùng đất ở xứ Thanh
Cuốn Địa chí Thanh Hóa, tập II [48] lại giới thiệu toàn diện về văn
hóa, xã hội, tôn giáo tín ngưỡng của Thanh Hóa Tài liệu này cung cấp những thông tin hữu ích về các làng Việt cổ, hệ thống DSVH tại địa phương Thanh Hóa, trong đó có những DSVH còn hiện hữu ở vùng đất Thiệu Hóa
Trang 13Đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng phục vụ cho quá trình nghiên cứu của
đề tài
Trong cuốn Tên làng xã Thanh Hóa (Tập 1) [6] của Ban nghiên cứu và
biên soạn lịch sử Thanh Hóa năm 2001 đã giới thiệu khái quát về quá trình hình thành, về tên làng xã thuộc huyện Thiệu Hóa Nội dung cuốn sách phác họa đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Thiệu Nguyên trong lịch sử địa phương - dân tộc
Viết về những DSVH vật thể còn hiện hữu ở vùng đất Thanh Hóa, cuốn
Chùa xứ Thanh tập 3 [23] của giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thanh Hóa
(do NXB Thanh Hóa phát hành năm 2017) cũng đề cập đến các ngôi chùa của Thanh Hóa Trong đó, các tác giả giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển, về không gian và kết cấu, nghệ thuật kiến trúc của chùa Vĩnh Phúc ở vùng đất Thiệu Nguyên (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) Đây là nguồn tài liệu quan trọng phục vụ cho quá trình chúng tôi nghiên cứu về DSVH vật thể ở vùng đất Thiệu Nguyên
Năm 2019, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa biên soạn cuốn sách Di
sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa [16] do NXB Thanh Hóa ấn hành Cuốn sách có
độ dày 380 trang, nội dung gồm 4 phần: Phần I giới thiệu tổng quan về Thanh Hóa và hệ thống DSVH tỉnh Thanh Hóa; Phần II về các DSVH vật thể; Phần III về các DSVH phi vật thể; Phần IV về công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, công trình chỉ dừng lại là những bài viết khái quát, chưa đề cập cụ thể, toàn diện và sâu sắc về diện mạo và giá trị của các DSVH trên địa bàn vùng đất Thiệu Nguyên
Cuốn Những thắng tích của xứ Thanh [36] do tác giả Quốc Chấn chủ
biên (Nhà xuất bản Thanh Hóa in năm 2007) cũng đã đề cập đến một số di tích trên vùng đất Thiệu Hóa Tuy nhiên, công trình cũng chỉ ở mức độ giới
thiệu khái quát; Cuốn Danh nhân Thanh Hóa (tập 1, 2), do Ban nghiên
cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa biên soạn (Nhà xuất bản Thanh Hóa ấn hành năm 2006) cũng đã giới thiệu về thân thế và sự nghiệp của các danh
Trang 14nhân thuộc huyện Thiệu Hóa Đây là tài liệu cơ sở quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu về các nhân vật được thờ tự tại các di tích ở vùng đất Thiệu Nguyên
Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Hóa (Nxb Chính trị quốc gia 2000)
là công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vùng đất Thiệu Nguyên Công trình đã đánh giá khách quan quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ Thiệu Hóa trong lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo Mặc dù nội dung viết khái lược, tập trung lịch sử Đảng bộ trong phạm vi huyện Thiệu Hóa nhưng đây là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả đi sâu nội dung nghiên cứu
đề tài Trong công trình, vùng đất Thiệu Hóa xưa và nay đã giới thiệu khái quát, xã Thiệu Nguyên cũng được đề cập đến [33] Tuy nhiên, đây là cuốn sách viết về lịch sử Đảng bộ huyện, nội dung chủ yếu là truyền thống cách mạng huyện Thiệu Hóa nên lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Nguyên chưa được các tác giả quan tâm chú ý
Năm 2010, Huyện ủy - hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện
Thiệu Hóa chịu trách nhiệm xuất bản cuốn Địa chí huyện Thiệu Hóa (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010) Công trình “mang tính bách khoa về các
lĩnh vực vị trí địa lý địa lý, tài nguyên thiên nhiên, hành chính, lịch sử, kinh
tế, văn hóa- xã hội và con người Thiệu Hóa trong quá khứ cũng như trong hiện tại” [32] Các tác giả đã giới thiệu về địa lí tự nhiên, tài nguyên khoáng
sản cũng như lịch sử hình thành của huyện Thiệu Hóa Trong Chương 5 -
Phần văn hóa - xã hội các tác giả cũng đã giới thiệu một số nét văn hóa đặc
sắc của vùng đất Thiệu Nguyên như: xã Thiệu Nguyên xưa là Phù Nguyên, vốn là đất học của huyện Thiệu Hóa với các nhà khoa bảng, cử nhân tú tài, tiêu biểu nhất là tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân - vị tiến sĩ khoa thi Quý Mùi (1763) đời Lê Hiển Tông, năm 38 tuổi, làm chức Đông các đại học sĩ Công trình cũng đã khẳng định làng Phù Nguyên là nơi có lăng mộ vua Lê Ý Tông cùng với nhiều truyền thống văn hóa như tục kết chạ với làng Go, làng Núi, làng
Trang 15Dương Hòa, làng Xử Nhân Tuy nhiên, công trình mới chỉ tập trung giới thiệu một số nét chính về di tích cũng như nhân vật lịch sử gắn liền với di tích, chưa đi sâu tìm hiểu quá trình hình thành, lịch sử tồn tại và giá trị của các di tích lịch sử ở vùng đất này
Cuốn Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân xã
Thiệu Nguyên (1930 2015) (Nxb Thanh Hóa 2016) do Đảng ủy HĐND
-UBND - UBMTTQ xã Thiệu Nguyên tổ chức biên soạn, đã ghi lại vùng đất trên nhiều phương diện như: vị trí địa lý, quá trình hình thành làng xã cũng như chặng đường lịch sử cách mạng đầy gian khổ, hy sinh của Đảng bộ và nhân dân xã Thiệu Nguyên trong hơn 8 thập kỷ (1930 - 2015) Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng quê hương hiện nay Cuốn sách cũng là sự tri ân của thế hệ hôm nay đối với thế hệ đi trước Trong
đó, chương I của công trình đã đề cập trực tiếp đến vùng đất, con người và truyền thống văn hóa của vùng đất Thiệu Nguyên, là cơ sở tài liệu quan trọng
để chúng tôi tiếp cận khi nghiên cứu đề tài [27]
Cuốn Danh sĩ Thanh Hóa với việc học và khoa bảng thời xưa của Nhà
xuất bản Thanh Hóa năm 2019 đã giới thiệu các vị Đại khoa (Tiến sĩ - Ông Nghè) đỗ đạt cao hoặc không đỗ đạt cao nhưng có trình độ học vấn uyên bác,
có những đóng góp lớn lao cho quốc gia, dân tộc, quê hương được sử sách lưu danh, nhân dân truyền tụng Trong cuốn sách này có giới thiệu đến tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân quê xã Phù Lê (sau đổi thành Phù Nguyên), huyện Thụy Nguyên (nay là xã Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa) năm 38 tuổi dự khoa thi Quý Mùi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân Cuốn sách cũng có đề cập đến nhà thờ Tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa Cấp tỉnh năm 2006 Mặc dù giới thiệu khái quát và sơ lược nhưng đây là một trong những nguồn tư liệu quý để chúng tôi nghiên cứu về văn hóa vật thể của Thiệu Nguyên trong lịch sử dân tộc [52, tr 199-200]
Viết về những người có danh tiếng công trạng, có phẩm chất cao cả về tài và đức được xã hội thừa nhận và tôn vinh còn có một số cuốn sách khác
Trang 16như Văn quan võ tướng xứ Thanh (NXB Thế giới năm 2016), Những nhà
khoa bảng xứ Thanh (NXB Thanh Hóa năm 2011)… Tiến sĩ Nguyễn Lệnh
Tân đã được giới thiệu ở các công trình với các góc độ khác nhau Đây cũng
là những tài liệu quan trọng để chúng tôi tiếp cận đề tài
Ngoài một số công trình chính thống đã đề cập đến vùng đất Thiệu Nguyên ở những phương diện khác nhau, năm 2019 Trung tâm bảo tồn DSVH Thanh Hóa dưới sự chủ trì của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội nghị tọa đàm khoa học về lăng mộ của Hoàng đế Lê Ý Tông Hội nghị đã nhận được 9 bài tham luận của các nhà Khoa học đến từ Viện Sử học, các nhà nghiên cứu thuộc Hội Khoa học Lịch sử Thanh Hóa, Trung tâm bảo tồn Di sản Văn hóa Thanh Hóa… Hội nghị đã tập trung vào các vấn đề như bối cảnh lịch sử của triều vua Lê Ý Tông, khẳng định ngôi mộ phát hiện trên đất Thiệu Nguyên là mộ vua Lê Ý Tông và cũng có đề cập đến các phương án bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo, trùng tu… Đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng để chúng tôi nghiên cứu đề tài
Như vậy, đến nay đã có nhiều công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vùng đất Thiệu Nguyên nhưng vẫn chưa có công trình nào chuyên sâu về lịch sử văn hóa vùng đất này Ở mỗi công trình nghiên cứu, các tác giả mới chỉ nêu lên khía cạnh mà mình tiếp cận và quan tâm, một số công trình đề cập còn ở mức độ khái quát, chưa cụ thể, toàn diện và sâu sắc về diện mạo và giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa của vùng đất Thiệu Nguyên Vì thế, trên cơ sở kế thừa và phát huy kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về lịch sử văn hóa của vùng đất này Đề tài tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử hình thành vùng đất Thiệu Nguyên
- Quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của các DSVH vật thể và phi vật thể ở Thiệu Nguyên
Trang 17- Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng các loại hình DSVH vùng đất Thiệu Nguyên, đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lịch sử, văn hóa vùng đất Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa bao gồm lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất, các giá trị lịch sử văn hóa vật thể và phi vật thể Khi nghiên cứu chúng tôi đặt lịch sử, văn hóa vùng đất Thiệu Nguyên trong mối quan hệ với huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa và trong quá trình xây dựng, bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa chung của dân tộc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu 3 nội dung cơ bản là: Quá trình hình thành, phát triển; DSVH vật thể; DSVH phi vật thể của vùng đất Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Không gian của đề tài được giới hạn là: vùng đất Thiệu Nguyên, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian nghiên cứu của đề tài là từ khi hình thành vùng đất đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu toàn diện quá trình hình thành, phát triển và giá trị của các DSVH vật thể và phi vật thể vùng đất Thiệu Nguyên Từ đó đánh giá thực trạng hiện nay của các DSVH ở vùng đất này, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị của những di sản đó
4 1 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn giải quyết các vấn đề sau:
- Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, quá trình hình thành và phát triển, truyền thống lịch sử - văn hóa của vùng đất này trong dòng chảy lịch sử - văn hóa dân tộc
Trang 18- Hệ thống và khảo tả các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn hiện hữu trên vùng đất Thiệu Nguyên để tái hiện lại vùng đất cổ, tìm ra những đặc điểm riêng về lịch sử văn hóa của vùng đất Thiệu Nguyên so với các vùng đất khác ở Thiệu Hóa nói riêng và Thanh Hóa nói chung
- Đánh giá giá trị lịch sử văn hóa, thực trạng di sản đối với đời sống tâm linh của người dân địa phương và đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản
Với những vấn đề đó, đề tài này có thể giúp cho mọi người có thể hiểu biết đầy đủ về truyền thống lịch sử - văn hóa cũng như các DSVH tiêu biểu của vùng đất Thiệu Nguyên, Thiệu Hóa, Thanh Hóa
5 Phương pháp nghiên cứu
- Tác giả sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, các phương pháp khu vực học, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học đã được vận dụng để tìm mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, nhằm nêu bật những nội dung cốt lõi, bản chất của sự vật và hiện tượng lịch sử
- Phương pháp phân tích, tổng hợp để khái quát được lịch sử văn hóa vùng đất Thiệu Nguyên, Thiệu Hóa, Thanh Hóa
- Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, điều tra điền dã nhằm đảm bảo tính trung thực, khách quan trong nghiên cứu lịch sử
6 Các nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu thành văn: Để có được nguồn tư liệu phong phú phục vụ việc làm luận văn, chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tập hợp tại các thư viện các bộ
sử gốc như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tục biên, Lịch triều hiến chương loại chí, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến nay, Địa chí Thanh Hóa Gia phả các dòng họ trên vùng đất Thiệu Nguyên, Hồ sơ khoa học về
lý lịch các di tích lịch sử và lăng mộ ở đây: như chùa Vĩnh Phúc, lăng mộ vua
Trang 19Lê Ý Tông, văn bia chùa Vĩnh Phúc
- Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu từ các văn kiện của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Thiệu Hóa, Lịch sử Đảng bộ xã Thiệu Nguyên, Đảng ủy, UBND xã Thiệu Nguyên và các bài viết của các nhà nghiên cứu tại Hội thảo
về lăng mộ vua Lê Ý Tông năm 2019
- Tài liệu vật chất là các di vật lịch sử trong các di sản như đồ thờ, văn bia, lăng mộ
- Tài liệu văn hóa dân gian bao gồm truyện kể, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ có liên quan đến vùng đất Thiệu Nguyên ngày nay
- Tài liệu điền dã: để bổ sung thêm nguồn tư liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn tìm hiểu, khảo cứu tại các làng của xã Thiệu Nguyên, tìm hiểu các di tích ở đây Đồng thời chúng tôi đã gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi trực tiếp với các cụ cao niên và con cháu các dòng họ lớn để bổ sung thêm nguồn tư liệu, đặc biệt nguồn tư liệu liên quan đến loại hình di sản “sống” là DSVH phi vật thể Đây là nguồn tài liệu rất có giá trị của đề tài
7 Đóng góp của luận văn
- Là công trình nghiên cứu khách quan, toàn diện và có hệ thống về lịch
sử văn hóa vùng đất Thiệu Nguyên, Thiệu Hóa, Thanh Hóa Luận văn cung cấp, bổ sung những tư liệu về lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất Thiệu Nguyên và bức tranh toàn cảnh về nguồn gốc lịch sử phát triển của các dòng họ lớn, công lao của một vị vua tiêu biểu trên vùng đất này Trên cơ sở
đó, làm rõ vị trí, vai trò quan trọng của vùng đất trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Thiệu Hóa nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung
- Thông qua đề tài này, chúng tôi muốn góp phần cung cấp một cái nhìn khái quát, toàn diện về các di sản văn hóa hiện nay còn hiện hữu trên vùng đất Thiệu Nguyên, từ đó hiểu rõ hơn về truyền thống văn hóa lịch sử của mảnh đất này
- Luận văn đánh giá khách quan về đóng góp của vùng đất Thiệu Nguyên trong việc bảo tồn, phát triển những giá trị văn hóa của dân tộc Qua
đó, góp phần giáo dục đạo đức, tư tưởng hướng về nguồn cội, phát huy những
Trang 20giá trị quý báu của gia đình, dòng họ và quê hương Giáo dục cho thế hệ trẻ truyền thống uống nước nhớ nguồn cũng như việc giữ gìn và bảo tồn các DSVH của địa phương
- Luận văn cũng góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu và làm giàu thêm lịch sử địa phương, trở thành nguồn lài liệu quan trọng để nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc Đây là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu, cho giáo viên giảng dạy lịch sử- văn hóa địa phương góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
- Luận văn là tài liệu cho việc hướng dẫn tham quan du lịch tại các điểm di tích lịch sử- văn hóa ở Thiệu Nguyên, góp phần quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị DSVH hiện nay
- Luận văn còn đề xuất một số biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các DSVH trên vùng đất Thiệu Nguyên, Thiệu Hóa, Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay và mai sau
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn được cấu trúc làm 3 chương:
Chương 1 Vài nét về vùng đất Thiệu Nguyên
Chương 2 Di sản văn hóa vật thể
Chương 3 Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 21Chương 1.VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT THIỆU NGUYÊN
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông
1.1.1 Vị trí địa lý
Thiệu Hóa là một huyện có vị trí địa lý thuận lợi, “là một huyện đồng bằng điển hình của châu thổ sông Chu - sông Mã” [31;tr 17] Đây là vùng đất nằm ở trung tâm của các huyện đồng bằng tỉnh Thanh Hóa, có ranh giới giáp với nhiều huyện: phía bắc giáp với huyện Yên Định, phía nam giáp với huyện Triệu Sơn, Đông Sơn và thành phố Thanh Hóa; phía tây giáp với huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn, phía đông giáp với huyện Hậu Lộc và Hoằng Hóa Vị trí đắc địa này đã tạo cho Thiệu Hóa những điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với các vùng đất khác
Ở vào vị trí trung tâm của miền đồng bằng xứ Thanh, nên địa hình của huyện cũng mang những đặc điểm chung của tỉnh và các vùng đất ở phía bắc
- đó là quy luật nghiêng dốc dần từ tây bắc đến đông nam Theo sự tính toán
đo đạc của các nhà địa chất, độ dốc từ cao đến thấp của huyện Thiệu Hóa giảm dần từ 0,28 đến 0,33m/km [31;tr 19] Mặc dù ít nhiều ảnh hưởng đến tình trạng bạc màu của đất đai, nhưng nhờ độ dốc ấy, việc xây dựng các công trình thủy lợi tưới tiêu tự chảy trên đất Thiệu Hóa có nhiều thuận lợi Vì vậy,
từ trước đến nay, Thiệu Hóa luôn là một trong số những vùng trọng điểm lúa, màu có năng suất cao ở tỉnh
Về sông ngòi, Thiệu Hóa được thiên nhiên ưu ái khi có hệ thống sông ngòi dày đặc Ngoài hai con sông lớn nhất của xứ Thanh chảy qua (sông Chu
và sông Mã), Thiệu Hóa còn có một số con sông tự nhiên khác (như sông Mậu Khê, sông cầu Chày, sông Dừa, sông nhà Lê cùng hệ thống sông đào Bái Thượng) Hệ thống sông ngòi có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Thiệu Hóa Riêng sông Chu và sông Mã, ngoài vai trò bồi đắp phù sa màu mỡ để tạo ra vùng đồng bằng châu thổ phì
Trang 22nhiêu thì hai con sông này còn là huyết mạch giao thông của huyện Thiệu Hóa và cả xứ Thanh trong suốt chiều dài lịch sử
Trên đất Thiệu Hóa có Quốc lộ 45 chạy qua, cùng hệ thống giao thông đường tỉnh, lộ và đường liên huyện, liên xã, liên thôn khắp nơi, thuận lợi cho việc đi lại trong và ngoài tỉnh một cách dễ dàng, nhanh chóng
Hiện nay, Thiệu Hóa là một đơn vị hành chính nằm trong 27 huyện, thị, thành phố của tỉnh Thanh Hóa, có 24 xã và một thị trấn (Thiệu Nguyên là một trong 24 xã của huyện) So với các huyện khác trong tỉnh, Thiệu Hóa là một huyện có quy mô thuộc loại trung bình với tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 15.991,73ha; dân số 158.343 người (năm 2019) [64] Dân số nông thôn chiếm tỉ lệ cao, sự phân bố dân cư khá đều đặn trên toàn huyện nằm dọc theo 2 bờ tả và hữu sông Chu, sông Mã, có 6 cụm kinh tế thuận tiện cho việc chỉ đạo của huyện
Như vậy, nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi, Thiệu Hóa đã sớm trở thành vùng đất có vai trò quan trọng trong chặng đường phát triển của lịch sử xứ Thanh và dân tộc Đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt” với một nền văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng phong phú và độc đáo Trong không gian chung
ấy của huyện, vùng đất Thiệu Nguyên đã trải qua quá trình phát triển của lịch
sử gian khó, để lại những dấu ấn quan trọng về truyền thống lịch sử văn hóa của Thanh Hóa nói riêng và dân tộc nói chung
Thiệu Nguyên là một xã nằm ở phía Đông của huyện Thiệu Hóa, thuộc
tả ngạn sông Chu, cách trung tâm huyện khoảng 2 km Vùng đất này có phía đông giáp với thôn Xử Nhân, xã Thiệu Duy; phía tây giáp với thị trấn Thiệu Hóa; phía bắc giáp với xã Thiệu Duy; phía nam là sông Chu giáp xã Thiệu Đô
và Tân Châu Đây là một trong những xã lớn của huyện, có điều kiện thiên nhiên thuận lợi
Như vậy về vị trí địa lý, Thiệu Nguyên là vùng đất thuộc vùng đồng bằng, mặc dù bị chia cắt, có chen lẫn núi, đồi nhưng nhìn chung có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa Đồng thời, có môi trường sinh thái
Trang 23phong phú, đa dạng giúp con người nơi đây có thể khai thác, sử dụng hiệu quả tối đa vào việc phát triển kinh tế và du lịch tại địa phương
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình của xã Thiệu Nguyên tương đối bằng phẳng, có độ dốc nhẹ
từ phía tây sang đông, độ nghiêng nhẹ từ phía nam ra phía bắc Điểm cao nhất của xã là núi Trinh Sơn, đây là núi đất đỏ ba-zan, nằm trong khu dân cư, diện tích 3.5 ha, cao 15m Với độ dốc như vậy, Thiệu Nguyên có những điều kiện
lý tưởng trong việc xây dựng hệ thống thủy nông phục vụ tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp
Về sông ngòi, xã Thiệu Nguyên có sông Chu chảy qua (còn gọi là Lương Giang - tiếng Tày, Nậm Sang - tiếng Thái, nguyên gốc là sông Sủ, người Pháp viết thành Chu) Đây là dòng sông lớn, phát tích từ cao nguyên Sầm Nưa (Lào), chảy theo hướng tây bắc - đông nam với chiều dài hơn 300
km Sông Chu là nhánh lớn nhất trong hệ thống sông Mã, đồng thời là sông lớn thứ hai của tỉnh Thanh Hóa Đoạn chảy qua huyện Thiệu Hóa có chiều dài khoảng 25 km, chảy qua Thiệu Nguyên có chiều dài 3,7 km Dòng sông Chu trở thành ranh giới tự nhiên giữa các xã Thiệu Nguyên với Thiệu Châu và Thiệu Đô, Thiệu Tân [27; tr 17] Cũng như nhiều xã ven sông khác ở huyện Thiệu Hóa, Thiệu Nguyên đã nhận được sự ban tặng của dòng sông những điều kiện thuận lợi, đó là nguồn phù sa màu mỡ, nguồn nước tưới tiêu dồi dào cho nông nghiệp, nguồn thủy sản phong phú, đường giao thông tự nhiên kết nối với các vùng đất khác… Điều đó đã góp phần tạo ra những nét đặc trưng kinh tế của vùng đất Thiệu Nguyên, đồng thời, lý giải cho sự tồn tại bền bỉ của những di sản văn hóa đặc trưng, có nhiều nét khác biệt với các vùng đất khác trong huyện, trong tỉnh
Về đất đai, Thiệu Nguyên được hình thành do quá trình bồi đắp thường xuyên bởi phù sa của hai con sông lớn nhất xứ Thanh là sông Chu và sông
Mã Bởi vậy, nơi đây có đất đai tương đối màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Đất đai của Thiệu Nguyên thuộc nhóm đất phù sa có các
Trang 24đặc tính lý, hóa tốt, phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của đa dạng các loại cây trồng Đó là điều kiện thuận lợi cơ bản cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp ở vùng đất này Tuy nhiên, mặc dù được xếp vào loại vùng cao của đồng bằng Thanh Hóa, nhưng thực tế, đồng ruộng vùng đất Thiệu Nguyên lại thuộc loại chiêm trũng Thậm chí, nơi đây còn được ví là “rốn chứa nước” của toàn bộ khu vực hữu ngạn sông Cầu Chày, nhất là vào mùa lũ lụt Vì vậy, công tác đê điều ngăn lũ lụt đã được quan tâm
từ rất sớm…Đến khoảng thế kỷ XII- XIII, các triều đại Lý - Trần đã tiến hành đắp đê, định hình cơ bản dòng chảy của các con sông ở xứ Thanh Đồng thời, cũng định hình rõ nét đồng điền, làng mạc của vùng đất này [27; tr 17]
Về khí hậu: cũng như các địa phương khác của khu vực, Thiệu Nguyên nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa hè nắng lắm, mưa nhiều và có gió tây khô nóng, mùa đông hanh, lạnh và hay có sương giá, sương muối Bên cạnh hai mùa đông- hè, khí hậu còn có mùa thu - thường hay bão lụt và mùa xuân - thường hay có mưa phùn Loại khí hậu này có đặc điểm thuận lợi là nhiệt và độ ẩm phong phú, chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu gió mùa Tổng nhiệt độ trung bình năm từ 8.500- 8.6000C Có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 200C (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) và có 5 tháng nhiệt độ trung bình trên 250C (từ tháng 5 đến tháng 9) Độ ẩm và nhiệt phong phú là điều kiện thuận lợi cho các loại cây vùng nhiệt đới phát triển; Mặt khác, với ảnh hưởng của gió mùa, nơi đây còn có mùa đông lạnh Vì vậy,
sự phong phú của cây trồng cũng là một nét đặc trưng kinh tế của Thiệu Nguyên Điều đó, không chỉ góp phần tạo ra những giá trị vật chất hiện hữu
mà là cơ sở cho sự phát triển những giá trị văn hóa đa dạng, những phẩm chất tốt đẹp của cư dân vùng đất này
Về nguồn nước, bên cạnh nguồn nước dồi dào từ dòng sông Chu, lượng mưa trung bình năm từ 1.500 - 1.900mm, riêng vụ mùa chiếm khoảng 86-88%, mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 - 10) Tuy nhiên, những tháng mùa đông nhiệt độ thường khô hanh, độ ẩm chỉ dưới 84%, còn các tháng 3, 4,
Trang 25tháng 8 và tháng 9 có độ ẩm trên 88% Sự đa dạng của thời tiết có nhiều thuận lợi nhưng cũng mang lại không ít thử thách cho cuộc sống con người Thiệu Nguyên, nhất là khi mùa mưa kéo dài đến 6 tháng, kèm theo đó là lũ lụt, ngập úng và những bất lợi khác của thời tiết
Thiệu Nguyên chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính phân bố theo mùa Gió mùa đông bắc về mùa đông và gió mùa đông nam về mùa hè có tốc
độ trung bình 1,5-18m/s Khí hậu thời tiết của xã nằm trong tiểu vùng khí hậu đồng bằng Thanh Hóa có các đặc điểm: Nền nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, sương muối ít xảy ra vào tháng 1, tháng 2, mùa hè nóng vừa phải, mưa vừa phải, gió bão chịu ảnh hưởng tương đối mạnh Đặc điểm khí hậu như vậy rất phù hợp với sản xuất nông nghiệp Mặt khác, sự đa dạng của khí hậu mùa hè nóng và mùa đông lạnh tạo sự phong phú cho các loại cây trồng của nông nghiệp Bên cạnh đó, vùng đất Thiệu Nguyên nói riêng, địa phương Thanh Hóa nói chung phải chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: bão thường đi kèm mưa to gió lớn có sức tàn phá nghiêm trọng gây thiệt hại về người và của, sự khô nóng của gió Lào, gió bấc lạnh và khô, sự thất thường của khí hậu… Những khó khăn ấy ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội của cư dân
Tóm lại, trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn về vị trí địa
lý, hệ thống sông ngòi, kết cấu địa hình, đất đai, đặc điểm khí hậu, có thể khẳng định, vùng đất Thiệu Nguyên có những đặc điểm chung trong mối quan
hệ gắn bó mật thiết với vùng đất Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa Thế mạnh của vùng đất là phát triển nền kinh tế nông nghiệp với hai nghề cơ bản là trồng trọt và chăn nuôi Sự đa dạng trong cây trồng và giống vật nuôi đã tạo nền tảng vững chắc cho Thiệu Nguyên phát triển những giá trị văn hóa truyền thống, cốt lõi, đặc sắc của cư dân nông nghiệp nhưng cũng rất đa dạng và phong phú…
Trang 261.1.3 Hệ thống giao thông
Thiệu Nguyên có hệ thống giao thông rất thuận lợi Mạng lưới giao thông đường bộ của xã được xây dựng và hình thành tương đối hợp lý, có đường ô tô tới trung tâm xã, rất thuận tiện chạy qua trung tâm xã, thị trấn, thành phố Thanh Hóa Đường vào xã, vào làng đã được đổ nhựa và bê tông, đường giao thông nông thôn đã được dải đá Hệ thống đường liên xã liên thôn được xây dựng khá hoàn thiện, hình thành mạng lưới khép kín trong toàn huyện Với hệ thống giao thông được nâng cấp, hoàn thiện, vùng đất sẽ có những điều kiện phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay
Tuy nhiên, hệ thống giao thông vận tải của Thiệu Nguyên vẫn còn một
số bất cập như: Hệ thống đường giao thông đi lại của các thôn trong xã nhỏ hẹp, quanh co; Việc bảo dưỡng và tu sửa hàng năm của các tuyến giao thông liên xã, liên huyện còn có nhiều khó khăn; mùa mưa lụt hệ thống giao thông đường thủy gây nhiều khó khăn trong việc đi lại của nhân dân…
Tóm lại, dù còn có một số khó khăn nhưng nhìn chung, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông của Thiệu Nguyên thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp phát triển Bên cạnh đó, Thiệu Nguyên lại nằm gần trung tâm huyện, có đường bộ thông thương thuận lợi với các vùng trong tỉnh và cả nước Con người Thiệu Nguyên trong suốt chiều dài lịch sử đã khai thiên, lập địa, xây ấp dựng làng, lập nghiệp, cần cù, chịu khó, giàu lòng yêu nước và giác ngộ cách mạng, đã vượt qua mọi khó khăn như hạn hán, thiên tai, bão lụt, diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm vươn lên xây dựng cuộc sống mới để
có diện mạo ngày càng đổi mới
1 2 Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Thiệu Nguyên
1.2.1 Vùng đất Thiệu Nguyên từ khi thành lập đến trước cách mạng tháng Tám
Thiệu Nguyên là vùng đất thuộc không gian văn hóa Đông Sơn Tại khu vực núi Trinh Sơn, nhân dân đã đào được một số trống đồng, thạp đồng
và nhiều hiện vật bằng đồng, bằng gốm khác [32;tr 34] Điều đó đã chứng tỏ đây là dấu tích của một làng cổ thuộc thời đại văn hóa Đông Sơn Vùng đất còn gắn liền với sự tồn tại của các nền văn hóa nguyên thủy khác từ thời đại
đá cũ đến thời đại kim khí phân bố dọc theo 2 bờ sông Chu đó là Kẻ Go, Kẻ
Trang 27Chòm (Tân Châu), Kẻ Đọ (Thiệu Khánh) nằm ở vùng hạ lưu; các làng Cổ Đô, Hồng Đô (Thiệu Đô) nằm ở vùng trung lưu
Hiện nay, vùng đất cổ Thiệu Nguyên cùng với các vùng đất khác trong khu vực vẫn còn bảo lưu được các địa danh cổ như ngõ Đò, ngõ Chợ, ngõ
Me, ngõ Chính… Đó là minh chứng cụ thể và chân thực cho chiều dài lịch sử của Thiệu Nguyên nói riêng và Thiệu Hóa nói chung
Với những điều kiện thuận lợi do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ban tặng, Thiệu Nguyên vừa “cận thị” (gần thị trấn Thiệu Hóa), vừa “cận giang” (nằm ngay mép sông Chu) Vì vậy, con người đã đến đây sinh cơ lập nghiệp
từ rất sớm Trải qua thời gian, con cháu của các bậc tiền nhân đã đến đây lập
ấp, dựng làng sinh cơ lập nghiệp, vùng đất này đón nhận lượng dân cư ngày càng đông đúc và cùng nhau chung sức xây dựng, đấu tranh bảo vệ quê hương Đó chính là cơ sở hình thành và bồi dưỡng truyền thống cần cù sáng tạo trong lao động, làm nên những nét đẹp truyền thống của cư dân vùng đất Thiệu Nguyên
Theo nhiều nguồn sử liệu, khoảng đầu thế kỷ XVI (tức là cách nay khoảng 500 năm), vùng đất Thiệu Nguyên bắt đầu được thành lập Ban đầu, các dòng họ Nguyễn, Nguyễn Lệnh, Nguyễn Viết và Tống Viết đến đây sinh cơ lập nghiệp, đặt tên là Phù Ủng Làng Phù Ủng gồm có 3 thôn: Mông
Thôn, Trung Thôn và Nổ Thôn Đến cuối thế kỷ XVI - thời Lê Trung Hưng,
được đổi thành thôn Phù Lê Cũng khoảng thời gian này, vì nhiều lý do cư dân ở Nổ Thôn đã di cư ra làng Trại (làng Cự Khánh, Thiệu Duy ngày nay) sinh sống [27; tr 32] Sau đó, với điều kiện đất đai màu mỡ, bằng phẳng nên các dòng người đến đây sinh cơ lập nghiệp ngày một đông và trở thành một vùng quê đông dân cư nhất ở thời Nguyễn với khoảng 2.500 người Điều này
đã được phản ánh trong câu ca dao quen thuộc “Đinh Phù Nguyên, điền Yên
Xá” [32; tr 508]
Theo văn bia tại chùa Vĩnh Phúc, năm 1845, dưới thời vua Thiệu Trị,
xã Phù Lê đã được đổi tên thành Lê Vy; Đến năm 1861 (đời vua Tự Đức thứ 14) đã đổi tên Phù Lê thành xã Phù Nguyên, thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Từ đó đến trước cách mạng tháng Tám năm
Trang 281945, vùng đất Thiệu Nguyên có tên là xã Phù Nguyên Trong suốt thời kỳ phong kiến, Phù Nguyên tồn tại với tư cách là một xã thuộc tổng Phùng Cầu, sau là Phùng Thịnh, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên, sau là phủ Thiệu Hóa [27; tr 32]
Như vậy, qua nhiều nguồn tài liệu, các địa danh hiện hữu chúng ta có thể khẳng định dấu tích làng cổ đã hình thành và phát triển trong nhiều thời
kỳ khác nhau ở vùng đất này Những chứng cứ văn hóa vật chất từ xa xưa còn lưu giữ đến ngày nay đã khẳng định sự có mặt của người xưa và sự tồn tại các làng cổ trên vùng đất Qua các nguồn lài liệu đã cho biết từ thời sông Chu mới được kiến tạo, con người đã chiếm lĩnh, khai phá, sinh sống tại đây, dần dần xây dựng nên làng bản, thôn xóm trù phú Trong quá trình ấy, con người Thiệu Nguyên đã sáng tạo ra những DSVH vật thể và phi vật thể vô giá, tạo nên bề dày lịch sử văn hóa và những giá trị truyền thống cốt lõi góp phần vào
sự phát triển chung của lịch sử quê hương và dân tộc
Trong quá trình hình thành làng xóm, trải qua các triều đại phong kiến, Phù Nguyên sớm hình thành một thiết chế xóm, ngõ khá bền vững Tính đến cách mạng tháng Tám 1945, Phù Nguyên hình thành 7 ngõ đó là ngõ Đò, ngõ Chợ, ngõ Me, ngõ Chính, ngõ Đình, ngõ Giữa, ngõ Giáp và 10 phe là phe Phú, phe Thượng, phe Phụng, phe Chung, phe Chính, phe Đá, phe Giữa, phe Đông, phe Hòng [32; tr 508] Đây là những địa danh cổ, quen thuộc với cách đặt tên dựa vào đặc điểm riêng của làng xã Việt Nam Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, đối với người Việt Bắc Bộ nói chung, người Việt ở vùng đất Thiệu Hóa, Thiệu Nguyên nói riêng, làng không chỉ đơn thuần là nơi sinh sống mà còn là đơn vị văn hoá, đơn vị tâm linh… Với tổ chức bền vững, đa chiều như vậy, việc đặt tên các đơn vị hành chính cũng thường gắn với nhiều
lý do, cùng một lúc có thể sử dụng nhiều cách đặt tên Tên địa danh làng (xã) thường gắn bó với tâm tư, tình cảm của mỗi con người ở mỗi vùng đất khác nhau Các “ngõ” và “phe” của Phù Nguyên cũng được đặt rất đa dạng, đa chiều - có ngõ, phe được đặt theo tên nôm nhưng cũng có ngõ, phe được đặt bằng tên Hán Việt, hoặc nửa nôm, nửa Hán Việt; Có ngõ, phe xuất phát từ nghề nghiệp (ngõ Đò, ngõ Chợ…) những cũng có thể xuất phát từ đặc điểm vị
Trang 29trí (ngõ Giữa…), hoặc một mong ước, một niềm tự hào của dân làng (phe Phú…) Mặc dù thiếu tính thống nhất trong cách đặt tên nhưng lại phản ánh những giá trị văn hóa phong phú, đa dạng, phản ánh đặc điểm ứng xử của người dân nông nghiệp mộc mạc, tình cảm, đơn thuần trong cuộc sống
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến Chế độ thực dân - phong kiến với sự áp bức, bóc lột nặng nề làm cho đời sống nhân dân điêu đứng Trong bối cảnh đó, cùng với dân tộc, nhân dân Thiệu Nguyên tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống Pháp Nhiều người con của vùng đất Thiệu Nguyên đã tích cực hưởng ứng chiếu Cần Vương, “phò vua giúp nước”
Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Thiệu Nguyên hăng hái tham gia cách mạng Với vị trí nằm sát huyện Thiệu Hóa, nơi trụ sở của chính quyền thực dân phong kiến phủ Thiệu Hóa, do vậy, việc gây dựng và phát triển phong trào cách mạng đặc biệt khó khăn, gặp nhiều thử thách Giai đoạn đầu, tuy chưa có tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo, song với tinh thần bất khuất, nhân dân Thiệu Nguyên đã chủ động tiếp thu đường lối cách mạng của Đảng, tự phát đấu tranh chống áp bức, cường quyền Đến cuối năm 1942, Phù Nguyên đã thành lập được Hội ái quốc Sau đó, tổ chức cơ sở của Mặt trận Việt Minh ở làng Phù Nguyên đã được thành lập Mặt trận hoạt động sôi nổi, tích cực khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân, tổ chức các phong trào đấu tranh chống thực dân - phát xít và tay sai, sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền khi thời cơ đến
Như vậy, có thể khẳng định, trong thời kỳ vận động cứu nước giải phóng dân tộc 1939 - 1945, nhân dân Thiệu Nguyên đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi chung của dân tộc Đó là sự nối tiếp truyền thống anh hùng cách mạng của vùng đất, cùng dân tộc làm nên thắng lợi vĩ đại cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc
1.2.2 Vùng đất Thiệu Nguyên sau cách mạng tháng Tám đến nay
Sau cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải đối diện nhiều khó khăn thử thách Đất nước bước vào thời kỳ xây
Trang 30dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân trong bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” Đảng cộng sản Đông Dương đã thể hiện rõ sự lãnh đạo tài tình trong
việc thực hiện các biện pháp chống “thù trong, giặc ngoài”, từng bước đưa
đất nước vượt qua những khó khăn, thử thách
Để củng cố và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, Đảng và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bên cạnh việc hợp lý hóa và kiện toàn bộ máy nhà nước thông qua bầu cử (tổ chức ngày 6/1/1946), còn chú ý xây dựng
hệ thống chính quyền nhân dân các cấp Trên cơ sở đó, các đơn vị hành chính địa phương cũng phải thay đổi cho phù hợp Chính phủ có chủ trương bỏ cấp tổng, thành lập cấp xã Trong bối cảnh ấy, đơn vị xã Phù Nguyên đã được sáp nhập cùng với xã Thiệu Duy, Thiệu Hợp (ngày nay) thành xã Duy Tân [26; tr 33]
Đến tháng 3 năm 1953, để thuận lợi cho việc quản lý, đồng thời, đẩy mạnh
sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội dựa trên thế mạnh của từng vùng, xã Duy Tân lại được chia tách thành các xã như ngày nay Điểm chú ý là tất cả đều lấy chữ “Thiệu” làm tên đầu cho các xã của huyện Thiệu Hóa Do vậy, tên gọi Phù Nguyên xưa đã chính thức được gọi là xã Thiệu Nguyên ngày nay
Từ 1945 đến 1977, Thiệu Nguyên thuộc huyện Thiệu Hóa Ngày 5/7/1977, theo quyết định số 177/CP của Hội đồng Chính phủ về việc điều chỉnh lại địa giới: giải thể huyện Thiệu Hóa, 15 xã tả ngạn sông Chu trước đây thuộc huyện Yên Định nay tách ra thành Thiệu Yên, 16 xã hữu ngạn sông Chu vốn nhập về huyện Đông Sơn nay lấy tên là huyện Đông Thiệu Vùng đất Thiệu Nguyên theo chủ trương này đã được sáp nhập và trở thành một xã trực thuộc huyện Thiệu Yên
Đến năm 1996, theo Nghị định số 72/CP của chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Quan Hoá, Như Xuân, Đông Sơn, Thiệu Yên thuộc tỉnh Thanh Hoá, huyện Thiệu Hóa được tái lập trên cơ sở 15 xã (thuộc huyện Thiệu Yên) và 16 xã (thuộc huyện Đông Sơn) Do vậy, xã Thiệu Nguyên vốn thuộc Thiệu Yên đã trở thành 1 trong 31 xã thuộc huyện Thiệu Hóa
Đến năm 2000, giải thể xã Thiệu Hưng để thành lập thị trấn Vạn Hà Đến năm 2012, chuyển 3 xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, Thiệu Tân về Thành
Trang 31phố Thanh Hóa Ngày 16 tháng 10 năm 2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 786/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2019) Theo đó, huyện Thiệu Hóa có 1 thị trấn và 24 xã như hiện nay Thiệu Nguyên là 1 trong 24 xã đó
Như vậy, sau nhiều thay đổi về đơn vị hành chính, từ năm 1996, Thiệu
Nguyên đã chuyển về trực thuộc sự quản lý của huyện Thiệu Hóa Hiện nay,
xã Thiệu Nguyên có 9 thôn, đó là các thôn Nguyên Tiến, Nguyên Tân, Nguyên Hưng, Nguyên Thịnh, Nguyên Sơn, Nguyên Trung, Nguyên Thành, Nguyên Lý, Nguyên Thắng
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.3.1 Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động
Cần cù và sáng tạo từ đặc điểm tính cách trong lao động đã trở thành một trong những giá trị văn hóa tinh thần, cội nguồn của những triết lý nhân sinh con người Thiệu Nguyên Truyền thống ấy là cội gốc làm nên những giá trị vật chất và phi vật chất phong phú, đa dạng, làm nên những thành công, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Truyền thống cần cù, sáng tạo được bắt nguồn trước hết từ công cuộc cải tạo, chinh phục tự nhiên để tồn tại và xây dựng xóm làng Thiệu Nguyên được biết đến là một vùng đồng bằng màu mỡ nằm bên tả ngạn sông Chu có điều kiện tự nhiên thuận lợi Trên cơ sở điều kiện tự nhiên ấy, cư dân Thiệu Nguyên sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi Nền sản xuất nông nghiệp đặc thù vốn rất nặng nhọc, vất vả quanh năm đòi hỏi con người phải có tính cần cù, chịu khó, sáng tạo Mặt khác, bên cạnh những thuận lợi, thiên nhiên cũng mang đến cho người dân vùng đất này không ít khó khăn với thiên tai, bão lũ, nắng mưa, dịch bệnh… Sống và lao động sản xuất trong điều kiện phải đối phó và thích nghi với thời tiết thất thường đã tôi luyện cho con người Thiệu Nguyên những phẩm chất tốt đẹp, trong đó có truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó
Truyền thống quý báu ấy đã góp phần tạo nên cốt cách của con người Thiệu Nguyên Càng khó khăn, gian khổ, cốt cách ấy càng được phát huy cao
Trang 32độ, được bồi đắp và tỏa sáng…Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, bên cạnh nguy cơ giặc ngoại xâm, một trong những khó khăn cả dân tộc ta phải đối diện là “giặc đói” Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 chưa khắc phục xong, thêm vào đó nạn vỡ đê ở làng Dương Hòa (Thiệu Hưng) năm 1945 làm cho mùa màng mất sạch, hàng chục vạn người chết đói Để giải quyết nạn đói lan tràn và kéo dài, thực hiện chủ trương của Việt Minh Thiệu Hóa, nhân dân xã Thiệu Nguyên thi đua vỡ đất hoang để trồng lúa ngô, khoai, không để một tấc đất hoang Với sự nỗ lực cần cù chịu thương chịu khó của nhân dân Thiệu Nguyên, phong trào tăng gia sản xuất đã thu được kết quả to lớn Sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được khôi phục và có bước phát triển hơn trước Nạn đói được đẩy lùi, đời sống của nhân dân dần dần ổn định và cải thiện một bước
Khi cả nước bước vào thời kì kháng chiến kiến quốc (1946 - 1954), nhân dân Thiệu Nguyên lại tích cực tăng gia sản xuất, cần cù sáng tạo đóng góp sức người sức của cho cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi cuối cùng
Trong thời kỳ 1954-1975, với bối cảnh đất nước bị chia cắt thành 2 miền Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kì thực hiện nhiệm
vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời, làm nghĩa vụ hậu phương cho tiền tuyến miền Nam Để thực hiện nhiệm vụ chung của miền Bắc, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Thiệu Nguyên phát huy truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, hăng hái thi đua hoàn thành xuất sắc nhiều phong trào ở địa phương Cụ thể như phong trào
“Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”, “Cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ”… sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến Với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”, nhân dân Thiệu Nguyên đã góp phần cùng cả nước giải
phóng miền Nam thống nhất đất nước
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội…Do hậu quả của chiến tranh để lại, cùng với nền sản xuất nông nghiệp, công nghiệp lạc hậu, giai đoạn 1976 - 1986 kinh tế Việt Nam suy thoái trầm trọng Trong bối cảnh trên, tinh thần cần cù, sáng tạo
Trang 33của nhân dân Thiệu Nguyên càng được phát huy cao độ Đại hội VI của Đảng (1986) đề ra đường lối đổi mới đất nước, Đảng bộ và nhân dân Thiệu Nguyên thực hiện chủ trương của Đảng, khắc phục những khó khăn vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và thu nhiều thành tựu trên tất cả các mặt Từ đó, cải thiện từng bước đời sống nhân dân
Ngày nay, phát huy truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, nhân dân Thiệu Nguyên vẫn tích cực học tập, tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, đóng góp quan trọng trong sự nghiệp CNH - HĐH của đất nước
1.3.2 Truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm
Thanh Hóa là vùng đất giàu truyền thống anh hùng cách mạng, kiên cường trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm Nhân dân vùng đất Thiệu Nguyên nói riêng, Thiệu Hóa nói chung cũng thể hiện sâu sắc truyền thống tốt đẹp ấy Trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, người dân Thiệu Nguyên đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi chung trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
Truyền thống yêu nước của nhân dân Thiệu Nguyên được hình thành ngay từ buổi đầu dựng làng, lập ấp… Làng Phù Ủng được hình thành cách ngày nay khoảng hơn 500 năm Có nghĩa, trong thời kì nhà Lê đã bước vào một cuộc khủng hoảng kéo dài (1497-1527) để nhường chỗ cho vương triều Mạc (1527-1593) Trong gần một thế kỷ sau đó, một thể chế chính trị mới được hình thành với sự tồn tại của ba chế độ chính trị: nhà Lê Sơ - 30 năm cuối (1497-1527); nhà Mạc (1527-1593) và nhà Lê - Nam triều (1533-1593) Gần 60 năm lịch sử dân tộc diễn ra cục diện Nam - Bắc triều, Thanh Hóa là chiến trường luôn diễn ra trận mạc Nhân dân Thiệu Nguyên đã tham gia vào cuộc chiến ấy bảo vệ quê hương, bảo vệ nhà Lê chống Mạc, giành lại vương triều Tiêu biểu cho sự đóng góp ấy của nhân dân Thiệu Nguyên là ông Tống Sơn đã phò tá vua Lê diệt Mạc đến tận Cao Bằng và anh dũng hy sinh vì sự nghiệp Trung Hưng nhà Lê Ông Nguyễn Quang Tiến (họ Nguyễn Viết) được phong đến chức Thượng Tướng quân [27; tr 32]
Trang 34Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của nhân dân Thiệu Nguyên đã được phát huy cao độ trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858), triều Nguyễn từng bước đầu hàng, lần lượt ký các Hiệp ước bất bình đẳng… Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến, hàng loạt phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân đã bùng nổ, thu hút đông đảo quân chúng nhân dân tham gia Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhân dân vùng đất Thiệu Nguyên đã hăng hái tham gia phong trào đấu tranh Tiêu biểu có ông Nguyễn Dụng Phan (Tú Phan) đã tham gia cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh do
cụ nghè Tống Duy Tân lãnh đạo [27; tr 32]
Phong trào Cần Vương do các văn thân sĩ phu yêu nước lãnh đạo cuối cùng bị thất bại vì không có đường lối đúng đắn và phương pháp đấu tranh phù hợp Đầu TK XX, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lãnh đạo cũng
đã được nhân dân khắp nơi hưởng ứng, trong đó có nhân dân vùng đất Thiệu Nguyên… Đến nay, nhân dân còn lưu truyền lại những câu chuyện về các ông Lý Ưa, Mai Văn Nha là các ông lý trưởng đã thẳng tay trừng trị lính lệ, cai đội phủ Thiệu Hóa Hay chuyện của bà Ấn ở ngõ Đò có hành động xem thường Tây đoan khi chúng về làng lùng sục bắt nhân dân nấu rượu…[27; tr
85 - 86]
Truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất của nhân dân Phù Nguyên
đã được phát huy cao độ trong thời kỳ có Đảng cộng sản lãnh đạo Dưới ngọn
cờ lãnh đạo của Đảng, nhân dân Thiệu Nguyên tích cực tham gia phong trào cách mạng 1930- 1931, phong trào dân chủ 1936-1939, đặc biệt là cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939- 1945 Tinh thần ấy thể hiện rõ nét qua sự kiện tháng 5 năm 1942, được sự giác ngộ của các chiến sĩ cách mạng, hơn 300 người ở Phù Nguyên đã vùng dậy đấu tranh chống lý trưởng lạm thu thuế Lúc này, cơ sở của Mặt trận Việt Minh đã phát triển khắp nơi, thực hiện tốt nhiệm vụ tập hợp quần chúng trong mặt trận dân tộc thống nhất, chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc đấu tranh giành độc lập…Đến cuối năm 1942, Phù Nguyên đã thành lập Hội ái quốc, tích cực hoạt động thực hiện nhiệm vụ
Trang 35chung của toàn dân tộc Trong quá trình hoạt động, các chiến sĩ cách mạng Thiệu Hóa đã tuyên truyền giác ngộ, các đồng chí Mai Văn Quý, Tống Viết Long, thông qua đó gây dựng phát triển cơ sở trong làng Tháng 3 năm 1945, hai đồng chí Ngô Ngọc Toản và Trần Ngọc Toản đã về Phù Nguyên tổ chức Hội ái quốc Sau đó, hai đồng chí đã thay mặt Mặt trận Việt Minh huyện thành lập Mặt trận Việt Minh làng Phù Nguyên tại nhà ông Dục [27; tr 87]
Việt Minh Phù Nguyên dưới sự chỉ đạo của Việt Minh huyện đã hoạt động tích cực, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho khởi nghĩa giành chính quyền… Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, thời cơ tổng khởi nghĩa đã chín muồi, thực hiện chỉ thị của Đảng, Việt Minh Phù Nguyên đã nổi dậy, kêu gọi nhân dân giành chính quyền Sáng ngày 19 tháng
8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa tại địa phương hoàn toàn thắng lợi
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, nhân dân Thiệu Nguyên lại tích cực tham gia, đóng góp lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong, dân công phục vụ cho kháng chiến Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Duy Tân và chính quyền các tổ chức quần chúng trong xã đã vận động nhân dân hăng hái tham gia phong trào “Thi đua ái quốc”, ra sức chi viện sức người, sức của cho kháng chiến, tham gia các chiến dịch Hòa Bình, Hà- Nam- Ninh, chiến dịch Sầm Nưa (Lào), chiến dịch Cổ Lũng, chiến dịch Điện Biên Phủ Nhân dân Thiệu Nguyên đã vượt lên mọi khó khăn gian khổ hoàn thành nhiệm vụ của cách mạng, cùng nhân dân cả nước đưa cuộc kháng chiến trường kỳ đến thắng lợi vẻ vang Điều đó thể hiện tinh thần yêu nước và cách mạng của nhân dân Thiệu Nguyên, tạo thêm sức mạnh và niềm tin để Thiệu Nguyên tiến lên trong giai đoạn mới của cách mạng
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hòa bình được lập lại ở miền Bắc Tuy nhiên, nhân dân miền Nam vẫn phải sống trong ách thống trị bạo tàn của bè lũ Mỹ ngụy Thực hiện chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng nhân dân cả nước cùng lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng là xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất
Tổ quốc Cùng với nhân dân miền Bắc, Thanh Hóa nhanh chóng thực hiện công cuộc hàn gắn hậu quả tàn phá của chiến tranh, khôi phục và phát triển
Trang 36sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, chi viện cho miền Nam chống Mĩ Nhân dân Thiệu Nguyên đã chắt chiu từng củ khoai, hạt lúa, thậm chí từng nhánh lúa chưa kịp vàng bông chi viện cho tiền tuyến, hàng trăm lượt người tay thồ, vai gánh tiếp vận cho mặt trận để cùng cả nước kháng chiến
Khi giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, nhân dân Thanh Hóa, Thiệu Hóa nói chung và nhân dân Thiệu Nguyên nói riêng đã bước vào cuộc sống lao động, sản xuất và sẵn sàng chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng với tinh thần cao quý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Người người, nhà nhà, làng xã, đều bước vào cuộc chiến với ý chí ngoan cường, quyết tâm sắt đá
Thiệu Hóa tuy không phải là trọng điểm đánh phá của địch, nhưng nhân dân luôn có tinh thần sẵn sàng chiến đấu, phục vụ chiến đấu, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chi viện sức người sức của cho tiền tuyến Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền xã, công tác đảm bảo giao thông vận tải liên tỉnh, liên huyện được thông suốt, bảo vệ tốt cơ sở hậu cần cũng như các tuyến đường liên thôn, liên xã Dân quân, thanh niên xung kích của Thiệu Nguyên luôn sẵn sàng phục vụ chiến đấu theo yêu cầu của huyện, tỉnh, bảo vệ các tuyến đường hành quân của bộ đội qua cầu Vạn Hà, cầu Phao Vồm… Quần chúng nhân dân với các tổ chức Hội mẹ chiến sĩ, Hội phụ nữ… luôn động viên, thăm hỏi, tặng quà các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn… Đoàn thanh niên tích cực tham gia công tác bốc vác đạn dược cho bộ đội trong những năm chống chiến tranh phá hoại của Mỹ [27; tr 159]
Từ năm 1973 - 1975, lực lượng dân quân phát triển thành các trung đội
có hàng trăm dân quân nam nữ thường xuyên luyện tập, sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến [27; tr 160]
Những nghĩa vụ đóng góp phục vụ cho nhu cầu của chiến đấu về lương thực, thực phẩm về huy động lực lượng làm công tác phục vụ cũng như trực tiếp chiến đấu trên các chiến trường luôn được nhân dân Thiệu Nguyên thực hiện tốt với khẩu hiệu “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”
Trang 37Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, giang sơn thu về một mối, trong chiến công chung của cả dân tộc, nhân dân Thiệu Nguyên có một phần công sức của mình
Tóm lại, trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhân dân vùng đất Thiệu Nguyên đã có những đóng góp to lớn, góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của quê hương và dân tộc Những đóng góp ấy là minh chứng sinh động cho truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân Thiệu Nguyên, trở thành cơ sở, cội gốc của những giá trị vật chất và tinh thần hiện hữu ở vùng đất
1.3.3 Truyền thống uống nước nhớ nguồn
Vốn là một vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, có cư dân đến khai đất, lập làng từ rất sớm, vì vậy, Thiệu Nguyên thể hiện sâu sắc truyền thống
“uống nước nhớ nguồn” Truyền thống ấy là một trong những cơ sở quan trọng cho việc hình thành, lưu giữ các giá trị DSVH đặc sắc của vùng đất
Cũng như mọi người dân Việt Nam trên các vùng miền khác của đất nước, người Thiệu Nguyên duy trì bền vững phong tục thờ cúng tổ tiên, thờ những người có công với quê hương đất nước Đó chính là biểu hiện sâu sắc của truyền thống “uống nước nhớ nguồn” Trong mỗi gia đình, bàn thờ được đặt ở vị trí trang trọng nhất, là nơi con cháu thể hiện lòng biết ơn và mong muốn được gia tiên phù hộ Qua đó mà tình yêu thương quê hương, đất nước
và con người cứ luôn luôn được tích tụ thẳm sâu và bùng lên mạnh mẽ, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược Dù điều kiện cơ sở vật chất và kết cấu nhà ở mỗi gia đình có những đặc điểm khác nhau nhưng bàn thờ gia tiên trong mỗi gia đình luôn là nơi thành kính nhất Bởi vì làng xóm, quê hương, đất nước cứ đời này qua đời khác đều thấm đẫm mồ hôi công sức, biết bao máu xương đã đổ
ra của ông bà, cha mẹ, tổ tiên trong quá trình dựng nước và giữ nước để có được con người và quê hương, đất nước ngày nay Chính vì vậy mà các thế hệ sau luôn biết ơn và làm hết sức mình để tỏ lòng thành kính, hiếu thảo và đền đáp công ơn dưỡng dục sinh thành của các thế hệ trước Hằng tháng vào những ngày rằm, mồng Một hoặc những ngày lễ tết, giỗ chạp trong năm…con cháu trong gia đình thường thắp hương và dâng lễ tưởng nhớ đến tổ tiên, đến
Trang 38cha ông… những người đã sinh ra và nuôi dưỡng các thế hệ Thực hiện phong tục thờ cúng tổ tiên, nhất là vào ngày giỗ hàng năm, làm cho tình yêu thương quê hương, đất nước con người của các thế hệ người Việt thường xuyên được nhắc lại, được củng cố và phát triển Đây chính là yếu tố quyết định làm cho người Thiệu Nguyên không mất gốc dù có phải lưu lạc quê người Trên cơ sở
đó mà người Thiệu Nguyên thường xuyên bồi dưỡng, phát huy ý chí quyết tâm gìn giữ, phát triển tất cả những gì mà tổ tiên đã tạo dựng đồng thời quyết tâm xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh hơn để xứng đáng với các bậc tiền nhân Từ đó tạo nên truyền thống tốt đẹp lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Nét đẹp trong văn hóa tín ngưỡng và phong tục tập quán ấy được kế thừa, hình thành từ buổi bình minh dựng làng, lập ấp; duy trì suốt bao thế hệ trở thành dòng chảy “uống nước, nhớ nguồn”, luôn biết ơn những người đã có công sinh dưỡng của những người con trên vùng đất Thiệu Nguyên nói riêng, đất nước Việt Nam nói chung
Bên cạnh thờ cúng tổ tiên, cư dân vùng đất Thiệu Nguyên còn thờ những người có công với quê hương đất nước Trong hệ thống DSVH vật thể tại vùng đất Thiệu Nguyên, chúng ta nhận thấy hình tượng các anh hùng dân tộc đã được hóa thân trở thành đối tượng thờ tự trong chùa - đó là Đức Thánh Ông, Đức Thánh Trần tại chùa Vĩnh Phúc điều đó thể hiện truyền thống đạo
lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”; Đó là khu Lăng mộ
của Hoàng đế Lê Ý Tông - Với 6 năm cầm quyền, mặc dù vẫn luôn bị phủ chúa (Trịnh Giang, sau đó là Trịnh Doanh) khống chế nhưng vị vua trẻ tuổi
Lê Ý Tông luôn nỗ lực tìm mọi cách để khôi phục lại địa vị của triều Lê, chú
ý phát triển các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục khoa cử; Đó là nhà thờ tiến sĩ Nguyễn Lệnh Tân đã trở thành di sản văn hóa của vùng đất, thể hiện sự thành kính không chỉ của con cháu trong dòng họ Nguyễn Lệnh mà còn của nhân dân trong vùng Đó chính là biểu hiện lòng biết ơn của nhân dân đối với những người có công với quê hương, đất nước
Trang 391.3.4 Truyền thống hiếu học
Nhìn lại những chặng đường lịch sử, Thiệu Nguyên cũng như bao địa
phương khác trong huyện, truyền thống hiếu học vẫn là đặc điểm nổi bật trong từng làng xã, dòng họ và từng gia đình của người dân nơi đây Những tấm gương học sinh hiếu học, gia đình khuyến học, dòng họ khuyến học qua các giai đoạn khó có thể kể hết Truyền thống hiếu học từ xưa đến nay được nhân dân Thiệu Hóa giữ gìn và phát huy
Dưới thời phong kiến, việc học hành, thi cử của nhân dân Phù Nguyên hết sức khó khăn Việc học chỉ dành riêng cho con cái nhà khá giả, con cái nhà nghèo không thể đi học Điều đó có tính phổ biến đối với mọi làng quê nói chung, riêng Phù Nguyên càng rõ nét hơn, bởi điều kiện cuộc sống rất khó khăn, khi con người phải vật lộn với thiên nhiên để lo từng miếng cơm manh áo
Đến thời Nguyễn trở đi, việc học hành ở Phù Nguyên bắt đầu có sự phát triển Ở trong làng có văn chỉ của các làng Văn, võ chỉ của các làng Võ
và trong hương ước của làng đều có điều khoản quy định khuyến khích việc học hành Ai học hành đỗ đạt được vinh dự ngồi chiếu Nhất ở đình làng, ngang với các vị tiên chỉ, thứ chỉ trong làng, ai đang theo học là những nho sinh thì gọi là thầy nhiêu học, được miễn phu phen tạp dịch Đó là những ưu
ái rất lớn để khuyến khích sự học
Lịch sử khoa bảng của Thiệu Nguyên còn lưu danh những tấm gương sáng ngời về ý chí và tinh thần học hỏi của dòng họ Nguyễn Lệnh, 3 đời nối tiếp nhau làm quan cho triều đình Đặc biệt cụ quan nghè nổi tiếng Nguyễn Lệnh Tân, 25 tuổi đỗ sinh đồ đạt loại ưu, 28 tuổi đỗ hương cống và năm 38 tuổi đỗ tiến sĩ (được ghi danh ở bia Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, số bia 76) giữ nhiều chức vụ cao trong triều đình
Truyền thống hiếu học ấy đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ từ thời xưa và đang được những người con Thiệu Nguyên gìn giữ và phát huy Điều này thể hiện qua sự cầu tiến, luôn cố gắng mở rộng kiến thức của bản thân, sẵn sàng tiếp thu cái mới để cải tiến cái cũ của mỗi người dân Thiệu Nguyên Sự hiếu học, tinh thần ham học hỏi của người dân Thiệu Nguyên còn được biểu hiện ở thái độ coi trọng việc học và người có học, tôn trọng thầy
Trang 40cô, kính trọng họ như cha mẹ của mình “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “Không thày đố mày làm nên” Cùng với tiến trình lịch sử dân tộc, dòng chảy của truyền thống hiếu học ấy đã được các thế hệ người Thiệu Nguyên hôm nay tiếp tục phát huy và tỏa sáng Đó là những tấm gương vượt khó, học giỏi từ những nếp nhà trong gia đình tất cả con cháu đều chăm học và thành đạt Vì vậy, số lớp của mỗi cấp học, chất lượng giáo dục Thiệu Nguyên ngày càng được nâng cao, các cấp học đều có học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi Tỉ lệ học sinh đậu Đại học Cao đẳng qua các năm không ngừng tăng lên Hội khuyến học không chỉ có ở cấp xã mà còn có ở cấp thôn, một
số dòng họ đã lập quỹ khuyến học Vì vậy phong trào khuyến học, khuyến tài ở xã phát triển mạnh Nhiều người Thiệu Nguyên đã đạt được các giải thưởng lớn về học thuật, văn hóa, cùng với các phát minh, sáng chế và công trình nghiên cứu phục vụ cho lao động sản xuất Tài năng của mỗi cá nhân được tỏa sáng, góp phần xây dựng quê hương Thiệu Nguyên ngày càng giàu đẹp, văn minh
tụ cư lâu dài Trải qua các thời kỳ lịch sử, cộng đồng cư dân thuộc các dòng
họ ở đây đã đoàn kết, cùng nhau phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp và hun đúc nên những truyền thống tốt đẹp
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và dân cư đã có tác động đến phương thức sản xuất trồng trọt và chăn nuôi ở đây, nhất là nghề trồng lúa nước Đây là yếu tố quyết định tạo nên nét đặc trưng văn hóa của con người Thiệu Nguyên
Theo sự biến đổi về thời gian, tên gọi và về quy mô địa giới, cơ cấu bộ máy hành chính có sự thay đổi Từ các tên gọi là Phù Ủng, Phù Lê (thời Lê