Các căn cứ của công tác dân số về nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người :...8 III.. Nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người.Phần mở đầu: Thực hiện nghị quyết số 47-NQ/T
Trang 1Muc Luc:
Phần mở đầu: 3
I Nội dung tình huống: 4
1.1 Khái quát các dân tộc Việt Nam : 4
1.2 Một số dân tộc có nguy cơ giảm dân số 5
II Phân tích tình huống: 7
1 Đặc điểm địa lý- kinh tế gia đình tác động đến dân tộc ít người 7
2 Các căn cứ của công tác dân số về nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người : 8
III Xử lý tình huống: 9
1 Mục tiêu xử lý tình huống: 9
2 Đề xuất các giải pháp chủ yếu: với công tác nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người: 9
3 Những thách thức về kinh tế, xã hội, môi trường trong phát triển 10
4 Chính sách ưu tiên dân tộc của Đảng và nhà nước ta hiện nay: 12
5 Địa phương phải giải quyết tốt những vấn đề sau: 12
6 Nội dung chính của công tác dân tộc: 13
7 Những yếu tố ảnh hưởng công tác dân số: 15
III Kiến nghi: 16
1 Với Các cấp bộ Đảng và chính quyền: 16
2 Với cơ quan chưc năng: 17
IV Kết luận: 17
Tài liệu tham khảo: 18
Trang 2Nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người.
Phần mở đầu:
Thực hiện nghị quyết số 47-NQ/TW của bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnhthực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình Ngày 22/3/2005, Bộ chínhtrị ban chấp hành trung ương Đảng Khóa IX đã ban hành nghị quyết số47-NQ/TW của bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và
kế hoạch hóa gia đình.( Được gọi tắt là nghị quyết của bộ chính trị )
Nghị quyết của bộ chính trị yêu cầu toàn đảng, toàn quân tiếp tục quán triệtcác quan điểm cơ bản của nghị quyết hội nghị lần thứ tư ban chấp hành trungương Đảng khóa XII về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ)kiên trì thực hiện chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 đến hai con,phấn đấu sớm dạt được mục tiêu ổn định qui mô dân số ở nước ta ở mức 115- 120triệu người vào giữ thế kỷ XXI đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số.Nghị quyết là văn kiện quan trọng của Đảng nhằm định hướng công tác dân số kếhoạch hóa gia đình trong những năm tới Vì vậy việc triển khai thực hiện nghịquyết của bộ chính trị phải được tiến hành thường xuyên , liên tục với quyết tâmcaotheo một chương trình hành động thống nhất và đồng bộ, phù hợp với tình hìnhthực tế của các cấp, các ngành, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể
Được sự phân công của bộ chính trị ban khoa giáo trung ương và ban cán sự Đảng
ủy ban dân số gia đình và trẻ em hướng dẫn một số yêu cầu và nội dung chínhtrong việc triển khai nghị quyết 47-NQ/TW
Tổ chức nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu,nhiệm vụ và các giải phápđược đề ra trong các nghị quyết của bộ chính trị nhằmtạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và tổ chức thực hiện Xây dựng vàtriển khai có hiệu quả chương trình hoặc kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết
Trang 347-NQ/TW của bộ chính trị cho phù hợp với điều kiện và tình hình cụ thể của cácban, ngành , đoàn thể nhân dân ở từng địa phương Chính sự cần thiết của côngtác dân số từ xưa đến nay mà luôn có sự quan tâm của các cấp bộ Đảng chínhquyền và các đoàn thể từ trung ương đến địa phương Những năm qua công tác dân
số kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những thành tích đáng khích lệ như: tỷ lệphát triển dân số cho đến nay đã giảm Tổng tỷ xuất sinh vào những năm 60 là 6con/ phụ nữ, đến năm 1989 là 3,8 con/phụ nữ, giảm xuống còn 2,33 con/ phụ nữvào năm 1999 và đến năm 2009 là 2,1 con/phụ nữ Nội dung tiieps theo của nghịquyết là: " đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số." Vì vậy mà trongkhuôn khổ nhỏ bé của bài viết tình huống, phân tích , xử lý và đưa ra khuyến nghịnày chỉ gói gọn trong một chủ đề rất bé nhỏ của công tác dân số kế hoạch hóa giađình nhằm tập viết tình huống phục vụ cho đợt học cuối khóa, nên chọn chủ đề:
I Nội dung tình huống:
" Nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người."
1 Hoàn cảnh ra đời của tình huống: Qui mô - cơ cấu và phân bố dân số dântộc ít người
1.1 Khái quát các dân tộc Việt Nam :
Những năm cuối thập niên 50 Thế kỷ XX danh mục về các dân tộc Ở ViệtNam mới được công bố khá đầy đủ và chi tiết trong cuốn” Các dân tộc thiểu số ởViệt Nam”của tác giả Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu Thuộc nhóm nghiên cứudân tộc và Uỷ ban dân tộc Trung ương, theo đó nước ta có 64 thành phần dân tộc,ngoài người kinh còn 63 dân tộc thiểu số thuộc 3 ngữ hệ khác nhau là: Hán-Tạng,Môn-Khơ me, và Ma layô pôlinêding Đến ngày 02/3/1979 Tổng cục thống kê banhành một bản danh sách về thành phần dân tộc Việt nam Theo đó nước ta có 53thành phần dân tộc ít người cùng một số chưa xác định và ngoại kiều chiếm12,66% dân số Số lượng 54 dân tộc (Tộc người ) ở nước ta được duy trì cho đến
Trang 4ngày 01.4.1999 cho thấy sau 10 năm dân số nước ta tăng 9,47 triệu người bìnhquân mỗi năm tăng 947 ngàn người Tỷ lệ tăng dân số trung bình năm (gọi tắt là
tỷ lệ tăng dân số) Trong giữa hai đợt tổng điều tra dân số 1999- 2009 có tỷ lệ tăngdân số 1,2% năm ( Đây là thời kỳ có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất trong vòng 50năm qua) Giảm mạnh so với thời kỳ trước mỗi năm 1,200 ngàn ngườivới tỷ lệtăng hàng năm 1,7%
1.2 Một số dân tộc có nguy cơ giảm dân số.
Với xu hướng chung của dân số cả nước cũng như của thế giới thường dân
số không có sự tác động thì mức sống càng thấp, dân số càng tăng cao theo cácnăm, song có một số dân tộc ít người lại có xu hướng giả Trong điều kiện ở nước
ta hiện nay thường là tập trung vào các dân tộc ít người Có những dân tộc ít ngườichỉ có dưới 1000 người ( 1999)
Đặc điểm về dân số và địa bàn cư trú của các dân tộc ít người Trong 53 dântộc ít người ở nước ta có 9 dân tộccó số dân dưới 3000 người được gọi là dân tộc
có dân số ít, đó là các dân tộc: Cống, Mảng Si la,Cơ lao, Bố y, Chứt, Ơ đu, Brâu,
Rơ măm
Dân tộc có nguy cơ giảm chất lượng dân số là các dân tộc cư trú ở vùng cao,vùng sâu, vùng xa có mật độ cư trú thấp và có phong tục tập quán cũ, dẫn đến hônnhân cận huyết thống, trình độ dân trí kém dẫn tới thiểu năng trí tuệ, dinh dưỡngkém, chất lượng giáo dục là các nguyên nhân trực tiếp dẫn tới chất lượng dân sốsuy giảm Theo các nhà nghiên cứu, các dân tộc có nguy cơ giảm chất lượng dân
số gồm 9 dân tộc có dân số ít người:
Dân tộc Cống: Qua các thời điểm điều tra, đồng bào Cống cư trú không ổnđịnh theo điều tra năm 1989: Người Cống ở Mường tè chỉ có 863 người, MườngLay có 185 người thì đến năm 1999 đồng bào đã tẩp tung tại huyện Mường TèTỉnh Lai châu (1.169) ngưổi trong tổng số 1.676 người toàn quốc) một số ít cư trútại huyện Mường Lay tỉnh Lai châu Theo số liệu thống kê của tỉnh Lai châu năm
Trang 52006 dân tộc Cống cư trú tại tỉnh Mường Tè có 1.149 người, có mặ ở các xã: ThịTrấn 60 người, Nậm Khao 416 người, Kan hồ 294 người và Mường Mô 376người.
Dân tộc Mảng: Qua các thời điểm kiểm tra người Mảng cư trú, tập trungkhá ổn định ở tỉnh Lai châu Dân số Mảng tính đến 01.4.1999 có 2.663 người,sống tập trung ở các huyện Mường Tè 1.019 người, Sìn Hồ 831 người và MườngLay 775 người, thuộc tỉnh Lai châu Tính đến năm 2006 dân số người Mảng ởhuyện Sìn Hồ là 1.845 người cư trú ở các xã Pa Tần 114 người Nậm Tam 945ngưỡi xã Chăn Nưa 768 người, Huyện Mường Tè có 1.716 người, cư trú ở xã Pa
Vệ Sủ 77 người, Hua Bum 318 người, Bun Nưa 992 người và xã Nậm Hàng 305người
Dân tộc Si La: Dân số Si La có nhiều biến động qua các thời điểm điều tranăm 1989, người Si La có 480 người 1999 Địa bàn cư trú tập trung tại 3 xã củahuyện Mường Tè của tỉnh Lai châu Năm 2006 huyện Mường Tè có 524 người, cưtrú tại xã Kan Hồ 503 người
Dân Tộc Cơ Lao: Cư trú ở vùng Đông bắc trong đó tập trung ở Hà Giang VàTuyên Quang Theo số liệu Điều tra 01.4.1999, dân số cơ Lao trong cả nước 1.865người, Tại tỉnh Hà Giang 1.852 người và tỉnh Tuyên Quang là 28 người Theo kếtquả nghiên cứu của viện dân tộc học, dân tộc Cơ lao có các nhóm là Cơ LaoTrắng, cơ lao Xanh tập trung tại xã Sính Lủng, huyện Hoàng Su Phì 711 người,Huyện Yên Minh 316 người, Bắc quang 151 người, Vị Xuyên 112 người và MèoVạc 67 người
Dân tộc Bố Y: Là dân tộc được sáp nhập từ hai nhóm Tu Dí và Bố Y, trong
đó nhóm Tu dí nói tiếng Hán, Nhóm Bố Y nói tiếng Tày- Thái Theo số liệu điềutra 01.4.1999 Dân tộc Bố Y có số dân là 1.864 người, cư trú tại tỉnh Hà Giang có
468 người, tập trung tại xã Quyết tiến 402 người, xã Tùng Vài 63 người thuộchuyện Quản Bạ Theo số liệu thống kê của Cục thống kê và ban dân tộc tỉnh Hà
Trang 6Giang năm 2007 Dân tộc của nhóm Bố y tại Hà Giang là 825 người, Nhóm: Tạicác xã Mường khương 293 người, Lùng Khấu Nhìn 102 người và xã Thanh Bình
313 người
Dân tộc Pu Péo: Theo số liệu thống kê 01.9.1999, dân số dân tộc Pu Péo
là 705 người cư trú tập trung tại Hà Giang 487 người tỉnh Tuyên Quang 40
Dân tộc Brâu: Dân số dân tộc Brâu rất ít chỉ có 313người cư trú tập trungtại xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi Tỉnh Con Tum
Dân tộc Rơ Măm: Chỉ có 352 người , cư trú tập trung tại xã Mô Rai Huyện
Sa Thầy, Tỉnh Con Tum
Dân Tộc Ơ Đu: hay còn gọi là người Tày hạt cư trú ở tỉnh Nghệ An dân sốhiện nay chỉ có 52 gia đình với 315 người, sống tập trung ở xã kim đa thị trấn HòaBình, huyện Tương dương, chủ yếu nói tiếng Thái còn người nói tiếng Ơ Đu cònkhông nhiều
II Phân tích tình huống:
1 Đặc điểm địa lý- kinh tế gia đình tác động đến dân tộc ít người.
Về điều kiện tự nhiên , về địa lý đất đai , độ bằng phẳng không hợp với khảnăng canh tác với năng xuất cao trong nông nghiệp, nên có thu nhập không cao, từ
đó có ảnh hưởng đến xu hướng phát triển hoặc có thể không phát triển
Kinh tế chủ yếu là khép kín, tự sản, tự tiêu, trồng cây chủ yếu là tự nuôisống bản thân là chủ yếu các nghề thủ công là phụ trợ, phục vụ gia đình, khôngtrao đổi, hoặc có nhưng hạn chế vì không có năng xuất cao, không có dư thừa màtrao đổi Vì vậy mà nền văn hóa nói chung cũng đơn điệu một số dân tộc như:
Ở Việt Nam tộc người Cơ Lao là cộng đồng người gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ
hộ nghèo còn cao, trình độ dân trí thấp, chính sự đói nghèo cản trở lớn với sự phát triển kinh tế của họ
Trang 7Người cơ lao trong bài viết về xã Tùng Sán Huyện Hoàng Su Phì Tỉnh HàGiang Nhà nghiên cứu Trần Bình cho thấy rằng trồng trọt của người Cơ Lao đâycòn biểu hiện của sự thích ứng với tự nhiên, dựa nhiều vào môi trường tự nhiên,
để có kế sinh nhai thích hợp Ở vùng núi cao độ dốc lớn, có nhiều khe, mó nước,mạch nước sát với dãy Tây Côn Lĩnh, họ bám sườn dốc để canh tác, chăn nuôitrên các ruộng bậc thang và có thu nhập ở đó, chiếm tới 70% thu nhập chung của
họ, thu nhập chính vẫn là từ trồng trọt, còn chăn nuôi mang lại nguồn lợi khôngđáng kể
Trong công trình nghiên cứu " Dân số và Phát triển của dân tộc B râu và Rơmăm ở Tây nguyên" Của Nguyễn Thế Huệ Công trình này cho thấy hai dân tộcBrâu và Rơ măm tụt lại khá xa so với các dân tộc khác, lấy trồng trọt trên nươngrãy là chính Chăn nuôi ở mức chăn thả tự nhiên, chỉ đủ cho các buổi cúng tế nhândịp các ngày quan trọng
Trong cuốn sách" Bản sắc văn hóa dân tộc Mảng " Ngọc Hải có đề cập đếnkinh tế của người Mảng Tác giả đưa ra nhận định rằng: Chăn nuôi cũng như sănbắn, đánh bắt, hái lượm dù vẫn còn chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống sinhhoạt của người Mảng, nhưng không thể hiện tính chất của loại hình kinh tế nữa.Hình thái kinh tế này vẫn còn ở giai đoạn thấp, trình độ sản xuất nương rãy, dụng
cụ thô sơ, sự phân công lao động theo giới tính, dẫn đến năng xuất cây trồngkhông cao
Một nghiên cứu khác về người Si la Khổng Diễn cho rằng cơ sở kinh tế củađồng bào là trồng trọt nông nghiệp, là chăn nuôi, tiểu thủ công và khai thác tựnhiên chỉ đóng vai trò phụ trợ cho cuộc sống
2 Các căn cứ của công tác dân số về nâng cao chất lượng dân số các dân tộc ít người :
Trang 8* Nghị Quyết 47 của bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sáchdân số - Kế hoạch hóa gia đình.
Tháng 1 năm 1993 Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành trung ương Đảng khóaVII đã ban hành nghị quyết về chính sách Dân số - KHHGĐ nhằm giải quyết vấn
đề cơ bản dân số tiến tới ổn định dân số ở nước ta
* Sau hơn 10 năm thực hiện nghị quyết này, với sự chỉ đạo sâu sát của cáccấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực của mặt trận tổ quốc, đoàn thể và sựhưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân, chính sách dân số KHHGĐ đã thục sự đi vàocuộc sống của nhân dân và đạt được những kết quả quan trọng: Nhận thức củatoàn xã hội đã có bước chuyển biến rõ rệt, qui mô gia đình có 1-2 con được chấpnhận ngày càng rộng rãi, nhịp độ gia tăng dân số đã được khống chế, số con trungbình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ 3,5 con năm 1999, xuống còn2,28 con năm 2002, và đến nay tỷ lệ tăng dân số tăng chỉ còn 1,2% năm2009( TĐT 2009)
* Quan điểm chỉ đạo của Đảng: Tiếp tục quán triệt và kiên quyết thực hiệnquan điểm của nghị quyết hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành trung ương Đảngkhóa VII về chính sách dân số và KHHGĐ, phấn đấu sớm dạt qui mô dân số đồngthời "Từng bước nâng cao chất lượng dân số Việt Nam"
2.1 Nhanh chóng đạt mức sinh thay thế, tiến tới ổn định qui mô dân số ởnước ta mức 115 -120 triệu người vào giữa thế kỷ XXI
2.2 Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam: Về thể chất, trí tuệ tinh thần, cơcấu nhằm đáp ứng nguồn lực cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
III Xử lý tình huống:
1 Mục tiêu xử lý tình huống:
1.1 Củng cố, hoàn thiện mục tiêu với đồng bào dân tộc ít người: mỗi cặp vợ chồng chỉ đẻ 1-2 con, nuôi dạy cho tốt.
Trang 91.2 Không cưới tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.
2 Đề xuất các giải pháp chủ yếu: với công tác nâng cao chất lượng dân
số các dân tộc ít người:
2.1.Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền Đưa công tác dân số
và KHHGĐ thành một nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động của cáccấp ủy và chính quyền xem đây là một tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thànhnhiệm vụ của địa phương, đơn vị
2.2.Huy động toàn bộ xã hội tham gia công tác dân số KHHGĐ, nâng caotrách nhiệm và tăng cừng sự tham gia phối hợp giữa các ngành, các cấp, doàn thểnhân dân.các tổ chức xã hội và các thành phần kinh tế tích cực tham gia công tácnày
2.3.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và giáo dục
Củng có và hoàn thiện bộ máy và tổ chức, cán bộ nâng cao hiệu quả quản lý.Chínhsách đầu tư nguồn lực
2.4.Mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản vàKHHGĐ đến tận cộng đồng dân cư, vùng sâu vùng xa trung tâm
2.5.Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam
3 Những thách thức về kinh tế, xã hội, môi trường trong phát triển.
Thành quả phát triển ở vùng dân tộc là hệ quả của những thành tựu pháttriển kinh tế, văn hóa, xã hội và những nỗ lực xóa đói giảm nghèo của đất nướcnhững năm vùa qua, từng bước cả thiện và và nâng cao đời sống vật chất , tinhthần cho nhân dân, tăng cường đoàn kết, thống nhất của cộng đồng các dân tộcViệt Nam Bên cạnh những thành tựu cơ bản đó, công cuộc xóa đói giảm nghèo
và phát trển vùng đồng bào dân tộc vẫn còn nhiều khó khăn và những thách thức,còn nhiều vấn đề đang đặt ra cần được tiếp tục được giải quyết đó là:
Trang 10- Cơ sở hạ tầng vùng đồng bào dân tộc chưa phát triển và yếu kém Hiện cảnước còn hàng trăm xã chua có đường ô tô đến trung tâm xã, đó là chưa kể đườngchưa đi lại được 4 mùa, bên cạnh đó hàng ngàn thôn bản cũng chưa có đường giaothông , nhiều xã chưa có trạm y tế đạt chuẩn, thiếu trường học, số xã và thoonbanrthiếu điện, thiếu chợ, bưu điện văn hóa xã, nhà văn hóa, trụ sở ủy ban Điều nàykéo theo việc tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân như:
Y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin đạt thấp do thiếu cơ sở vật chất kỹ thuật, chấtlượng dịch vụ, kỹ năng quản lý, nguồn lực và có khoảng cách lớn với vùng nôngthôn đồng bằng,đặc biệt là đô thị
Số hộ nghèo vùng dân tộc hiện nay chiếm phần lớn trong số hộ nghèo cảnước( 63,7%) và có tỷ lệ cao ở tất cả các vùng 62 huyện có tỷ lệ nghèo cao nhấttrên 50% đạc biệt có tỷ lệ nghèo trên 70% đều là các huyện vùng dân tộc Cá biệt
có những xã, bản, nhóm dân tộc rất ít người tỷ lệ lên tới 90%-95% Những nămgần đây tốc độ giảm nghèo chậm hơn so với mặt bằng chung, kết quả giảm nghèothiếu tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo lên tới 3%-4%/ Năm
Sản xuất nông nghiệp là ngành quan trọng giữ vai trò chủ yếu nhất của vùngdân tộc , nhưng còn mang tính tự cấp, tự túc, còng trong tình trạng manh mún,năng xuất cây trông, vật nuôi còn thấp
Chất lượng giáo dục và nguồn lực của đồng bào chưa cao tỷ lệ trẻ em bỏhọc, lưu ban cũng đáng kể, nhất là trẻ em gái, vùng cao , vùng sâu, một bộ phậncòn mù chữ, không biết tiếng phổ thông, số lao động chưa qua đào tạo, chiếm tỷ lệlớn Tỷ lệ bác sỹ ở khu vực Tây Bắc là 0,53 bác sỹ / 10000 dân so với bình quânchung là 0,97/ 10000 dân
Hệ thống chính trị cơ sở còn nhiều bất cập , đặc biệt là vùng sâu vùng xa,vùng Tây Nguyên Cán bộ vừa thiếu vừa yếu, nhất là với cán bọ người dân tộc,thiếu các điều kiện cơ sở vật chất các chế độ đãi ngộ cần thiết để hoạt dộng.Nhưng lại chậm được kiện toàn và củng cố.Một số cán bộ cơ sở không biết chữ