BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC PHIMMAVONG CHANHXAY LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT TÂN CHÂU, HUYỆN THIỆU HÓA, TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM THANH HÓ[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
THANH HÓA, NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
THANH HÓA, NĂM 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 3Danh sách Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ khoa học
(theo Quyết định số 841/QĐ-ĐHHĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2021
của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức)
Học hàm, học vị, Họ và tên Cơ quan Công tác Chức danh
trong Hội đồng
PGS.TS Mai Văn Tùng Trường ĐH Hồng Đức Chủ tịch
TS Lê Ngọc Tạo Ban NC & BS Lịch sử Phản biện 1
TS Nguyễn Thị Thu Hà Trường ĐH Hồng Đức Phản biện 2 PGS.TS Hoàng Thanh Hải Hội KH Lịch sử Thanh Hóa Ủy viên
Học viên đã chỉnh sửa theo ý kiến của Hội đồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
PHIMMAVONG CHANHXAY
Trang 5
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khoa học xã hội, đặc biệt bộ môn Lịch sử - Trường Đại học Hồng Đức
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ phòng Văn hoá huyện Thiệu Hóa, cán bộ xã Tân Châu, Phòng quản lý di sản văn hóa thuộc sở Văn hoá thể thao
và du lịch tỉnh Thanh Hóa, Trung tâm bảo tồn Di sản văn hóa Thanh Hóa, Phòng Địa chí thư viện tỉnh Thanh Hóa, Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử tỉnh Thanh Hóa; Các cán bộ lão thành trông coi di tích đã cung cấp thông tin,
tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình
và bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ về tinh thần, vật chất để tôi có thể hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình
Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu nhưng chắc chắn Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy, tác giả rất mong nhận được
sự đóng góp ý kiến của các quý thầy cô, đồng nghiệp và các bạn!
Thanh Hóa, tháng 5 năm 2021
Tác giả
PHIMMAVONG CHANHXAY
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Các nguồn tài liệu 8
7 Đóng góp của luận văn 9
8 Bố cục luận văn 10
CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ VÙNG ĐẤT TÂN CHÂU 11
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông 11
1.1.1 Vị trí địa lý 11
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 13
1.1.3 Hệ thống giao thông 14
1.2 Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Tân Châu 15
1.2.1 Nguồn gốc dân cư và sự hình thành làng xã 15
1.2.2 Vùng đất Tân Châu thời phong kiến độc lập đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 18
1.2.3 Vùng đất Tân Châu từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay 20
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa 21
1.3.1 Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động 21
1.3.2 Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm 23
1.3.3 Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” 25
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2 DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 28
2.1 Di chỉ Núi Đọ 28
Trang 72.2 Đình làng 30
2.2.1 Đình làng Go (đình làng Yên Tân) 30
2.2.2 Đình Thọ Sơn (đình làng Núi) 32
2.2.3 Đình làng Phú Văn 41
2.2.4 Đình làng Đắc Châu 44
2.3 Di tích cách mạng - hầm làm việc của đồng chí Ngô Thuyền và Trịnh Tố Phan 49
2.3.1 Bối cảnh ra đời 49
2.3.2 Nhân vật lịch sử liên quan đến di tích 52
2.3.3 Thời gian và vị trí xây dựng hầm 56
2.3.4 Cấu trúc căn hầm 58
2.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản 61
2.4.1 Giá trị lịch sử - văn hóa 61
2.4.2 Thực trạng 64
2.4.3 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 66
Tiểu kết chương 2 68
CHƯƠNG 3 DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 70
3.1 Lễ hội truyền thống 70
3.1.1 Lễ hội đình làng Go 70
3.1.2 Lễ hội đình làng Thọ Sơn 74
3.1.3 Lễ hội đình làng Phú Văn 77
3.1.4 Lễ hội đình làng Đắc Châu 78
3.2 Nghề làm bánh đa truyền thống 83
3.2.1 Sự hình thành làng nghề 83
3.2.2 Quy trình sản xuất 84
3.2.3 Đặc điểm sản phẩm 87
3.3 Ngữ văn dân gian 88
3.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị 92
3.4.1 Thực trạng 92
Trang 83.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị 94
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC P1
Trang 9QĐNDVN Quân đội nhân dân Việt Nam
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tân Châu là một xã thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, vốn được hợp thành từ hai xã Thiệu Tân và Thiệu Châu Vùng đất này có vị trí đắc địa, nằm bên hữu ngạn sông Chu, dọc theo núi Đọ, phía đông giáp thành phố Thanh Hóa, phía tây giáp với thị trấn Thiệu Hóa và xã Thiệu Nguyên, phía nam giáp với huyện Đông Sơn và xã Thiệu Giao, phía bắc giáp với xã Thiệu
Duy và xã Thiệu Hợp
Đây là một vùng đất cổ, có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời Bởi vậy, nơi đây lưu giữ hệ thống di sản văn hóa phong phú, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Di chỉ Núi Đọ đã khẳng định sự tồn tại của một nền văn hóa thuộc thời đại đồ đá cũ sơ kỳ trên đất nước Việt Nam; Hệ thống đình miếu, chùa chiền, nghè cũng rất phong phú Gắn liền với các di sản văn hóa vật thể là những di sản văn hoá phi vật thể do nhân dân lao động sáng tạo
ra như những sự tích, truyền thuyết, tín ngưỡng, tôn giáo, các lễ tục, lễ hội, trò
chơi, trò diễn có liên quan
Tân Châu còn là vùng đất có truyền thống cách mạng quật cường Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, vùng đất Tân Châu nói chung, núi Go nói riêng vốn là địa bàn quan trọng cho các cuộc “tụ nghĩa dấy binh” của các nghĩa quân và sĩ phu yêu nước Khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Tân Châu nhanh chóng trở thành địa bàn hoạt động, căn cứ địa an toàn, cơ sở cách mạng quan trọng của địa phương được Đảng xây dựng Các thôn làng, đồi núi, đình, chùa, nghè, miếu trên địa bàn xã chính là nơi hoạt động và phát triển của các cơ sở cách mạng, nơi tổ chức vận động các phong trào đấu tranh Với ý chí kiên cường, truyền thống yêu nước và niềm tin tuyệt đối đối với Đảng, nhân dân Tân Châu sẵn sàng hy sinh, đứng lên đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Bởi vậy, nơi đây chứa đựng nhiều di tích cách mạng, như hầm làm việc của đồng chí Ngô
Trang 11Thuyền - Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 1963 - 1969, hầm làm việc của đồng chí
Trịnh Tố Phan - nguyên Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Thanh Hóa
Tân Châu còn là vùng đất có truyền thống lao động sáng tạo Với vị trí nằm bên hữu ngạn sông Chu, nơi này có những điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp Bên cạnh đó, nghề thủ công truyền thống cũng góp phần quan trọng tạo nên sự phong phú của hệ thống di sản văn hóa phi vật thể Nhiều nghề hiện nay vẫn còn lưu truyền tại địa phương chính là minh chứng
cho sự đặc sắc và sức sống bền bỉ của loại hình di sản văn hóa này
Như vậy, có thể khẳng định, vùng đất Tân Châu với bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng đã hội tụ nhiều di sản văn hóa phản ánh những nét đặc trưng văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời, có những nét riêng đặc sắc Vì vậy, nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần làm rõ các giá trị của hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, từ đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá
trị di sản phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
Thực tế, có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu đề cập đến lịch sử văn hóa của vùng đất Tân Châu dưới các góc độ các chuyên ngành khác nhau Tuy nhiên, dưới góc độ chuyên ngành lịch sử Việt Nam thì đến nay vẫn còn hạn chế Chính vì vậy, luận văn này s là sự bổ sung có ý nghĩa cho hướng nghiên cứu còn chưa đầy đủ, hệ thống này không chỉ góp phần làm sáng rõ những mảng còn thiếu khuyết về lịch sử văn hóa địa phương mà còn là sự bổ
sung cần thiết cho lịch sử dân tộc
Vì những lý do khoa học và thực tiễn như trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề
tài “Lịch sử văn hóa vùng đất Tân Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa”
làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu lịch sử văn hóa một vùng đất không phải là vấn đề mới mẻ nhưng luôn là một đề tài hấp dẫn đối với các học giả trong và ngoài nước Đây chính là cơ hội để mỗi vùng đất đánh thức các giá trị lịch sử văn hóa của mình
Trang 12Tân Châu (huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa) là vùng đất cổ nên đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những khía cạnh, phương diện khác nhau Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau:
Vùng đất Tân Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã được các học giả Pháp quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Tiêu biểu như tiến sĩ Charles
Robequain - cựu Hội viên trường Viễn Đông Bác Cổ trong tác phẩm La
Thanh Hóa (Tỉnh Thanh Hóa) [51] đã khảo cứu sâu về vùng đất và con người
xứ Thanh, trong đó có đề cập đến con người và quá trình hình thành các làng
cổ xứ Thanh
Năm 1984, Viện khảo cổ học đã xuất bản cuốn Những phát hiện mới về
khảo cổ học năm 1981 (in tại xí nghiệp in Ba Đình, Thanh Hóa) với tập hợp
các bài viết là kết quả của quá trình nghiên cứu những phát hiện khảo cổ học
năm 1981 Trong công trình, bài viết “Phát hiện khảo cổ học tại Thanh Hóa”
của tác giả Quàng Văn Cậy đã giới thiệu một số di tích thuộc thời đại đồ đá
cũ, trong đó có các hiện vật thuộc thời đại Núi Đọ [20; tr 16-17]
Cuốn Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1982 do Viện khảo cổ
học chịu trách nhiệm xuất bản năm 1983 (in tại xí nghiệp in Hải Hưng) có bài
viết “Về loại hình “công cụ hình rìu” trong những bộ sưu tập ở Đọ (Thanh
Hóa)” của tác giả Quàng Văn Cậy đã giới thiệu hiện vật tiêu biểu tại di chỉ
khảo cổ học Núi Đọ [21; tr 17-18] Những phát hiện trên đã cung cấp tư liệu quý báu cho hướng nghiên cứu đề tài luận văn của chúng tôi
Cuốn Địa chí Thanh Hóa, Tập I (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2000) giới thiệu tổng quát về Địa lý và Lịch sử của Thanh Hóa Trong công trình, ở phần Lịch sử Thanh Hóa, các nhà nghiên cứu đã dành Chương I giới
thiệu về thời đại đồ đá cũ Di chỉ khảo cổ Núi Đọ đã được giới thiệu với những nét khái quát [53; tr 519-521]
Địa chí Thanh Hóa, Tập II (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội,
2004) cũng là công trình quan trọng phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài Công trình đã trình bày một cách hệ thống diện mạo văn hoá xứ Thanh, trong
Trang 13đó, giới thiệu cụ thể một số thành tựu văn hoá vật thể và phi vật thể tiêu biểu tại các địa phương ở Thanh Hóa [54]
Địa chí Thanh Hóa, Tập III [55] đã giới thiệu khái quát về thiên nhiên,
con người, lịch sử, đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa của các địa phương tỉnh Thanh Hóa, trong đó có huyện Thiệu Hóa Công trình là cơ sở tài liệu giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh khi tìm hiểu về vùng đất Tân Châu đặt trong cái nhìn tổng thể với huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa Đồng thời, tài liệu
đã cung cấp những thông tin hữu ích về các làng Việt cổ, hệ thống DSVH tại địa phương Thanh Hóa, trong đó có những DSVH còn hiện hữu ở vùng đất
Tân Châu
Cũng viết về vấn đề trên, trong cuốn Tên làng xã Thanh Hóa (Tập 1)
[6] của Ban nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa đã giới thiệu khái quát về quá trình hình thành và tên làng xã thuộc huyện Thiệu Hóa Nội dung cuốn sách phác họa đôi nét về lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Tân Châu trong lịch sử địa phương - dân tộc
Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Thiệu Hóa (Nxb Chính trị quốc gia,
2000) do là công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vùng đất Tân Châu Mặc dù nội dung viết khái lược, tập trung lịch sử Đảng bộ trong phạm vi huyện Thiệu Hóa nhưng đây là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả đi sâu nội dung nghiên cứu đề tài Trong công trình, vùng đất Thiệu Hóa xưa và nay đã giới thiệu khái quát, xã Tân Châu cũng được đề cập [29] Tuy nhiên đây là cuốn sách viết về lịch sử Đảng bộ huyện, nội dung chủ yếu là truyền thống cách mạng huyện Thiệu Hóa nên lịch sử văn hóa vùng đất Tân Châu chưa được các tác giả quan tâm chú ý
Cuốn Những người con ưu tú của quê hương Thiệu Hóa (Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội, 2006) do Tạ Quang biên soạn đã giới thiệu những tấm gương sáng, những “tài sản tinh thần vô giá, một trong những nhân tố quan trọng làm nên sức mạnh nội lực, mãi mãi là hành trang của các thế hệ người Thiệu Hóa mang theo” [47; tr6] Cuốn sách đã giới thiệu khái quát thân thế, sự nghiệp
Trang 14của đồng chí Ngô Thuyền và căn hầm cách mạng mang tên ông tại núi Đồng Chài thuộc địa phận hai xã Tân Châu và Thiệu Đô, huyện Thiệu Hóa [47; tr142-150] Tài liệu là cơ cở quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu về các di tích cách mạng tại vùng đất Tân Châu trong quá trình nghiên cứu luận văn
Trong cuốn Những thắng tích của Thiệu Hóa (Nxb Thanh Hóa, 2010)
do nhà nghiên cứu Tạ Quang biên soạn, những thắng tích tiêu biểu của vùng
đất Thiệu Hóa đã được giới thiệu Bài viết Núi Đọ Làng Trần - Làng Đọ đã
giới thiệu khái quát những phát hiện khảo cổ tại di chỉ văn hóa này, đồng thời, một số giai thoại, bài ca dao về các địa danh liên quan cũng được đề cập [46, tr.14-20] Bài viết là tài liệu tham khảo quan trọng cho phần nghiên cứu về hệ thống di sản văn hóa tại vùng đất Thiệu Châu trong đề tài của chúng tôi
Cuốn Những chiến sĩ cách mạng trung kiên tỉnh Thanh Hóa, Tập I
(Nxb Thanh Hóa, 2010) do Thu Hà - Mạnh Hùng - Lưu Đức Hạnh tổ chức biên soạn cũng có bài giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của đồng chí Ngô Thuyền Tác giả Nguyễn Thiện Phùng đã giúp chúng tôi hiểu thêm về những đóng góp của nhà cách mạng ưu tú đối với quê hương Thanh Hóa Đồng thời, bài viết là cơ sở giúp chúng tôi tìm hiểu về di sản văn hóa gắn liền với quá trình đấu tranh cách mạng của vùng đất Thiệu Hóa nói chung, vùng đất Tân
Châu nói riêng
Năm 2010, Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện
Thiệu Hóa chịu trách nhiệm xuất bản cuốn Địa chí huyện Thiệu Hóa (Nxb
Khoa học xã hội Hà Nội, 2010) Công trình “mang tính bách khoa về các lĩnh vực địa lý, hành chính, lịch sử, kinh tế, văn hóa - xã hội và con người Thiệu
Hóa trong quá khứ cũng như trong hiện tại” (30; tr15) Chương 5 - phần Văn
hóa- xã hội - công trình đã hệ thống hóa danh mục các di tích lịch sử văn hóa
của huyện Thiệu Hóa nói chung, vùng đất Tân Châu nói riêng Nội dung công trình giành một phần giới thiệu khái quát về các di tích lịch sử văn hóa của huyện Một số di tích của vùng đất Tân Châu đã được đề cập đến ở những góc
độ khác nhau Ví dụ, di chỉ khảo cổ Núi Đọ đã được giới thiệu với tư cách là
Trang 15di tích tiêu biểu cấp quốc gia [30; tr 830-845] Tuy nhiên, nội dung lịch sử các làng xã ở Tân Châu còn ở mức độ chung chung, chưa nêu bật quá trình hình
thành, lịch sử tồn tại và giá trị của các di tích trên vùng đất này
Cuốn Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Thiệu Châu (Nxb
Văn hóa thông tin, 2011) do Ban chấp hành Đảng bộ xã Thiệu Châu tổ chức biên soạn đã giới thiệu khái quát về vùng đất trên nhiều phương diện như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - xã hội; quá trình hình thành, phát triển của làng
xã, truyền thống lịch sử văn hóa; vai trò của nhân dân xã Thiệu Châu trong cách mạng tháng Tám, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và chống đế quốc Mỹ (1954-1975), trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội Trong đó, Chương I của công trình đã đề cập trực tiếp đến
vùng đất, con người và truyền thống lịch sử văn hóa là cơ sở tài liệu quan
trọng để chúng tôi tiếp cận khi nghiên cứu đề tài [31; tr 11-40]
Cuốn Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Thiệu Tân (Nxb
Thanh Hóa, 2013) do Ban chấp hành Đảng bộ xã Thiệu Tân tổ chức biên soạn
cũng đã dành 7 trang của Chương I giới thiệu về vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa của xã Tuy ở mức độ còn sơ lược nhưng đây cũng là tài liệu quan trọng giúp chúng tôi làm rõ nhiều nội dung khi
nghiên cứu về vùng đất cổ Tân Châu [32; tr 11-17 ]
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vùng đất Tân Châu nhưng vẫn chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất này Tuy nhiên, ở mỗi công trình nghiên cứu các tác giả mới chỉ nêu lên khía cạnh mà mình tiếp cận và quan tâm Tân Châu là vùng đất cổ, với cách nhìn sâu sắc và toàn diện về lịch sử
văn hóa, đề tài tiếp tục nghiên cứu các vấn đề sau:
- Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử hình thành vùng đất
Tân Châu
- Quá trình phát sinh, phát triển và giá trị của các di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể ở Tân Châu
Trang 16- Trên cơ sở đó đánh giá thực trạng các loại hình di sản văn hóa trên vùng đất Tân Châu, đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lịch sử, văn hóa vùng đất Tân Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa bao gồm lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất, các giá trị lịch sử văn hóa vật thể và phi vật thể; Khi nghiên cứu, chúng tôi đặt lịch sử, văn hóa vùng đất Tân Châu trong mối quan hệ với huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa và trong quá trình xây dựng, bảo tồn và
phát triển những giá trị văn hóa chung của dân tộc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu 3 nội dung cơ bản là: Qúa trình hình thành, phát triển; Di sản văn hóa vật thể; Di sản văn hóa phi vật thể của vùng đất Tân Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Không gian của đề tài được giới hạn là: vùng đất Tân Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa (vốn là không gian của 2 xã Thiệu Tân và Thiệu Châu trước đây)
- Thời gian nghiên cứu của đề tài là từ khi hình thành vùng đất đến nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vùng đất Tân Châu Từ đó, đánh giá thực trạng di sản văn hóa trên vùng đất này để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn nhằm giải quyết các vấn đề sau:
Trang 17- Từ những tư liệu, lịch sử tổng quan về vùng đất Tân Châu có thể nhận thức và xác định vị trí và vị thế của vùng đất này trong dòng chảy lịch sử -văn
hóa dân tộc
- Hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn hiện hữu trên vùng đất Tân Châu để tái hiện lại vùng đất cổ và có cái nhìn sâu sắc hơn về
những giá trị văn hóa của vùng đất này
- Nghiên cứu về lịch sử văn hóa vùng đất này, tìm ra những đặc điểm riêng trong lịch sử hình thành của vùng đất Tân Châu so với các vùng đất
khác ở xứ Thanh nói riêng và cả nước nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
- Tác giả sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạch đó, các phương pháp khu vực học, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học đã được vận dụng để tìm mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử, nhằm nêu bật những nội dung cốt lõi, bản chất của sự vật và hiện
tượng lịch sử
- Phương pháp phân tích, tổng hợp để khái quát được lịch sử văn hóa
vùng đất Tân Châu, Thiệu Hóa, Thanh Hóa
- Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, điều tra điền dã nhằm đảm
bảo tính trung thực, khách quan trong nghiên cứu lịch sử
6 Các nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, chúng tôi dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Tài liệu thành văn bao gồm các bộ sử gốc như Đại Việt sử kí toàn thư,
Lịch triều hiến chương loại chí, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến nay ;
Gia phả các dòng họ trên vùng đất Tân Châu; Hồ sơ khoa học về lý lịch các di tích lịch sử và di tích cách mạng ở đây như: Đình làng Đắc Châu, đình làng Thọ Sơn, Hầm làm việc của đồng chí Ngô Thuyền và Hầm làm việc của đồng chí Trịnh Tố Phan…
- Tài liệu vật chất là các di vật lịch sử trong các đình đền, văn bia, lăng
Trang 187 Đóng góp của luận văn
- Là công trình nghiên cứu khách quan, toàn diện và có hệ thống về lịch
sử văn hóa vùng đất Tân Châu, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, luận văn cung cấp, bổ sung những tư liệu về lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất Tân Châu và bức tranh toàn cảnh về nguồn gốc, lịch sử phát triển của các dòng họ lớn, công lao một số danh nhân tiêu biểu trên vùng đất này Trên cơ
sở đó, làm rõ vị trí, vai trò quan trọng của vùng đất trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa nói chung
- Luận văn đã đánh giá khách quan về đóng góp của vùng đất Tân Châu trong việc bảo tồn, phát triển những giá trị văn hóa của dân tộc Qua đó, góp phần giáo dục đạo đức, tư tưởng hướng về nguồn cội, phát huy những giá trị quý báu của gia đình, dòng họ và quê hương
- Luận văn cũng góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu và làm giàu thêm lịch sử địa phương, trở thành nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc Đây là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu, cho giáo viên giảng dạy lịch sử - văn hóa địa phương góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
- Luận văn còn là tài liệu cho việc hướng dẫn tham quan du lịch tại các
Trang 19điểm di tích lịch sử - văn hóa ở Tân Châu, góp phần quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị DSVH hiện nay
8 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
Nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Vài nét về vùng đất Tân Châu
Chương 2 Di sản văn hóa vật thể
Chương 3 Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 20xứ Thanh” [30; tr17]
Thiệu Hóa có địa hình tương đối bằng phẳng, không quá phức tạp, đại
đa số các xã đều là đồng bằng, ít hoặc không có đồi núi Tổng thể địa hình nghiêng dần từ tây bắc xuống đông nam Độ dốc từ cao đến thấp của huyện giảm dần từ 0,28 đến 0,33m/km [30; tr19] Đó là điều kiện thuận lợi để xây dựng các công trình tưới tiêu tự chảy trên đất Thiệu Hóa phục vụ việc phát triển nông nghiệp Nhìn chung, địa hình tổng thể thuộc dạng đồng bằng do chênh lệnh cao của các vùng canh tác không lớn, thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh tập trung có diện tích tương đối lớn Đây là cơ sở
tự nhiên lý giải việc Thiệu Hóa luôn là một trong số những vùng trọng điểm lúa và hoa màu có năng suốt cao của tỉnh
Thiệu Hóa có hai con sông lớn của xứ Thanh (sông Chu và sông Mã) chảy qua Ngoài nguồn phù sa bồi đắp thường xuyên làm màu mỡ cho vùng đồng bằng châu thổ, hai dòng sông chính là huyết mạch giao thông quan trọng của huyện Thiệu Hóa và tỉnh Thanh Hóa trong suốt chiều dài lịch sử Ngoài
ra, vùng đất này còn ưu ái có được sự bồi đắp của các sông tự nhiên và kênh đào khác (như sông Mậu Khê, sông Cầu Chày, sông Dừa, sông Nhà Lê, kênh đào Bái Thượng…) Thiệu Hóa có quốc lộ 45, thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế - văn hóa với các địa phương trong cả nước
Trang 21Thiệu Hóa có tổng diện tích huyện quản lý là 17.547,52 ha Tổng số nhân khẩu năm 2009 là 178.107 ngườ [30; tr17] Dân số nông thôn chiếm 96,4%, thành thị chiếm 3,6%; sự phân bố dân cư khá đều đặn trên toàn huyện nằm dọc theo 2 bờ tả và hữu sông Chu, hình thành 6 cụm kinh tế thuận tiện cho việc chỉ đạo của huyện
Hiện nay huyện Thiệu Hóa có 24 xã và một thị trấn Tân Châu là một trong 24 xã của huyện
Với vị trí địa lý và những điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thiệu Hóa sớm trở thành vùng đất có vai trò quan trọng trong chặng đường phát triển của lịch
sử tỉnh Thanh Hóa và dân tộc Trong không gian chung ấy của huyện, vùng đất Tân Châu cũng đã trải qua những chặng đường lịch sử gian khó và để lại những dấu ấn quan trọng trong truyền thống lịch sử quê hương Thiệu Hóa nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung
Tân Châu là một xã nằm ở hữu ngạn sông Chu, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 16 km và cách huyện lỵ Thiệu Hóa về phía Tây dọc theo quốc
lộ 45 khoảng 5 km có vị trí địa lý thuận lợi Cụ thể: phía Đông giáp thành phố Thanh Hóa, phía Tây giáp thị trấn Thiệu Hóa và xã Thiệu Nguyên, phía Nam giáp Đông Sơn và xã Thiệu Giao, phía Bắc giáp xã Thiệu Duy và Thiệu Hợp
So với các xã khác trong huyện, Tân Châu là một trong những xã lớn với tổng diện tích 7,41 km², thuận lợi trong việc giao lưu phát triển kinh tế và văn hóa Đây là vùng đất với những làng văn hóa, làng võ, làng nghề cùng những trung tâm sinh hoạt văn hóa trong vùng
Như vậy, về vị trí địa lý, Tân Châu là vùng đất thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Chu, vùng đất địa linh nhân kiệt xứ Thanh, là một trong những
xã lớn của huyện Quốc lộ 45 chạy dọc trên địa phận của xã, cùng với hệ thống giao thông đường thủy, nằm trên trục giao thông quan trọng của tỉnh tạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của Tân Châu
Trang 221.1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình Tân Châu tương đối đa dạng, bao gồm đồi núi, sông, ao hồ và
hệ thống kênh mương tương đối dày đặc Là xã nằm cạnh dòng sông Chu (còn gọi là Lường Giang - tiếng Tày, Nậm Sang - tiếng Thái, nguyên gốc là sông Sủ, người Pháp viết thành Chu) nên Tân Châu cũng như nhiều xã trong khu vực đã nhận được những ưu ái đặc biệt của điều kiện tự nhiên Sông Chu vốn là nhánh lớn nhất trong hệ thống sông Mã và là sông lớn thứ hai của tỉnh Thanh Hóa, phát tích từ cao nguyên Sầm Nưa (Lào), chảy theo hướng tây bắc
- đông nam, có chiều dài 325 km, trong đó phần chảy qua huyện Thiệu Hóa khoảng 25 km [31; tr12] Riêng đoạn sông chảy qua xã Tân Châu dài khoảng
5 km Tân Châu nằm trong vùng trung tâm của đồng bằng chấu thổ Thanh Hóa do hệ thống sông Mã, sông Chu bổi đắp nên đất đai nơi này tương đối màu mỡ Có thể chia làm 2 nhóm: nhóm đất phù sa cổ không được bồi đắp thường xuyên và loại đất mới hình thành được bồi đắp thường xuyên ở ngoài
đê sông Chu Điều kiện đất đai của Tân Châu rất thuận lợi cho việc phát triển các loại cây lương thực (lúa, hoa màu) và cây công nghiệp ngắn ngày như dâu tằm, bông, lạc, vừng… Đó là một trong những cơ sở lý giải sự tồn tại bền bỉ của các nghề thủ công truyền thống được hình thành, phát triển ở vùng đất Tân Châu
Bên cạnh vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ do sông Mã, sông Chu ban tặng, Tân Châu còn có những vùng địa hình đa dạng khác với đồi núi, ao
hồ, kênh mương dày đặc…Núi Đọ nằm bên hữu ngạn sông Chu, là quả núi thấp, sườn dốc thoai thoải, chính là nơi phát hiện những bằng chứng sự có mặt của người nguyên thủy ở vùng đất Tân Châu thời sơ kỳ đồ đá cũ; Núi Go lại là ngọn núi đất có độ cao trên 30 mét với diện tích 10 ha, đất đỏ bazan là chủ yếu, cây cối rậm rạp…; Núi Đồng Chài (núi Đồng Mồ) là quả núi nhỏ và thấp nằm giữa cánh đồng (còn gọi là trại Mã Cầu) Mặc dù địa hình đa dạng nhưng nhìn chung tương đối bằng phẳng, giữa các khu đồng cấp độ chênh
Trang 23lệch không lớn, vì vậy, khá thuận lợi cho việc quy hoạch ruộng đồng và các hoạt động khác (như giao thông, thủy lợi…)
Về khí hậu: cũng như các địa phương khác của khu vực, Tân Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Loại khí hậu này có đặc điểm thuận lợi
là nhiệt và độ ẩm phong phú, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa “Tổng nhiệt độ trung bình hằng năm từ 8.500 độ C - 8.600 độ C Mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình tháng Giêng là 15 độ C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7, trung bình từ 30-35 độ C… Tổng lượng mưa bình quân từ 1600 - 1900 mm/năm”[31; tr13] Đặc điểm khí hậu như vậy rất phù hợp với sản xuất nông nghiệp bởi nhiệt độ trong năm tương đối điều hòa, lượng ánh sáng dồi dào, lượng mưa phong phú Mặt khác, sự đa dạng của khí hậu mùa hè nóng và mùa động lạnh tạo sự phong phú cho các loại cây trồng của nông nghiệp Bên cạnh
đó, kinh tế vùng đất Tân Châu nói riêng, địa phương Thanh Hóa nói chung phải chịu ảnh hưởng những điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên: bão thường đi kèm mưa to gió lớn có sức tàn phá nghiêm trọng gây thiệt hại về người và của, sự khô nóng của gió Lào, gió bấc lạnh và khô, sự thất thường của khí hậu…Những khó khăn ấy ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội của cư dân
Tóm lại, có thể khẳng định, vùng đất Tân Châu với vị trí địa lý, hệ thống sông ngòi, kết cấu địa hình, đất đai, đặc điểm khí hậu… có những đặc điểm chung, gắn bó mật thiết với vùng đất Thiệu Hóa Trên cơ sở nền tảng những điều kiện tự nhiên đặc trưng và thuận lợi, Tân Châu đã khai thác thế mạnh của tự nhiên, tập trung phát triển ngành chính là nông nghiệp Bên cạnh
đó, vùng đất này có đầy đủ yếu tố để phát triển kinh tế đa ngành như buôn bán hoặc các nghề thủ công truyền thống tận dụng được thế mạnh từ yếu tố tự nhiên
1.1.3 Hệ thống giao thông
Tân Châu có hệ thống giao thông rất thuận lợi, nằm trên tuyến đường
bộ quan trọng là quốc lộ 45, có đường giao thông rất thuận tiện chạy qua
Trang 24trung tâm xã, thị trấn, thành phố Thanh Hóa Từ đây có thể theo quốc lộ 45 đi thẳng lên các tuyến giao thông trọng điểm của các huyện phía Tây tỉnh Thanh Hóa hoặc di chuyển vào Nam ra Bắc đều thuận lợi dễ dàng Đó chính là điều kiện thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng
Hiện nay, hệ thống giao thông đường bộ của huyện được xây dựng và hình thành tương đối hợp lý, 100% số xã có đường ô tô tới trung tâm xã Hệ thống đường liên xã liên thôn được xây dựng khá hoàn thiện, hình thành mạng lưới khép kín trong toàn huyện Tân Châu cũng không ngoại lệ, với hệ thống đường bộ được nâng cấp, hoàn thiện, vùng đất s có những điều kiện phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay Tuy nhiên hệ thống giao thông của Tân Châu vẫn còn một số bất cập như: Việc bảo dưỡng và tu sửa hàng năm các tuyến giao thông liên xã, liên huyện còn có nhiều khó khăn; nhiều đoạn đường đất còn lầy lội, kém chất lượng; mùa mưa lụt hệ thống giao thông đường thủy gây nhiều khó khăn trong việc đi lại của nhân dân
Tóm lại, mặc dù có một số khó khăn nhưng nhìn chung vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và hệ thống giao thông của Tân Châu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp phát triển Bên cạnh đó, xã Tân Châu lại nằm gần trung tâm huyện, có đường thủy, đường bộ thông thương thuận lợi với các vùng trong tỉnh và cả nước Con người Tân Châu trong suốt chiều dài lịch sử đã khai thiên, lập địa, xây ấp dựng làng, lập nghiệp, cần cù, chịu khó, giàu lòng yêu nước và giác ngộ cách mạng, đã vượt qua mọi khó khăn như hạn hán, thiên tai, bão lụt, diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm vươn lên xây dựng cuộc sống mới để có diện mạo ngày càng đổi mới
1.2 Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Tân Châu
1.2.1 Nguồn gốc dân cư và sự hình thành làng xã
Tân Châu là một vùng đất cổ với lịch sử hình thành và phát triển hàng ngàn năm Các nguồn sử liệu và kết quả nghiên cứu khảo cổ học đã khẳng định sự phát triển lâu đời và liên tục của con người trên vùng đất này
Trước hết, vùng đất này gắn liền với địa danh Núi Đọ nổi tiếng Đây là
Trang 25địa bàn sinh sống của người nguyên thủy cách đây 30-40 vạn năm, vào thời
kỳ đồ đá cũ sơ kỳ… Từ đó, con người từng bước mở rộng địa bàn sinh sống, chiếm lĩnh vùng đồng bằng, hình thành nền văn hóa Đông Sơn sau này Đây cùng chính là vùng đất phát hiện di chỉ khảo cổ học Cồn Chân Tiên nổi tiếng
“minh chứng cho quá trình tồn tại của cư dân mà có thể nhóm cư dân này đã đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân của nhà nước Văn Lang” [30; tr 484]
Lịch sử hình thành các làng xã ở vùng đất Tân Châu gắn liền với lịch
sử khai phá và hình thành các làng cổ ở vùng đồng bằng sông Chu và sông
Mã Chúng ta có thể kể tên các làng cổ trong vùng đất này như Kẻ Đọ, Kẻ
Go, Kẻ Núi, kẻ Chòm, Kẻ Họ…
Kẻ Đọ là một làng nằm ven hữu ngạn sông Chu có phía Tây giáp với Núi Đọ Với việc phát hiện di chỉ khảo cổ học Cồn Chân Tiên, Kẻ Đọ đã chứng tỏ mình là một trong những địa bàn sinh sống sớm của người Việt cổ ở lưu vực sông Chu;
Kẻ Go lại được đánh giá là một trong những làng cổ nhất của Thiệu Châu ngày nay (gồm Kẻ Go, Kẻ Tràn, kẻ Họ, Kẻ Núi) Tại núi Go, người ta
đã tìm thấy những dấu tích của làng Go cổ “như rìu đá, dọi xe chỉ, kiếm đồng, mũi tên đồng, đồ gốm có niên đại từ thời văn hóa Đông Sơn Ngày nay, cư dân làng Go sống rải rác dọc hữu ngạn sông Chu trên chiều dài không đầy 1km ôm lấy núi Go, phía nam làng Go dân cư ở xen k với làng Núi, phía bắc giáp sông Chu, phía nam giáp Cổ Bôn - một làng Việt cổ, phía đông giáp Kẻ
Họ trông về núi Đọ” [30; tr 485];
Kẻ Núi hiện nay là làng Thọ Sơn, cũng là một trong những làng Việt
cổ được hình thành từ thời các vua Hùng Các tài liệu cổ cho biết cư dân Kẻ Núi đến định cư ở vùng đất này đã khai thác các cồn đất để canh tác Dân cư đến đây sinh sống rải rác từ chân núi Go đến một số núi khác trong khu vực Đất đai canh tác của họ nằm dọc hữu ngạn sông Chu, bởi vậy, nghề chính của
họ từ xa xưa đến nay vẫn là nông nghiệp trồng lúa, một số loại hoa màu và
Trang 26nghề thủ công truyền thống Trải qua hàng nghìn năm hình thành và phát triển
Kẻ Núi đã trở thành một làng có dân cư đông đúc, đồng thời, có nhiều giá trị
di sản vật thể và phi vật thể phong phú [30; tr 486]
Kẻ Tràn (sau này chính là vùng đất Thiệu Tân) cũng là một làng Việt
cổ ở phía tây núi Đọ, cạnh sông Chu Tại khu vực Kẻ Tràn các nhà khảo cổ học cũng tìm thấy một số hiện vật giống với hiện vật cùng loại ở Cồn Chân Tiên, cùng một giai đoạn với di chỉ khảo cổ học này Từ đó, cho phép các nhà khảo cổ học khẳng định sự có mặt của con người ở Kẻ Tràn trong buổi đầu của thời đại đồng thau ở lưu vực sông Mã [30; tr 485]
Kẻ Chòm là làng cổ nằm ven hữu ngạn sông Chu, hiện nay gồm 7 xã của huyện Thiệu Hóa, trong đó có Tân Châu Kẻ Chòm theo các nhà nghiên cứu là vùng đất nằm trong bậc thềm phù sa cổ, có dấu tích của bề mặt châu thổ cũ được tạo thành vào thời kỳ mực nước biển dâng cao Đây chính là địa bàn cư trú của người nguyên thủy thuộc thời đại đồ đá cũ Khi nói về các làng
cổ nhất xứ Thanh, nhiều tài liệu ghi nhận Kẻ Chòm là vùng đất cổ nhất của vùng đồng bằng châu thổ sông mã, sông Chu [30; tr 486]
Kẻ Họ chính là làng Phú Văn thuộc vùng đất Tân Châu ngày nay Bằng chứng sinh động cho lịch sử lâu đời của làng là các tên đồng đất ở đây còn gọi bằng tên tục, tên Nôm như Cồn Ốc, Cồn Sắc, Cồn Quế, Cồn Đụn, Cồn Trạn,
Nổ Nước, Nổ Bể…
Như vậy, qua nhiều nguồn tài liệu, các địa danh hiện hữu và kết quả khai quật khảo cổ học chúng ta có thể khẳng định dấu tích làng cổ đã hình thành và phát triển trong nhiều thời kì khác nhau ở vùng đất này Sớm nhất là dấu tích làng cổ cách ngày nay khoảng 4000 năm, sau đó là dấu tích làng cổ thời kì văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay hơn 2000 năm Những chứng cứ văn hóa vật chất từ ngàn xưa còn lưu giữ đến ngày nay đã khẳng định sự có mặt của người xưa và sự tồn tại các làng cổ trên vùng đất Phát hiện khảo cổ học đã cho biết từ thời châu thổ sông Chu mới được kiến tạo, con người đã chiếm lĩnh, khai phá, sinh sống tại đây Đến thời kì các vua Hùng dựng nước
Trang 27Văn Lang, các làng cổ ở đây tiếp tục được hình thành và phát triển Các làng
cổ được hình thành từ thời dựng nước đầu tiên này đã góp phần làm cho vùng châu thổ sông Chu sớm trở thành một trong những cái nôi của văn hóa dân tộc
Những dấu tích văn hóa vật chất thời kì Bắc thuộc như các loại đồ gốm thời Hán, Đường, các loại mộ táng có niên đại Hán, Đường được phát hiện tại các làng trên vùng đất Tân Châu đã cho thấy hoạt động của con người trong thời kì này tiếp tục tiếp diễn, góp phần vào cuộc đấu tranh chống nghìn năm Bắc thuộc của dân tộc ta, tiếp tục bồi đắp truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của quê hương và dân tộc
1.2.2 Vùng đất Tân Châu thời phong kiến độc lập đến trước Cách mạng tháng Tám 1945
Quá trình hình thành dân cư ở Tân Châu diễn ra từ rất sớm, buổi bình minh của lịch sử văn hóa, văn minh dân tộc Trải qua thời gian, vùng đất trù phú này đón nhận số lượng dân cư ngày càng đông đúc đến và ở lại sinh cơ, lập nghiệp, cùng nhau chung sức xây dựng và đấu tranh bảo vệ quê hương
Lịch sử phát triển của xã Tân Châu gắn liền với lịch sử phát triển của hai xã Thiệu Châu, Thiệu Tân và hai huyện Đông Sơn, Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Thời Lý, vùng đất Thiệu Hóa là một khu vực khá phát triển, dân cư đông đúc Những ngôi chùa có quy mô lớn trên đất Tân Châu với những hoạt động Phật giáo tấp nập đã phản ánh phần nào đời sống của người dân trên vùng đát này Theo lời truyền ngôn thì thời kỳ Lý - Trần ở vùng đất Tân Châu khá phát triển Thời Lê, các làng ở Tân Châu dân cư tụ họp đông đúc, các dòng họ lớn
đã được hình thành, nhiều dòng họ có những người đỗ đạt cao, được triều đình trọng dụng Các công trình kiến trúc có quy mô lớn, các tác phẩm điêu khắc còn lại có giá trị nghệ thuật mang dấu ấn thời Lê tại các làng xã ở Tân Châu đã cho biết các làng nơi đây nổi tiếng là văn vật của xứ Thanh
Theo sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX - các tỉnh từ Nghệ
An trở ra” vùng đất Thiệu Châu trước đây thuộc tổng Vận Quy, huyện Đông
Trang 28Sơn Tổng Vận Quy có 19 xã, thôn, trong đó, các thôn Thọ Sơn, Yên Tân, Phú Văn thuộc xã Cổ Đô; làng Đắc Châu lại thuộc xã Ngọc Hoạch, huyện Đông Sơn…Năm Thành Thái thứ 2 (1900), địa giới các huyện có sự thay đổi Đông Sơn cắt hai tổng là Vận Quy, Đại Bổi và một phần tổng Thạch Khê về huyện Thụy Nguyên Năm 1928, huyện Thụy Nguyên đổi thành phủ Thiệu Hóa Như vậy, từ đó cho đến cách mạng tháng Tám 1945, các làng Thọ Sơn, Yên Tân, Phú Văn, Đắc Châu của Thiệu Châu thuộc tổng Vận Quy, phủ Thiệu Hóa [31; tr16]
Bên cạnh đó, vùng đất Thiệu Tân đến đầu TK XIX lại thuộc tổng Đại Bối, huyện Đông Sơn Đến đầu TK XX, năm Thành Thái thứ 2, huyện Thụy Nguyên bị cắt một số tổng để lập châu mới và huyện, đồng thời, nhận về tổng Lôi Dương (của huyện Lôi Dương), Đại Bối (có vùng đất Thiệu Tân), Vận Quy (có vùng đất Thiệu Châu)…và đổi tên huyện Thụy Nguyên thành phủ Thiệu Hóa Như vậy, lúc này Thiệu Châu vẫn thuộc tổng Vận Quy, Thiệu Tân thuộc tổng Đại Bối (đây là 2/4 tổng bên hữu ngạn sông Chu) của phủ Thiệu Hóa
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta…Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, chịu ách đô hộ và bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Trong bối cảnh đó, nhân dân Tân Châu tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống Pháp Nhiều người dân ở Tân Châu đã tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi lãnh đạo Phong trào Cần Vương thất bại, nhân dân tiếp tục hướng ứng các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư tưởng của Phan Bội Châu, Phan Châu Chinh, Nguyễn Thái Học
Khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác
- Lênin, nhân dân Tân Châu hăng hái tham gia cách mạng, trở thành Đảng viên đảng cộng sản Việt Nam Ví dụ, Đảng viên đầu tiên của làng là ông Phùng Bá Ý vào Đảng năm 1945, ông Nguyễn Trọng Hợp, ông Nguyễn Trọng Thưởng vào Đảng năm 1946…có nhiều đóng góp đối với phong trào
Trang 29cách mạng Việt Nam Các đình đền, chùa, nghè…ở Tân Châu đều trở thành nơi tổ chức các phong trào cách mạng Có thể khẳng định, trong thời kỳ vận động giải phóng dân tộc Tân Châu đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi chung của cả nước Đó là sự tiếp nối truyền thống anh hùng cách mạng của vùng đất, cùng dân tộc làm nên thắng lợi cách mạng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập - tự do, kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội
1.2.3 Vùng đất Tân Châu từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đất nước bước vào thời kỳ xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân với các biện pháp đúng đắn, sáng tạo
Về chính trị, ngày 6 tháng 1 năm 1946, lần đầu tiên trong lịch sử, nước Việt Nam tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước, công dân được thực hiện quyền làm chủ của mình Trên cơ sở đó, Chính phủ mới được thành lập, đồng thời hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân từng bước được kiện toàn Các đơn vị hành chính địa phương do vậy cũng có nhiều thay đổi cho phù hợp Chính phủ có chủ trương bỏ cấp tổng, thành lập cấp xã Các làng Thọ Sơn, Yên Tân, Phú Văn, Đắc Châu của Thiệu Châu (cũ) thuộc xã Thái Bình, huyện Thiệu Hóa Đến tháng 3/1953, xã thái Bình được chia thành 3 xã là Thiệu Vận, Thiệu
Đô, Thiệu Châu, huyện Thiệu Hóa Đến ngày 7/7/1977, theo QĐ số 177/CP của Hội đồng Bộ trưởng về việc điều chỉnh lại địa giới, 15 xã tả ngạn sông Chu trước đây thuộc huyện Yên Định nay tách ra thành Thiệu Yên, 16 xã hữu ngạn sông Chu vốn nhập về huyện Đông Sơn nay lấy tên là huyện Đông Thiệu Vùng đất Thiệu Châu lúc này thuộc huyện Đông Thiệu Đến năm 1982, huyện Đông Thiệu đổi tên thành huyện Đông Sơn Năm 1996 theo quyết định của Chính phủ về việc tái lập lại huyện Thiệu Hóa, các xã trước đây của huyện Thiệu Hóa lại trở về huyện cũ…[31; tr 39]
Bên cạnh đó, sau cách mạng tháng Tám 1945, các làng của vùng đất Thiệu Tân (cũ) lại thuộc xã Tòng Tân Năm 1947, xã Tòng Tân sáp nhập xã
Trang 30Đại Khánh (nay thuộc Thiệu Khánh) thành xã Đại Tân Năm 1948, xã Đại Tân sáp nhập xã Tam Dương (nay thuộc Thiệu Dương) thành xã Tân Dương Tháng
3 năm 1953, Tân Dương lại được tách ra thành 3 xã Thiệu Tân, Thiệu Khánh, Thiệu Dương…Năm 1977, huyện Thiệu Hóa giải thể theo chủ trương hợp nhất một số huyện ở Thanh Hóa của Chính phủ, 16 xã thuộc hữu ngạn sông Chu sáp nhập huyện Đông Sơn thành lập huyện Đông Thiệu Đến năm 1982 đổi tên thành Đông Sơn Vùng Đất Thiệu Tân lúc này thuộc huyện Đông Sơn Năm
1996, với chủ trương tái lập huyện Thiệu Hóa của Chính phủ, vùng đất Thiệu Tân lại trở về huyện Thiệu Hóa…[32; tr 23-24]
Như vậy, sau nhiều thay đổi về đơn vị hành chính, đến năm 1996, Thiệu Châu và Thiệu Tân đã chuyển về trực thuộc sự quản lý của huyện Thiệu Hóa Tháng 10/2019, theo chủ trương của Chính phủ về việc sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thanh Hóa, Thiệu Tân và Thiệu Châu được hợp nhất thành Tân Châu Hiện nay, Tân Châu có các làng Tòng Tân Nội, Tòng Tân Ngoại, làng Thọ Sơn (làng Núi), Yên Tân (làng Go), Phú Văn (Kẻ Họ), Đắc Châu (làng Chòm)
1.3 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.3.1 Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động
Đây là một nét đẹp trong truyền thống của cư dân vùng đất Tân Châu nói riêng, con người xứ Thanh nói chung Việc phát hiện ra di chỉ núi Đọ với những công cụ lao động của người Việt cổ, di tích Cồn Chân Tiên ngoài đồ đá còn có thêm những di vật đồ gốm, di tích Thiệu Dương với việc phát hiện ra đồ đồng trên khu vực này là minh chứng hùng hồn cho quá trình lao động sáng tạo
ấy
Được biết đến là một vùng đất đai màu mỡ nằm bên hữu ngạn sông Chu với những điều kiện thiên nhiên thuận lợi, bên cạnh đó, thiên nhiên cũng mang đến cho người dân Tân Châu không ít khó khăn với thiên tai, bão lũ… Nền sản xuất nông nghiệp đặc thù vốn rất nặng nhọc, vất vả quanh năm, phải thích nghi với thời tiết thất thường, nắng mưa, bão lũ…đã góp phần tạo nên
Trang 31truyền thống lao động cần cù, chịu thương chịu khó của người dân nơi đây
Xã Tân Châu cùng với các xã trong khu vực vẫn còn bảo lưu được địa danh cổ,
đó là những làng Việt cổ hình thành từ thời Hùng Vương như: Kẻ Đọ, Kẻ Go,
Kẻ Núi, kẻ Chòm, Kẻ Họ…Điều đó chứng tỏ con người đến canh tác trên vùng đất Tân Châu từ rất sớm, khi nơi này còn là rừng rú rậm rạp, muốn lao động sản xuất, những cư dân đầu tiên s phải rất vất vả khai hoang, lập ấp Từ đó, tiếp tục hình thành và bồi dưỡng truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động
Truyền thống cần cù, lao động sáng tạo được thể hiện sâu sắc trong hệ thống di sản văn hóa (bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) hiện hữu tại vùng đất Tân Châu Các công trình kiến trúc tiêu biểu như đình, đền, chùa…thể hiện đặc sắc sự sáng tạo trong lao động Trong quá trình sinh sống, bên cạnh nghề nông nghiệp làm gốc, người dân Tân Châu còn sáng tạo nhiều nghề truyền thống như làm bánh đa, đan lát, trồng dâu nuôi tằm, làm bánh đúc… Những nghề thủ công ấy được làm lúc nông nhàn, lưu truyền qua nhiều thế hệ trở thành những di sản văn hóa phi vật thể của vùng đất
Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động được duy trì trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của vùng đất, tiếp tục được phát huy trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong bối cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền, tiền tuyến miền Nam cần chi viện (1954 - 1975), hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hòa chung với không khí thi đua sôi động của nhân dân miền Bắc, nhân dân vùng đất Tân Châu đã hăng hái phát huy cao độ truyền thống cần cù, lao động sáng tạo, thể hiện trong việc hoàn thành xuất sắc nhiều phong trào cách mạng ở địa phương được Đảng bộ phát động sôi nổi như “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”,
“Cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ” , sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến, thực hiện khẩu hiệu “lương không thiếu một cân, quân không thiếu một người” góp phần cùng cả nước giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Sau ngày đất nước thống nhất, do hậu quả của chiến tranh để lại, cùng với nền sản xuất nông nghiệp, công nghiệp lạc hậu, kinh tế Việt Nam suy
Trang 32thoái trầm trọng Lúc này, tinh thần cần cù, sáng tạo của nhân dân Tân Châu càng được phát huy cao độ Đại hội VI của Đảng (1986) đề ra đường lối đổi mới đất nước, Đảng bộ và nhân dân Tân Châu đã thu được nhiều thành tựu mọi mặt, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân địa phương, từng bước cùng nhân dân cả nước vượt qua khủng hoảng Ngày nay, nhân dân Tân Châu vẫn tích cực học tập, tiếp thu các thành tự khoa học kỹ thuật, ứng dụng máy móc thiết bị vào sản xuất nông nghiệp, có đóng góp quan trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước
1.3.2 Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm
Thanh Hóa là tỉnh có truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm Các thế hệ ở Tân Châu nói riêng, Thiệu Hóa nói chung đã góp phần làm rạng rỡ quê hương, đất nước, phát huy và bồi đắp truyền thống tốt đẹp ấy Trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, người dân Tân Châu đã có những đóng góp vào thắng lợi chung trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương
Truyền thống yêu nước của nhân dân Tân Châu được hình thành từ buổi đầu dựng nước Với đặc điểm Việt Nam luôn bị các thế lực ngoại xâm nhòm ngó ngay từ thưở bình minh lịch sử, bởi vậy “dựng nước đi đôi giữ nước” đã trở thành một quy luật tất yếu của lịch sử dân tộc Trong suốt chặng đường lịch
sử ấy, nhân dân Tân Châu có những đóng góp to lớn, nuôi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, phát triển, hun đúc thành truyền thống quý báu của người dân vùng đất này Có thể khẳng định, tình yêu quê hương, đất nước là chất keo cố kết cộng đồng và là bệ đỡ cho truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân Tân Châu trong lịch sử Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến các cuộc khởi nghĩa chống lại sự bành trướng của các hệ lực phong kiến phương Bắc dưới các triệu Lý, Trần, Lê…nhân dân trong các làng ở vùng đất Tân Châu luôn hướng ứng và ủng hộ nhiệt tình
Thế kỷ XV, Nguyễn Chích người làng Vạn Lộc (Đông Ninh, Đông Sơn) khởi binh chống lại ách đô hộ của nhà Minh, Tân Châu và các xã trong vùng
Trang 33trở thành trọng điểm hoạt động của nghĩa quân Văn bia Nguyễn Chích còn nhắc đến sự kiện nghĩa quân của ông đã vây đánh đồn Cổ Vô (thuộc khu vực núi Go, Tân Châu hiện nay), tướng giặc là Lương Nhữ Hốt thua chạy Nhờ thế một thời gian dài, giặc không dám quấy phá vùng đất Đông Sơn…Sau này, Nguyễn Chích nhập quân với Lê Lợi tại Lam Sơn, trong mười năm kháng chiến chống Minh, nghĩa quân Lam Sơn đã nhiều lần theo tuyến sông nhà Lê tuyển quân và quyên góp lương thực, nhân dân Tân Châu tiếp tục ủng hộ và tham gia khởi nghĩa đông đảo
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam…Cuối thế kỷ XIX, vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương kêu gọi sĩ phu và nhân dân cả nước đứng lên đánh giặc cứu nước, nhiều người con ở vùng đất Tân Châu đã tích cực hưởng ứng phong trào Sau này, phong trào Cần Vương thất bại, nhân dân Tân Châu tiếp tục hướng ứng các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học lãnh đạo…
Truyền thống yêu nước ấy càng được phát huy cao độ trong thời kỳ có Đảng cộng sản lãnh đạo Dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, nhân dân Tân Châu
đã tham gia tích cực các phong trào đấu tranh 1930 - 1931, phong trào dân chủ
1936 - 1939, cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945, cùng nhân dân cả nước làm nên thắng lợi cách mạng tháng Tám lịch sử, mở ra kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc Việt Nam Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) và đế quốc Mỹ xâm lược (1954 - 1975), nhân dân Tân Châu có nhiều đóng góp quan trọng Trước hết, những đóng góp của nhân dân vùng đất này đã góp phần làm nên trận Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” buộc Pháp phải kí kết Hiệp định Giơnever kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống Pháp; Trong thời kỳ 1954 -1975, đặc biệt giai đoạn 1965 - 1973, nhân dân Tân Châu vừa chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương đối với miền Nam góp phần làm nên chiến thắng cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước
Trang 34Hiện nay, di tích Hầm đồng chí Ngô Thuyền và Hầm đồng chí Trịnh Tố Phan nằm ở núi Đồng Chài chính là minh chứng hùng hồn cho truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân vùng đất anh hùng này
1.3.3 Truyền thống “uống nước nhớ nguồn”
Vốn là một vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, có cư dân đến khai đất, lập làng từ rất sớm, vì vậy, Tân Châu thể hiện sâu sắc truyền thống “uống nước nhớ nguồn” Đó là một trong những cơ sở quan trọng cho sự hình thành
và bảo lưu các giá trị di sản văn hóa đặc sắc của vùng đất Mặt khác, với vị trí địa lý thuận lợi, có nhiều cư dân ở nơi khác đến làm ăn sinh sống và lập nghiệp
ở vùng đất này nên có sự giao thoa văn hóa của nhiều địa phương khác nhau
Đó là cơ sở để tạo nên đời sống văn hóa phong phú, đa dạng và đặc sắc của Tân Châu
Sự phong phú, đa dạng và đặc sắc của truyền thống văn hóa Tân Châu thể hiện ở hệ thống di sản văn hóa phong phú, bao gồm cả loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Về di sản văn hóa vật thể: đó là hệ thống đình, đền, miếu, chùa, nghè, phủ… rất phong phú ở vùng đất này Những di tích như đình đền làng Go, làng Phú Văn, Thọ Sơn, Đắc Châu…gắn liền với quá trình dựng làng, lập ấp; quá trình xây dựng và bảo vệ quê hương; quá trình tiếp nhận những ảnh hưởng tư tưởng, tôn giáo từ bên ngoài với sức sống nội sinh mạnh
m ; quá trình đấu tranh cách mạng dưới ánh sáng của Đảng cộng sản Việt Nam Hệ thống di sản văn hóa vật thể ấy thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong tư duy thẩm mỹ, nghệ thuật kiến trúc điêu khắc…
Qua lao động sản xuất, người dân Tân Châu đã tạo dựng nền đời sống văn hóa tinh thần phong phú được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện những giá trị di sản văn hóa phi vật thể của vùng đất này Cũng như mọi người dân Việt Nam, người dân Tân Châu thờ cúng ông bà, tổ tiên, thờ thành hoàng làng và những người có công với quê hương, đất nước Đó chính là biểu hiện sâu sắc của truyền thống văn hóa “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt
Trang 35Nam nói chung, vùng đất Tân Châu nói riêng Các phong tục như nhuộm răng đen, ăn trầu, v cung tên “v bằng nước vôi”, tục lệ mang cỗ đi đặt tổ tiên, mừng tuổi cho các cụ cao niên, tục xông nhà ngày tết…vẫn còn lưu giữ tại quê hương Tân Châu Bên cạnh đó, các nghề thủ công truyền thống với các bí truyền nghề nghiệp cũng là một loại di sản văn hóa tiêu biểu của Tân Châu, có giá trị to lớn, toàn diện tạo nên sự đặc sắc của truyền thống quê hương; Cùng với các đình đền, nghè, chùa…các lễ hội truyền thống ở Tân Châu cũng hết sức phong phú Thật hiếm có nơi nào mà trong cùng một xã diễn ra liên tiếp các lễ hội lớn của các làng sống cạnh nhau: lễ hội làng Yên Tân, Thọ Sơn, Phú Văn
và Đắc Châu…Các lễ hội ấy là nơi gửi gắm lòng biết ơn sâu sắc, tưởng nhớ những người đã có công tạo dựng vùng đất, nơi sinh hoạt văn hóa, thể hiện những giá trị tinh thần, nơi bày tỏ, sẻ chia những ước vọng về sự phát triển, nơi giáo dục và lưu dấu truyền thống quê hương, nơi tạo sự cố kết cộng đồng bền chặt…Đó là những giá trị vô giá mang đậm dấu ấn đặc sắc, riêng biệt của vùng đất Tân Châu
Tiểu kết chương 1
Tân Châu là vùng đất cổ thuộc châu thổ sông Mã và sông Chu, mang nhiều dấu ấn đậm nét về lịch sử - văn hóa và cư dân quần tụ sinh sống lâu đời Vùng đất này sớm là nơi tụ hội của các dòng họ lớn như: họ Nguyễn, họ Trần,
họ Lê…
Vùng đất Tân Châu là nơi có vị thế thuận lợi, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng và phong cảnh hữu tình Cư dân nơi đây luôn chịu thương, chịu khó trong lao động và trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, luôn coi trọng truyền thống “uống nước nhớ nguồn”
Sự hình thành làng xóm và dân cư Tân Châu là một quá trình lâu dài Quá trình ấy được bắt đầu từ khi những người lao động đầu tiên đến khai khẩn vùng đất này tới lúc dân cư ở nơi khác tới cùng khai phá lập nghiệp Bằng tinh thần quyết tâm lao động và ý chí vươn lên, họ đã khai hoang, lập nên xóm làng trù mật Tuy khác nhau về nguồn gốc xứ sở, dòng tộc nhưng tất
Trang 36cả đã chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng cuộc sống ấm no
Nằm ở vùng hạ lưu sông Mã và sông Chu, kinh tế nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng đối với cư dân vùng đất Tân Châu ngày nay Một cộng đồng đa dân cư, đa dòng tộc đã tạo dựng cho cư dân Tân Châu tính cố kết cộng đồng và sự giao lưu hòa nhập Đồng bằng đã tạo nên những động lực thúc đẩy, ý chí vươn lên trong lao động, sản xuất và đấu tranh giữ nước, giữ làng của cộng đồng cư dân Tân Châu Truyền thống ấy được hun đúc thành bề dày lịch sử với các loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc Đây chính là sức mạnh để con cháu Tân Châu hôm nay tiếp tục phát huy những giá trị tốt đẹp của cha ông
Trang 37CHƯƠNG 2
DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Di tích lịch sử - văn hóa là chiếc cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, là di sản văn hóa quý giá, là động lực tinh thần của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Kho tàng di sản văn hóa vật thể được xem là mảng tiêu biểu của các giá trị thể hiện truyền thống dân tộc Đây là bằng chứng sống về sự hi sinh, cống hiến và sáng tạo ở nhiều lĩnh vực của nhiều thế hệ tiền nhân để lại
cho hậu thế
2.1 Di chỉ Núi Đọ
Núi Ðọ là một ngọn núi nổi tiếng Việt Nam và thế giới, nằm bên hữu ngạn sông Chu, thuộc huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hóa Núi Đọ nằm ngay ngã ba của ba xã: Tân Châu, huyện Thiệu Hoá và các xã Thiệu Vân, Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa, nằm ở ngã ba của sông Chu, sông Mã - hai con sông lớn nhất của tỉnh Thanh Hoá, cùng với núi Bàn A (Núi Vồm - Thiệu Khánh) - Cồn Chân Tiên (Thiệu Khánh) tạo ra thế chân kiềng vững chãi Đây
là trái núi lớn có độ cao 158 mét (so với mực nước biển) ở chính giữa của đồng bằng xứ Thanh, núi Đọ được nhiều nhà phong thủy cho là núi chủ của vùng đất Thiệu Hóa Người xưa đã biết đến núi Đọ là cảnh đẹp quanh núi Bàn
A với “rùa thiêng rỡn nước”, từ năm 1960 trở đi, nhờ sự phát triển của ngành khảo cổ học Việt Nam, một di tích văn hóa của sơ kì thời đại đồ đá, cách đây vài chục vạn năm dần được hè lộ, khiến tiếng tăm của núi Đọ còn vang xa ngoài biên giới nước ta [30; tr 21]
Tại đây, các nhà khảo cổ học đã có những phát hiện quan trọng chứng minh sự có mặt của người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam, cụ thể:
Thời gian phát hiện và niên đại di chỉ
Trong những năm 1960 - 1965 các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại Núi Đọ những bằng chứng quan trọng về cuộc sống của người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, các nhà khoa học tìm ra di tích của sơ kỳ thời đại đồ đá cũ - một di tích của nền văn hóa tối cổ
Trang 38của loài người trên đất nước ta Những phát hiện của các nhà khảo cổ học tại Núi Đọ chứng tỏ nơi đây đã từng tồn tại một nền văn hóa sơ kỳ đồ đá cũ có niên đại cách ngày nay 30-40 vạn năm
Hiện vật phát hiện và đặc điểm di chỉ
Theo các nhà nghiên cứu thì núi Đọ không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi người nguyên thủy chế tác ra công cụ sản xuất như: rìu đá, hạch đá…bằng đá bazan Vì vậy, đặc điểm của văn hóa Núi Đọ là di chỉ xưởng - đây chính là nơi cư trú và là một công xưởng lớn chế tác công cụ lao động bằng đá của người nguyên thủy Tại đây, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những mảnh tước to nhỏ, dài ngắn khác nhau - đây là những công cụ thô sơ của người nguyên thủy trong chặng đường dài từng bước chinh phục tự nhiên Những mảnh tước lớn có mảnh dài tới 20 cm, rộng tới 15 cm còn mảnh nhỏ cũng dài
5 cm, rộng khoảng 4 cm… Hiện vật tiêu biểu phát hiện tại đây ngoài những mảnh tước, hạch đá còn có những chiếc rìu tay thô sơ được chế tác bằng đá bazan dài hơn 20 cm, rộng 15-16 cm và nặng đến 2 kg Hiện tai bộ sưu tập tiêu biểu cho nền văn hóa sơ ở kì đồ đá núi Đọ đang được trưng bày và giới thiệu rộng rãi ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Thanh Hóa [46; tr15]
Với các phác vật như rìu và hàng ngàn mảnh tước tìm được ở Núi Đọ
đã đủ cơ sở để chứng minh vùng đất Thiệu Hóa - xứ Thanh và đất nước Việt Nam là một trong những cái nôi của loài người, góp phần khẳng định tính khoa học của thuyết “đa trung tâm” khi tranh luận về vấn đề khó khăn này
Bên cạnh những phát hiện quan trọng trên, tại khu vực chân núi, nhân dân và các nhà khoa học còn phát hiện ra di chỉ văn hóa Đông Sơn thời kì Hùng Vương dựng nước với rất nhiều trồng đồng, thạp đồng, rìu tay, kiếm, mác, lao, mũi tên, đồ trang sức…Chính vì vậy, khu vực núi Đọ là một tập hợp các di tích phát triển từ thấp đến cao hiếm nơi nào có được [30; tr 21]
Trang 39Có thể nói, núi Đọ với văn hóa sơ kì đồ đá cũ, văn hóa Đông Sơn là tự hào của quê hương Tân Châu nói riêng và vùng đất Thiệu Hóa, Thanh Hóa nói chung
câu đối: “Phượng Lĩnh ức cao bối thọ mạch Lường Giang thủy nhiễu dẫn tài
nguyên”
Về tên gọi, trước đây, làng Yên Tân có tên gọi là kẻ Go, sau đó có tên gọi là ấp Tân An Đến thời kỳ nhà Lý, Trần (1009-1400) làng Yên Tân có tên gọi là Châu Sơn Thời nhà Nguyễn (1802-1945) làng là được đổi tên thành làng Yên Tân hay Yên Tân thôn (chữ Yên Tân xuất phát từ chữ Tân An được ghi trên văn bia) thuộc xã Cổ Đô, tổng Vận Quy, phủ Thiệu Hóa Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước ta giành được độc lập, các đơn
vị hành chính có sự thay đổi cho phù hợp, gọi là làng Yên Tân và được tồn tại cho đến ngày nay [31; tr 23-24]
Làng Yên Tân có từ bao giờ hiện nay cũng không có sử sách ghi chép một cách cụ thể Tuy nhiên, theo gia phả của các dòng họ trong làng, làng Yên Tân được các bậc tiền nhân của các dòng họ: Lê, Trần, Phan…đến đây chọn đất dựng làng và sinh sống Sau đó, dần dần người của các dòng họ khác cũng đến đây sinh sống, tạo thành vùng đất định cư tương đối phát triển
Người dân làng Yên Tân chủ yếu sống bằng nghề nông, tuy nhiên, do
vị trí của làng nằm dọc bờ hữu ngạn sông Chu nên trước đây thường xuyên bị
Trang 40thiên tai, lũ lụt hoành hành, mỗi năm chỉ cấy được một vụ, năng suất thấp, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực Do đó, người dân trong làng phải làm thêm một số nghề phụ như nghề chế biến thực phẩm, đan lát, buôn bán…Mặt khác, với vị trí thuận lợi trong giao lưu buôn bán, trước năm 1945, làng có chợ Go rất nổi tiếng, được xem là trung tâm giao lưu, trao đổi hàng hóa của nhân dân
trong làng và các khu vực lân cận
Gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của làng Yên Tân, cùng với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, hệ thống di sản vật thể và phi vật thể (với hệ thống đình, đền, chùa, lễ hội, ca dao…) rất phong phú, có sắc thái riêng góp phần làm nên sự đặc sắc của truyền thống văn hóa Tân Châu Trong
đó, đình làng Yên Tân là một di tích lịch sử - văn hóa nổi bật
Đình làng Yên Tân vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong làng, vừa là nơi thờ Thành hoàng làng, vì vậy, còn được gọi là đình - đền làng Yên Tân
Nhân vật thờ tự: đình Go thờ 3 vị thần (Tam vị Đại vương) là: Đức
Thánh Cả (Cao Sơn Đại Vương), Đức Thánh Hai (Linh Quang Đại Vương), Đức Thánh Ba (Tô Đại Lưu tức Tô Hiến Thành) Dù hiện nay có một số tài liệu và giai thoại khác nhau về 3 nhân vật thờ tự tại đình Go, đình Phú Văn, Thọ Sơn và Đắc Châu nhưng đó đều là những người có công khai lập và bảo
vệ vùng đất, có công đối với dân làng Sự tương đồng về nhân vật thờ tự trong
4 ngôi đình chứng tỏ những điểm chung trong lịch sử hình thành và phát triển của các làng thuộc vùng đất Tân Châu Bởi vậy, nhân dân ở 4 làng cổ này đều tôn các ông là thành hoàng làng và lập đền thờ tự Tương truyền trước đây làng Yên Tân có một đền thờ trên đỉnh núi Go (thường gọi là phủ Go), đền thờ vọng 3 vị thần Đức Thánh Cả (Cao Sơn Đại Vương), Đức Thánh Hai (Linh Quang Đại Vương), Đức Thánh Ba (Tô Đại Lưu tức Tô Hiến Thành) nhưng hiện nay không còn nữa Ba vị thần được người dân làng Yên Tân đưa
về thờ tại đình làng với lòng biết ơn và sự tôn kính thiêng liêng (Phụ lục 2 kèm theo)