Tình trạng này nếu không được kiềm chế sẽ dẫn tới những hệ lụy khôn lường, tác động tiêu cực tới cấu trúc dân số và chất lượng dân số trong tương lai về vấn đề: Thể chất, trí tuệ và tinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Trang 4
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các phòng của UBND huyện Gia Lâm đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn
Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Huyền
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 5
2.1 Lý luận về nâng cao chất lượng dân số 5
2.1.1 Lý luận cơ bản về chất lượng dân số 5
2.1.2 Lý luận về nâng cao chất lượng dân số 14
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng dân số 16
2.2 Thực tiễn nâng cao chất lượng dân số 21
2.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dân số trên thế giới 21
2.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dân số tại Việt Nam 22
2.2.3 Các nghiên cứu trước đây có liên quan 28
2.2.4 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn nâng cao chất lượng dân số trên thế giới và ở Việt Nam 29
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
Trang 63.1.1 Đặc điểm cơ bản huyện Gia Lâm 30
3.1.2 Đặc điểm cơ bản của cơ quan quản lý Dân số - KHHGĐ 37
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 39
3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 39
3.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 40
3.2.4 Phương pháp xử lý và tổng hợp dữ liệu 42
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Thực trạng chất lượng dân số huyện Gia Lâm 45
4.1.1 Tổng quan về số lượng và chất lượng dân số toàn huyện Gia Lâm 45
4.1.2 Chất lượng dân số ở các xã đại diện 57
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm 68
4.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nâng cao chất lượng dân số 68
4.2.2 Y tế và chăm sóc sức khỏe 71
4.2.3 Trình độ phát triển kinh tế xã hội 76
4.2.4 Điều kiện kinh tế hộ gia đình 80
4.2.5 Giáo dục 81
4.2.6 Môi trường 82
4.3 Giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm 83
4.3.1 Căn cứ đề xuất 83
4.3.2 Định hướng nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm 86
4.3.3 Các giải pháp 86
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
5.1 Kết luận 89
5.2 Kiến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
BPTT : Biện pháp tránh thai
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DS-KHHGĐ : Dân số - kế hoạch hóa gia đình
Trang 8DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (2012 – 2014) 32 3.2 Một số chỉ tiêu về dân số, xã hội huyện Gia Lâm (2012-2014) 33 3.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Gia Lâm 3 năm
4.1 Số lượng và cơ cấu dân số theo giới tính huyện Gia Lâm qua 3
4.2 Biến động dân số huyện Gia Lâm qua 3 năm (2012 - 2014) 47 4.3 Mức tăng, giảm dân số huyện Gia Lâm trong các năm 48 4.4 Số lượng và cơ cấu dân số theo độ tuổi huyện Gia Lâm qua 3 năm
4.5 Số lượng và cơ cấu dân số theo trình độ văn hóa, chuyên môn
4.6 Số lượng và cơ cấu dân số theo ngành nghề SX – KD huyện Gia
4.7 Số lượng và cơ cấu dân số theo giới tính tại các xã điều tra 57 4.8 Thông tin cơ bản của các hộ điều tra tại các xã 58 4.9 Tình hình thể chất và sức khỏe tại các xã điều tra 59 4.10 Trình độ văn hóa chủ hộ ở các xã điều tra 60 4.11 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhóm dân số từ 18 tuổi huyện
Trang 94.15 Tình hình thu nhập bình quân đầu người/ tháng tại các xã điều tra
4.16 Điều kiện sinh hoạt của các hộ dân tại các xã điều tra 65
4.18 Tổng hợp tỷ suất khi sinh và tỷ lệ giới tính khi sinh tại
4.19 Sự tham gia của người dân trong các chương trình chăm sóc sức
4.20 Tình hình sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe công cộng tại
4.21 Sự hài lòng của người dân về chất lượng dịch vụ chăm sóc sức
4.22 Tổng hợp các hình thức truyền thông, giáo dục về DS -
4.23 Đánh giá của cán bộ DS-KHHGĐ về sự phối hợp giữa các ban
4.24 Sự hài lòng của người dân trong việc cung cấp các dịch vụ thiết
4.25 Tần suất tham gia của các hộ dân vào các tổ chức xã hội địa
4.27 Tình hình tài sản phục vụ đời sống và sản xuất 81
4.28 Tình hình giáo dục tại huyện Gia Lâm từ năm 2012 - 2014 82
4.29 Đánh giá của người dân về tình hình vệ sinh môi trường
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ
4.1 Mật độ dân số giữa các khu vực huyện Gia Lâm qua 3 năm (2012 - 2014) 49
4.8 Số lượng dân số theo ngành nghề sản xuất kinh doanh 56
Trang 11và quốc tế đăng tải - minh chứng cho sự thành công của công tác DS-KHHGĐ trong thời gian qua Với việc chạm mốc 90 triệu dân đồng nghĩa với việc nước ta
đã bước vào thời kỳ có cơ cấu “dân số vàng” và theo dự báo của các nhà khoa học thời kỳ này sẽ kéo dài từ 30 - 35 năm Đây được coi là thời cơ hiếm có để thúc đẩy đất nước phát triển về mọi mặt, khi chúng ta đang sở hữu một nguồn nhân lực lớn với hơn 62 triệu dân (chiếm 69% dân số) trong độ tuổi lao động Thị trường rộng lớn, nguồn nhân lực dồi dào hứa hẹn Việt Nam sẽ là điểm đến đầy tiềm năng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Từng bước góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Mặc dù đang ở thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” nhưng công tác dân số trong giai đoạn hiện nay cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức như: Mất cân bằng giới tính khi sinh và chất lượng dân số còn hạn chế về sức khỏe, trí tuệ…có thể xem là những “mảng tối” trong bức tranh dân số nước ta thời điểm hiện tại Tại Hội nghị tổng kết công tác DS - KHHGĐ năm 2014 do Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tổ chức tại Hà Nội, các chuyên gia đã đưa ra dự báo: với xu hướng mất cân bằng giới tính như hiện tại, đến năm 2035, Việt Nam có thể sẽ dư thừa 10% nam giới trưởng thành so với nữ giới Tình trạng này nếu không được kiềm chế sẽ dẫn tới những hệ lụy khôn lường, tác động tiêu cực tới cấu trúc dân số và chất lượng dân số trong tương lai về vấn đề: Thể chất, trí tuệ và tinh thần của con người sống trong xã hội Mặc dù đã có những bước tiến nhất định nhưng nhìn chung, việc thực hiện các yếu tố trên còn hạn chế Về thể chất, tuổi thọ trung bình của người dân gia tăng nhưng số người già đau yếu còn chiếm số lượng lớn, tình trạng trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh do di truyền ngày càng cao Điều kiện sống của một bộ phận không nhỏ người dân
Trang 12hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Cuộc sống mưu sinh cùng gánh nặng cơm áo hàng ngày khiến họ không có điều kiện thụ hưởng các giá trị văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần Mặc dù có nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta còn thấp, trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế chủ yếu là lao động giản đơn nên giá trị thặng dư từ lao động mang lại không cao, theo số liệu năm 2010 hơn 60% người lao động chưa qua đào tạo (Trần Quang Đại, 2012) Chỉ số phát triển con người (HDI) ở nước ta thời gian qua đã từng bước được cải thiện, song vẫn ở mức thấp, xếp ở nhóm sau cùng của thế giới, năm 2013 chỉ số HDI của Việt Nam đứng ở mức 127/186 trong bảng xếp hạng về chỉ số phát triển con người của Liên Hợp Quốc (Ngô Gia Bảo, 2014)
Chất lượng dân số thấp đang là thách thức không nhỏ, cản trở sự phát
triển của đất nước Do đó, việc nâng cao chất lượng dân số cần là ưu tiên hàng đầu của đảng và nhà nước nhất là trong giai đoạn nước ta đang trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” như hiện nay Điều này được thể hiện cụ thể trong điều 21 Pháp lệnh dân số năm 2003; Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2012-2030; chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2012 -
2020, Chương trình mục tiêu quốc gia về dân số và KHHGĐ đến năm 2015,… Huyện Gia Lâm có 22 xã, thị trấn, địa bàn rộng, số dân đông gần 26 vạn người, mật độ dân số khoảng 2.100 người/km2, mỗi năm có gần 5.000 trẻ sinh
ra Trong nhiều năm qua, công tác DS- KHHGĐ nói chung và vấn đề nâng cao chất lượng dân số nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế-xã hội của Huyện luôn được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Ngành dân số từ huyện đến cơ sở đã tổ chức nhiều hoạt động, đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng trong thực hiện các hành vi dân số sức khỏe sinh sản KHHGĐ, tiến tới nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Tuy nhiên, công tác DS- KHHGĐ huyện Gia Lâm vẫn đứng trước những khó khăn, thách thức: tỷ lệ bà mẹ, trẻ em đến khám trước và sau sinh còn hạn chế gây khó khăn cho các cán bộ dân số trong việc bảo đảm nâng cao sức khỏe cho bà mẹ trẻ em Kết quả giảm sinh và giảm sinh con thứ 3 trở lên chưa thực sự vững chắc, tâm lý sinh con trai còn nặng
nề ở một số hộ gia đình dẫn đến tỷ lệ chênh lệch giới tính ở trẻ sơ sinh đang diễn
Trang 13biến phức tạp, khó kiểm soát và là vấn đề rất đáng lo ngại (tỷ số giới tính khi sinh
6 tháng đầu năm là 129 trẻ trai/100 trẻ gái) nếu không có biện pháp giải quyết sẽ gây tác động tiêu cực đến cấu trúc dân số trong tương lai
Trước đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về dân số, tuy nhiên các nghiên cứu này thường chú trọng đến các chỉ số về tốc độ tăng dân số, số người sinh con thứ 3,
tỷ lệ giới tính…mà ít quan tâm đến chất lượng dân số Trong khi đó việc nâng cao chất lượng dân số có tác động lớn đến sự phát triển bền vững của đất nước
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng dân số, các yếu tố ảnh hưởng
mà đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dân số nhằm góp phần thực hiện tốt chiến lược dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng dân số;
- Đánh giá thực trạng chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm những năm qua;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm;
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Chất lượng dân số được phản ánh thông qua những chỉ số nào?
- Thực trạng số lượng, chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm những năm qua như thế nào?
- Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm là gì?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm?
Trang 14- Giải pháp nào nhằm nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dân số được thể hiện thông qua các đối tượng:
Các hộ dân trên địa bàn huyện Gia Lâm, các cán bộ làm công tác dân số
và các phòng ban có liên quan trong việc thực hiện triển khai các hoạt động về Dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm
Các nhóm dân số chủ yếu: công chức, người lao động, học sinh,
Cơ quan quản lý dân số: Chi cục dân số - KHHGĐ, Trung tâm dân số - KHHGĐ
Về đối tượng: Công chức, người lao động, học sinh; tập trung nghiên cứu nhóm đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ từ 15- 49
Về không gian: Đề tài được thực hiện tại huyện Gia Lâm - TP Hà Nội; một số nội dung chuyên sâu khảo sát ở một số xã đại diện
Về thời gian:
- Đề tài sử dụng các nguồn tin, dữ liệu thứ cấp tại địa phương từ năm 2012 đến 2014;
- Dữ liệu sơ cấp: thu thập 2014
- Các giải pháp đề xuất cho 2015 - 2020
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 2.1 Lý luận về nâng cao chất lượng dân số
2.1.1.1 Các khái niệm
a Dân số và các loại dân số
Bách khoa toàn thư mở wikipedia định nghĩa: “Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng một tháp dân số”
* Dân số chỉ tất cả những người sống trong phạm vi một địa giới nhất định (một nước, một vùng kinh tế, một đơn vị hành chính, v.v ) có đến một thời điểm hay trong một khoảng thời gian nhất định (Nguyễn Đình Cử, 2012)
* Dân số thường trú: Trong thống kê, dân số được gọi theo khái niệm
“Nhân khẩu thực tế thường trú”, khái niệm này phản ánh những người dân thực
tế thường xuyên cư trú tại hộ tính đến thời điểm thống kê đã được 6 tháng trở lên
và những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ, không phân biệt họ đã được đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã/phường/thị trấn đang ở hay chưa (Nguyễn Đình Cử, 2012)
Nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ bao gồm:
Những người vẫn thường xuyên ăn ở tại hộ tính đến thời điểm thống kê
đã được 6 tháng trở lên
Những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ và những trẻ em mới sinh trước thời điểm thống kê; không phân biệt họ đã có hay không có giấy tờ pháp lý
chứng nhận sự di chuyển đó Những người “tạm vắng” bao gồm:
+ Những người đi nghỉ hè, nghỉ lễ, đi công tác, đi du lịch, dự lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, đi chữa bệnh, v.v…;
Trang 16+ Những người đang bị tạm giữ;
+ Những người rời gia đình đi làm ăn ở nơi khác tính đến thời điểm thống
kê chưa đủ 6 tháng (nếu đã rời gia đình đi làm ăn ở nơi khác tính đến thời điểm thống kê đủ 6 tháng trở lên thì được tính tại nơi đang ở) Chỉ tiêu “Dân số” được chi tiết hoá theo một số chỉ tiêu cơ bản nhất như sau:
* Dân số tạm trú: Là những người không thường xuyên sinh sống tại một địa phương, nhưng lại có mặt vào thời điểm điều tra tại địa phương đó (Nguyễn Đình Cử, 2012)
* Dân số tạm vắng: Là những người thường xuyên sinh sống tại một địa phương, nhưng tại thời điểm điều tra lại vắng mặt tại địa phương đó (Nguyễn Đình Cử, 2012)
b Số lượng dân số và mức tăng giảm dân số
* Số lượng dân số là tổng số dân sinh sống (cư trú) trong những vùng lãnh thổ nhất định vào những thời điểm xác định Số lượng dân số bao gồm: Số lượng dân số thời điểm và số lượng dân số trung bình (Nguyễn Đình Cử, 2012)
- Số dân thời điểm: là tổng số người sinh sống trong một vùng lãnh thổ
nhất định vào những thời điểm xác định (có thể là đầu năm, cuối năm, giữa năm hoặc thời điểm t bất kỳ nào đó ) (Nguyễn Đình Cử, 2012)
- Số dân trung bình (Ký hiệu thường dùng: P ) là số trung bình cộng của
các dân số thời điểm (Nguyễn Đình Cử, 2012)
* Mức tăng giảm chung dân số
Mức tăng (giảm) chung dân số = Lượng tăng (giảm) tự nhiên + Lượng tăng (giảm) cơ học
Lượng tăng hay giảm dân số bao gồm hai thành phần: Lượng tăng (hay giảm) tự nhiên (natural increase), là chênh lệch giữa số sinh và số chết và lượng tăng (giảm) cơ học hay di dân thuần tuý (net migration), là chênh lệch giữa số di dân đến và đi ở một vùng
Trang 17Trong nhiều trường hợp thì biến động tự nhiên đóng vai trò quyết định đến sự thay đổi dân số nhiều hơn so với biến động cơ học Điều này phù hợp với những nước đang phát triển, hiện đang ở thời điểm giữa của giai đoạn quá độ dân
số, thời kỳ mà số sinh lớn hơn số chết nhiều (Nguyễn Đình Cử, 2012)
* Tốc độ gia tăng dân số
Tốc độ gia tăng dân số (r) là một số tương đối biểu thị nhịp độ tăng giảm quy mô dân số trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hay một giai đoạn (Nguyễn Đình Cử, 2012)
c Cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số là tổng số dân và tỷ lệ số dân được phân loại theo giới tính,
độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác (Nguyễn Đình Cử, 2012)
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi: để đánh giá cơ cấu tuổi của dân số ta chia tổng số dân theo từng độ tuổi hay nhóm tuổi tùy theo mục đích nghiên cứu (nhóm độ tuổi dưới sinh sản (<15), trong độ tuổi sinh sản (15 - 49) và trên độ tuổi sinh sản (>49), rồi tính tỷ trọng dân số của từng độ tuổi hay nhóm tuổi trong tổng số dân (Nguyễn Đình Cử, 2012)
Cơ cấu tuổi là biến số quan trọng trong quá trình phát triển và để lập kế hoạch phát triển KTXH, nó cũng là cơ sở quan trọng để đánh giá các quá trình dân
số, tái sản xuất dân số, lập các kế hoạch và theo dõi tình hình thực hiện KHHGĐ Các chỉ tiêu đánh giá cơ cấu dân số theo tuổi:
- Tỷ trọng dân số ở từng độ tuổi, nhóm tuổi: Được xác định bằng cách so sánh số
dân ở độ tuổi (hay nhóm tuổi) i nào đó với tổng số dân
* Dân số trẻ: Một tổng thể dân số có tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi lớn hơn 35% và tỷ trọng dân số từ 60 tuổi trở lên là dưới 10% (Nguyễn Đình Cử, 2012)
* Dân số già: Tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi nhỏ hơn 25% và tỷ trọng dân số từ
60 tuổi trở lên trên 10% so với tổng dân số (Nguyễn Đình Cử, 2012)
Trang 18* Tỷ lệ phụ thuộc của dân số
Tỷ lệ phụ thuộc của dân số biểu hiện quan hệ so sánh giữa dân số ngoài độ tuổi lao động (dưới 15 và 60 tuổi trở lên) với tổng số người trong độ tuổi lao động (15-59) Công thức để tính tỷ số phụ thuộc của dân số như sau:
Tỷ lệ phụ thuộc chung = Po-14 +P60 x 100
P 15-59
Ý nghĩa: Tỷ lệ phụ thuộc chung cho biết trung bình 100 người trong độ tuổi lao động phải “gánh đỡ” cho bao nhiêu người ngoài độ tuổi lao động (Nguyễn Đình Cử, 2012)
* Cơ cấu dân số vàng hay còn gọi là dư lợi dân số là thuật ngữ dùng để
phản ảnh một dân số có tỷ lệ người lao động (15-59) đạt tối đa và tỷ lệ người phụ thuộc đạt ở mức thấp nhất (người từ 0-14 và trên 60 tuổi); tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn 50 % Khi tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn 50 thì “gánh nặng” thấp bởi trung bình một người ngoài độ tuổi lao động được “hỗ trợ” bởi hơn hai người trong độ tuổi lao động Khi dân số đạt được tỷ số phụ thuộc chung như vậy, chúng
ta coi dân số đó đang đạt “cơ cấu vàng” “Cơ cấu dân số vàng” sẽ kết thúc khi tỷ
số phụ thuộc chung bắt đầu tăng trở lại và vượt ngưỡng 50 Theo Ross (2004), khi dân số trong giai đoạn “cơ cấu vàng”, nguồn lực đầu tư cho nhóm dân số trẻ sẽ cần
ít hơn và có thể được sử dụng vào phát triển kinh tế và phúc lợi hộ gia đình Những lợi ích kinh tế có được từ sự thay đổi cơ cấu dân số được gọi là “lợi tức dân số” và vì thế “lợi tức dân số vàng” là mục tiêu mà chính phủ các nước phải tận dụng triệt để khi dân số đạt cơ cấu “vàng” (Nguyễn Đình Cử, 2012)
Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc định nghĩa “cơ cấu dân số vàng” đó là thời
kỳ mà tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi giảm xuống dưới 30% và tỷ trọng người già từ 65 tuổi trở lên còn ở mức dưới 15% trong tổng dân số (Ngô Lực Tải, 2014)
- Cơ cấu dân số theo giới tính
Toàn bộ dân số nếu được phân chia thành dân số nam và dân số nữ hình thành nên cơ cấu dân số theo giới tính (Nguyễn Đình Cử, 2012)
Trang 19Cơ cấu dân số theo giới tính được đánh giá theo các chỉ tiêu về tỷ số giới tính (SR) và tỷ số giới tính khi sinh (SRB) Thông thường cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng 102 đến 107 bé trai nếu tỷ lệ này bị phá vỡ sẽ tác động lên cơ cấu giới tính của dân số trong tương lai và dẫn đến hiện tượng thừa nam giới Điều này sẽ làm tăng các tệ nạn xã hội và ảnh hưởng đến suy giảm chất lượng dân số (Nguyễn Đình Cử, 2012)
Cơ cấu tuổi giới tính chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những biến động dân số như sinh, chết và di dân Ngược lại, bản thân cơ cấu tuổi và giới tính đóng vai trò
là các biến độc lập tác động tới các hiện tượng dân số và kinh tế xã hội (Nguyễn Đình Cử, 2012)
- Tháp dân số
Tháp dân số (tháp tuổi - giới tính) là cách biểu thị cơ cấu tuổi và giới tính của dân số bằng hình học Tháp dân số được phân chia thành 2 phần bằng một trục thẳng đứng ở giữa được gọi là trục tuổi dùng để biểu diễn độ tuổi hoặc nhóm tuổi của dân số Các thanh hình chữ nhật nằm ngang hai bên trục tuổi biểu thị cơ cấu dân số theo tuổi của nam và nữ, bên trái là nam, bên phải là nữ Hình dạng của tháp dân số không chỉ cung cấp các thông tin khái quát về cơ cấu tuổi và giới tính của dân số vào thời điểm xác định, mà còn có thể cho phép đánh giá đặc điểm cơ bản của tái sản xuất dân số trong quá khứ phân tích các yếu tố tác động làm thay đổi quy mô và cơ cấu tuổi, giới tính của dân số trong những thời gian trước đó, đặc biệt các yếu tố như chiến tranh, di dân hàng loạt, nạn đói, bệnh dịch
… Đồng thời, tháp dân số còn cho ta phán đoán được xu hướng phát triển của dân số trong tương lai (Nguyễn Đình Cử, 2012)
d Phân bố dân số
Phân bố dân số là sự sắp xếp số dân trên một vùng lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của người dân và các yêu cầu nhất định của xã hội (Nguyễn Đình Cử, 2012)
* Phân bố dân số tuân theo các quy luật sau:
Trang 20+ Phân bố dân số theo quy hoạch thống nhất, đồng đều;
+ Phân bố dân số một cách ngẫu nhiên;
+ Phân bố dân số sắp xếp có xu hướng co cụm
* Các chỉ tiêu đánh giá sự phân bố dân số:
- Mật độ dân số: Là chỉ số xác định mức độ tập trung của số dân sinh sống trên một lãnh thổ và được tính bằng tương quan giữa số dân trên một đơn vị diện tích ứng với số dân đó (Nguyễn Đình Cử, 2012)
- Tỷ trọng dân số từng vùng: là tỷ lệ phần trăm dân số ở một vùng so với toàn bộ dân số của một lãnh thổ, ví dụ như: tỷ lệ dân số thành thị và dân số nông
thôn, tỷ lệ dân số ở từng châu lục ( Nguyễn Đình Cử, 2012)
Ăng-ghen cho rằng: “Chất lượng dân số là khả năng của con người thực hiện các hoạt động một cách hiệu quả nhất”
Theo quan điểm của các nhà nhân khẩu học Nga, chất lượng dân số là
“Khái niệm trung tâm của hệ thống tri thức của dân số” được phản ánh bởi các chỉ tiêu:
- Trình độ giáo dục
- Cơ cấu nghề nghiệp, xã hội
- Tính năng động của tình trạng sức khỏe
Chất lượng dân số hình thành nhờ chăm sóc y tế, giáo dục và đào tạo nghề cũng như các hoạt động cụ thể khác như văn hóa thể thao, du lịch… Nó tương ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 21Theo Chủ nghĩa Mac - Lê Nin, bản chất và nội dung của CLDS xuất phát
từ các quá trình và quan hệ xã hội, được hình thành thông qua quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và đào tạo (Nguyễn Đình Cử, 2012)
- Quan điểm trong nước
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (2005), “Chất ” là phạm trù triết học biểu thị những bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của
nó, phân biệt nó với các sự vật khác Như vậy, “chất lượng dân số phải được biểu
thị bằng các thuộc tính bản chất của dân số”, tổng hợp lại đó có thể là các thuộc
tính về thể lực, trí lực, năng lực xã hội và tính năng động xã hội…
Chất lượng dân số hàm chứa một hệ thống các đặc trưng của dân số: Trình
độ học vấn, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu xã hội, tính năng động, tình trạng sức khoẻ và các đặc trưng khác của dân số Mỗi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ tương ứng với một mức độ chất lượng dân số nhất định Như vậy, nó được phản ánh thông qua các tiêu chí cụ thể liên quan đến tình trạng tầm vóc, thể lực, sức khoẻ sinh sản, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật, cơ cấu và kỹ năng nghề nghiệp, đời sống vật chất và các dịch
vụ xã hội cơ bản, đời sống tinh thần và các vấn đề văn hoá thông tin, gắn kết
cộng đồng và an ninh xã hội (Đoàn Minh Lộc, 2013)
Pháp lệnh dân số Việt Nam ( 2003) đã định nghĩa: “Chất lượng dân số phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số” Dựa trên các quan điểm nêu trên, trong nghiên cứu này chất lượng dân số được hiểu là tổng thể các thành tố tạo nên sức khỏe, trình độ học vấn và mức sống bao gồm các yếu tố về vật chất và tinh thần của con người nói chung Chất lượng dân số bao hàm chất lượng người từ lúc mới sinh cho đến khi chết, cả nam và nữ Chất lượng dân số không chỉ được đánh giá về nhân trắc học (chiều cao, cân nặng, các số đo cơ bản về vòng ngực, bụng, tay, chân, sự cân đối của cơ thể với từng lứa tuổi ), tố chất, sức chịu đựng dẻo dai… mà còn được nhìn nhận thông qua cuộc sống tinh thần, con người quan hệ với nhau như thế nào, họ
Trang 22có cơ hội bình đẳng không trước sự lựa chọn việc làm, giáo dục, phúc lợi, hôn nhân gia đình , có được tôn trọng và tự do cá nhân không, họ có môi trường để phát huy khả năng sáng tạo hay không trong thực tế Chất lượng dân số bao hàm các khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực, khái niệm chất lượng lao động (Nguyễn Thị Thiềng, 2012)
2.1.1.2 Vai trò của dân số và chất lượng dân số
Dân số vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng của cải của xã hội Vì vậy, qui mô, cơ cấu của dân số quyết định qui mô, cơ cấu của sản xuất và tiêu dùng Con người - dân số đóng vai trò trung tâm trong mọi chương trình, chiến lược phát triển, nó vừa là điều kiện, phương tiện, vừa là mục tiêu của phát triển Phát triển kinh tế xã hội dù ở đâu và thời kỳ nào đều nhằm hướng tới việc
phục vụ cho mục tiêu phát triển toàn diện con người (Nguyễn Nam Phương, 2010)
Dân số vừa là chủ thể, vừa là khách thể của xã hội, vừa là người tổ chức thực hiện các mặt hoạt động của đời sống xã hội, vừa là yếu tố chủ yếu quyết định mọi mặt hoạt động, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của các hoạt động kinh
tế, xã hội Do đó quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến mọi hoạt động của đời sống xã hội (Nguyễn Đình Cử, 2012)
2.1.1.3 Đặc điểm dân số và chất lượng dân số
a Dân số
Dân số luôn luôn biến động theo thời gian và không gian Những biến động về dân số có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội Nhằm đảm bảo sự kiểm soát nhất định đối với vấn đề dân số của một quốc gia thì quốc gia thường có những cuộc điều tra dân số để làm cơ sở đánh giá, nhân định và đưa ra những chính sách đối với vấn đề dân số của quốc gia mình
b Chất lượng dân số
Chất lượng dân số có 3 đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: Chất lượng dân số có tính đặc trưng theo từng vùng, từng thời kỳ
Trang 23Thứ hai: Trong chất lượng dân số yếu tố chất lượng con người đòi hỏi phải được tích lũy, phát triển, rèn luyện qua thời gian, nó sẽ mất dần đi nếu không được sử dụng, rèn luyện và phát triển thường xuyên
Thứ 3: CLDS gắn liền với quá trình tái sản xuất dân số nên nó cũng mang tính mâu thuẫn và tính quán tính, để đổi mới chất lượng dân số chúng ta cần thời gian và thế hệ (Nguyễn Đình Cử, 2012)
2.1.1.4 Cấu thành và các chỉ tiêu phản ánh chất lượng dân số
Theo Ủy ban thường vụ quốc hội, Pháp lệnh dân số (2003), chất lượng dân
số bao gồm các thành phần sau:
- Thể chất: Gồm nhiều yếu tố khác nhau trong đó các số đo về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo, dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi, thọ, gen di truyền của người dân
- Trí tuệ: Gồm các yếu tố như trình độ học vấn, thẩm mỹ, chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề thể hiện qua tỷ lệ biết chữ, số năm bình quân đi học/người, tỷ lệ người có bằng cấp được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ
- Tinh thần: Gồm các yếu tố về ý thức và tính năng động xã hội thể hiện qua mức tiếp cận và tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thông tin, cùng người dân
Theo bộ tiêu chí phản ánh chất lượng dân số tại Việt Nam, CLDS Việt Nam được cấu thành từ 5 thành tố, ngoài 3 thành tố nêu trên còn có các đặc trưng
về nhân khẩu học phản ánh các đặc trưng về mức sinh, chết, cơ cấu dân số (Theo giới tính, độ tuổi, theo địa lý) và đặc trưng về đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản phản ánh khía cạnh hiệu quả của dân số (Đoàn Minh Lộc, 2013)
2.1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng
Yếu tố di truyền: yếu tố này liên quan đến giống nòi của các dân tộc
Nhằm giảm tỷ lệ trẻ em sinh ra bị dị tật bẩm sinh trong những năm qua chúng ta
đã triển khai đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh có thể phát hiện sớm những bị
dị tật bẩm sinh, có thể đình chỉ thai nghén hoặc phát hiện sớm và can thiệp kịp
Trang 24thời nhưng đứa trẻ sinh ra bị bệnh bẩm sinh như: thiếu men G6PD, suy giáp trạng
bẩm sinh… để trẻ có thể phát triển bình thường (Nguyễn Đình Cử, 2012)
Yếu tố kinh tế xã hội : các yếu tố kinh tế - xã hội tạo điều kiện và là tiền đề
nâng cao chất lượng dân số Các yếu tố kinh tế - xã hội luôn luôn tác động đến chất lương dân số thông qua các đặc trưng về văn hoá cộng đồng Các đặc trưng này gồm: phong tục, tập quán, truyền thống, cấu trúc cộng đồng…
Các chính sách kinh tế, văn hoá, giáo dục xã hội liên quan ảnh hưởng tích cực đến nâng cao chất lượng dân số
Các yếu tố kinh tế xã hội bao gồm: Thu nhập và phân phối thu nhập, lao động, việc làm, giao thông liên lạc, sức khoẻ, nhà ở, môi trường, cuộc sống gia đình, tham gia công tác xã hội của phụ nữ và trật tự an toàn công cộng (Nguyễn Đình Cử, 2012)
2.1.2.1 Ý nghĩa nâng cao chất lượng dân số
Có sự liên quan chặt chẽ giữa chất lượng dân số và phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực, chất lượng giống nòi và chất lượng cuộc sống Việc cải thiện, nâng cao chất lượng dân số sẽ góp phần cải thiện các vấn đề đó Nâng cao chính chất lượng dân số cho thấy sự cải thiện chất lượng cuộc sống và là cách nâng cao chất lượng cuộc sống tốt hơn nữa
Theo Ủy ban thường vụ Quốc hội (2003) Pháp lệnh dân số điều 20 chỉ rõ:
1 Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước
2 Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2.1.2.2 Nội dung nâng cao chất lượng dân số
a Nâng cao thể chất
Trang 25Thể chất con người phụ thuộc vào quy luật di truyền (chi phối tầm vóc, thể lực như chủng tộc, giống nòi, giới tính, các yếu tố gen, ), phụ thuộc vào yếu
tố môi trường, yếu tố chăm sóc dinh dưỡng đặc biệt trong giai đoạn bào thai, sơ sinh và đầu đời từ (1-5 tuổi) và giai đoạn vị thành niên (10-19 tuổi); phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, hoạt động thể lực (sự rèn luyện sức khỏe, thể dục thể thao, lao động, vui chơi giải trí ); phụ thuộc vào chất lượng đời sống gia đình và
xã hội (Hoàng Lê Đông Thảo, 2013)
b Nâng cao trí tuệ
Nâng cao trí tuệ là nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề, phát triển tài năng, phát huy năng lực sáng tạo Trình độ học vấn của dân cư được nâng cao sẽ là chìa khóa cho việc phát triển trí tuệ của họ Học vấn được nâng lên người dân sẽ có được cái nhìn và thay đổi hành vi ứng xử với thế giới và quan trọng nhất là giúp họ cải thiện được việc làm và thu nhập Nhưng các hoạt động này còn phụ thuộc vào bản thân người dân tức là phụ thuộc vào nhận thức, thói quen, văn hóa,
Nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp là điều kiện để người dân có cơ hội và tận dụng cơ hội tham gia vào các khóa đào tạo nghề để có được nghề nghiệp chuyên môn nào đó đem lại thu nhập cho họ (Hoàng Lê Đông Thảo, 2013)
c Nâng cao yếu tố ý thức, thái độ hành vi
Nâng cao yếu tố tinh thần phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản: Giáo dục, đạo đức, thẩm mỹ, văn hóa, chính trị, truyền thống gia đình, dân tộc, chất lượng đời sống văn hóa, thông tin và giải trí, điều kiện môi trường xã hội phát triển, phong tục, tập quán và các phong trào xã hội và sinh hoạt tôn giáo
Nâng cao yếu tố tinh thần của con người là nhằm nâng cao ý thức và tính năng động xã hội của con người thể hiện qua sự gia tăng mức độ tiếp cận, hưởng thụ và tham gia các dịch vụ xã hội, văn hóa, thông tin, vui chơi, giải trí của người dân (Hoàng Lê Đông Thảo, 2013)
d Nâng cao mức sống (Vật chất và Tinh thần)
Trang 26Dịch vụ là một hình thức lao động để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống và sản xuất, là sản phẩm của sức sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật phát triển đến một giai đoạn nhất định
Dịch vụ xã hội là một loại dịch vụ có tổ chức của nhà nước nhằm cung cấp những trợ giúp hay tư vấn trong những vấn đề như sức khỏe, nhà ở, chăm sóc trẻ
em, luật pháp (Hoàng Lê Đông Thảo, 2013)
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng dân số
Có nhi0ều yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng dân số Tuy nhiên, ở trong nghiên cứu này chúng ta sẽ nghiên cứu chủ yếu các nhóm yếu tố sau:
2.1.3.1 Yếu tố sinh học và di truyền
Như trên đã phân tích, yếu tố về di truyền và sinh học dưới giác độ chủng tộc không tác động đến chất lượng dân số Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã cho thấy, những đứa trẻ sinh ra từ các bà mẹ chưa thành niên (dưới 18 tuổi) và từ những bà mẹ quá lớn tuổi (trên 40 tuổi) có nguy cơ cao về chậm phát triển thể chất Vì vậy, tuyên truyền rộng rãi cho phụ nữ, không sinh con trước tuổi 22 và sau tuổi 35 cũng là một giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dân số (Nguyễn Thị Thiềng, 2012)
2.1.3.2 Chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống có nội dung rất phong phú liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người Nó thể hiện thông qua mức độ thỏa mãn nhu cầu về vật chất, cũng như tinh thần của cá nhân, cộng đồng và toàn thể xã hội Chất lượng cuộc sống là một khái niệm động, không ngừng thay đổi từ thấp đến cao phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, chế độ chính trị, quan niệm về văn hóa và truyền thống của mỗi dân tộc ở từng giai đoạn phát triển của xã hội Vì vậy, cần phải sử dụng nhiều chỉ tiêu đánh giá mới phản ánh hết bản chất của chất lượng cuộc sống Theo William Bell, chất lượng cuộc sống có thể được đánh giá thông qua 12 chỉ báo: (1) An Toàn; (2) Sung túc về kinh tế; (3) Công bằng về pháp luật; (4) An ninh quốc gia; (5) Bảo hiểm lúc tuổi già, ốm đau; (6) Hạnh phúc về tinh thần; (7) Sự tham gia vào đời sống xã hội; (8) Bình đẳng về giáo
Trang 27dục, nhà ở và nghỉ ngơi; (9) Chất lượng đời sống văn hóa; (10) Quyền tự do công dân; (11) Chất lượng môi trường kỹ thuật (giao thông, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, thiết bị y tế…; (12) Chất lượng môi trường sống
Như vậy, có thể hiểu là chất lượng cuộc sống phản ánh sự thỏa mãn nhu cầu, trước hết là nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người Mức độ đáp ứng sự thỏa mãn càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao UNDP đã từng thống kê tới nhu cầu cơ bản của con người khi đánh giá chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống càng cao sẽ giúp cho con người phát triển cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần Điều này làm cho chất lượng dân số được cải thiện Ngược lại, nếu mức độ thỏa mãn nhu cầu, đặc biệt là các nhu cầu cơ bản của cuộc sống con người không được đáp ứng đầy đủ, là một nhân tố làm cho con người không phát triển về thể lực; trí lực và tinh thần Đây là nguyên nhân làm cho chất lượng dân số giảm sút (Nguyễn Thị Thiềng, 2012)
2.1.3.3 Điều kiện kinh tế trong từng gia đình
Có thể phân chia ảnh hưởng của kinh tế đến chất lượng dân số thành hai cấp độ: cấp độ kinh tế vĩ mô (sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia) và ở cấp độ
vi mô (kinh tế của hộ gia đình) Nếu xét ở cấp độ kinh tế vĩ mô, với một nền kinh
tế phát triển, Chính phủ sẽ có điều kiện đầu tư cho phát triển giáo dục, nâng cao trình độ dân trí cho người dân, từ đó cải thiện trí lực của dân số Thứ hai, với một nền kinh tế phát triển, Chính phủ sẽ có điều kiện để đảm bảo an ninh xã hội, thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao sức khỏe về thể lực cho người dân Mặt khác, nếu kinh tế phát triển, Chính phủ sẽ có điều kiện để đầu tư phát triển hạ tầng cơ
sở y tế, tăng cường đào tạo cán bộ y tế và mua sắm trang thiết bị y tế hiện đại phục vụ cho công cuộc chăm sóc sức khỏe của người dân từ đó nâng cao chất lượng dân số
Ở cấp độ kinh tế gia đình (lao động, việc làm), những gia đình giàu có thường có tiền đầu tư về giáo dục cho con cái để nâng cao trình độ học vấn Đối với những gia đình này vấn đề bình đẳng nam nữ về giáo dục (giữa con trai và con gái cũng được chú ý) Đồng thời những gia đình này thường có điều kiện sống tốt (nhà ở và môi trường gần cận gia đình: công trình vệ sinh, nước sạch) Đây cũng là
Trang 28điều kiện để giúp con người ít mắc bệnh hơn đặc biệt là các bệnh thường gặp ở nước nghèo như: Giun sán, bệnh phổi, thấp khớp, lao Do điều kiện kinh tế gia đình khá giả họ có điều kiện tận hưởng dịch vụ y tế hiện đại nhằm bảo vệ sức khỏe
và đẩy lùi cái chết Tuy nhiên, khi nói đến điều kiện kinh tế ở cấp độ gia đình có ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng dân số là phải nói đến điều kiện kinh tế của đại bộ phận dân cư chứ không phải là điều kiện kinh tế của một vài hộ gia đình đơn lẻ Vì vậy, công cuộc cải cách kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống chung của toàn xã hội chính là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cải thiện chất lượng dân số (Nguyễn Thị Thiềng, 2012)
2.1.3.4 Y tế và chăm sóc sức khỏe
Sức khoẻ là vốn quý của con người Giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ là nhiệm vụ của mỗi người và toàn xã hội Sức khoẻ của mỗi người lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: sinh học, điều kiện sống, trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của từng nước, môi trường và chính sách chăm sóc sức khoẻ quốc gia Ngày nay, trình độ phát triển y học và phương tiện phòng trị bệnh ngày càng cao, nhưng lại không đồng đều giữa các quốc gia Điều đó làm cho tỷ lệ người có sức khoẻ tốt ở các nước nghèo thấp hơn các nước giàu Tại các nước nghèo tỷ lệ người mắc các bệnh như: lao, sốt rét, suy nhược cơ thể ở người lớn, suy dinh dưỡng trẻ em, bệnh giun sán rất cao Do sự tiến bộ về y học trên thế giới, loài người đã không còn khiếp sợ các loại bệnh trên Tuy nhiên, thế giới lại xuất hiện một số bệnh khác, các bệnh này lại lan truyền rất nhanh ở cả các nước đang phát triển và phát triển như: HIV/AIDS; bệnh căng thẳng thần kinh (stress); H1N1… Các chỉ báo đánh giá sự chăm sóc bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, nâng cao chất lượng dân số là:
- Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em: Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng các loại vác-xin; số nhà hộ sinh trên tổng số dân; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng…
- Chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng: số cơ sở y tế; số giường bệnh;
số nhân viên y tế (y sỹ, bác sỹ, y tá…) trên 10.000 dân; tỷ lệ các loại bệnh đặc trưng theo vùng địa lý; tỷ lệ người nhiễm HIV…
Trang 29- Sàng lọc trước sinh và sơ sinh: Tỷ lệ các cơ sở y tế có cung cấp dịch vụ sàng lọc trước sinh và sơ sinh; Tỷ lệ phụ nữ mang thai được xét nghiệm sàng lọc khi mang thai; Tỷ lệ trẻ sơ sinh được xét nghiệm xác định dị tật; Tỷ lệ trẻ em được điều trị sớm các dị tật bẩm sinh (Nguyễn Thị Thiềng, 2012)
2.1.3.5 Giáo dục
Những chỉ báo phản ảnh tình trạng của giáo dục là: tỷ lệ người đi học; số luợng học sinh ở các cấp (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học), tỷ lệ đi học đúng tuổi ở các cấp học…
Giáo dục ảnh hưởng tới chất lượng dân số thông qua cơ chế sau:
Giáo dục ảnh hưởng tới chất lượng dân số về mặt trí tuệ Nhờ phát triển giáo dục, người dân được nâng cao hiểu biết và kiến thức giúp cho họ có đủ trình độ tiếp thu khoa học – kỹ thuật mới, tiên tiến Trình độ học vấn cao giúp con người có tính năng động và sáng tạo, lao động tự giác, có kỷ luật và có năng suất cao
Giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến mức sinh Khi trình độ học vấn càng cao thì mức sinh càng thấp Tuy nhiên, ảnh hưởng của giáo dục đến mức sinh chỉ dừng lại ở một giới hạn nhất định Nếu trình độ học vấn vượt khỏi giới hạn trên thì tác động của giáo dục đến mức sinh không còn nữa Cần chú ý rằng, chỉ có trình độ học vấn trung bình của toàn bộ phụ nữ cả một vùng , một tỉnh, một nước… mới có thể tác động làm giảm mức sinh của vùng, chứ không phải là trình độ học vấn của đơn lẻ một phụ nữ Mức sinh giảm, số con trung bình của mỗi phụ nữ (mỗi gia đình) ít đi, người dân có điều kiện hơn trong việc chăm sóc dinh dưỡng, sức khoẻ và giáo dục cho các con, không phân biệt con trai hay con gái Qua đó, chất lượng dân số được nâng lên
Giáo dục có tác động trực tiếp đến việc đẩy lùi cái chết Những người có trình độ học vấn cao thường có kiến thức về cơ chế lây truyền bệnh tật để phòng
và chữa bệnh kịp thời Mặt khác, khi có trình độ học vấn cao, họ có điều kiện để làm những công việc đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao và do đó thu nhập cao Khi thu nhập cao, người ta có điều kiện tận hưởng những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tốt hơn và vì vậy sức khoẻ của người dân được đảm bảo Đó cũng là một nhân tố để nâng cao chất lượng dân số (Nguyễn Thị Thiềng, 2012)
Trang 302.1.3.6 Môi trường
Thiên nhiên đã sinh ra con người, cung cấp tài nguyên và tạo nên môi trường sống cho con người Mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan hệ luôn gắn bó mật thiết với nhau Ở những vùng khí hậu ôn hoà, tài nguyên phong phú, con người có điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống Ngược lại , ở những nơi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, con người khó có điều kiện để cải thiện cuộc sống, nâng cao chất lượng dân số
Tuy nhiên, cần thấy rằng các thành tố của môi trường luôn không ổn định hoặc không hoàn toàn có lợi để con người có thể duy trì tốc độ tăng trưởng của phát triển như một hằng số Một thành tố của môi trường trong những điều kiện nhất định có thể trở thành những nhân tố cản trở sự phát triển của con người Ví
dụ , thiên tai có thể làm người chết, mùa màng bị phá hoại , làm khó khăn rất nhiều cho việc nâng cao chất lượng sống của người dân Mặt khác, trong mối quan hệ với môi trường, do mức sinh cao, dân số tăng nhanh, để nâng cao chất lượng cuộc sống con người đã không ngừng phát triển sản xuất và tăng cường khai thác tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, con người đã tàn phá môi trường, làm thay đổi hệ sinh thái, thay đổi môi trường sống của các sinh vật và của chính bản thân con người với xu hướng môi trường ngày càng xấu đi, gây tác hại đến sức khỏe của con người Hiện nay, do tình trạng đất, nước, không khí bị ô nhiễm mà lương thực, thực phẩm mà con người sử dụng cũng bị ô nhiễm, bị nhiễm độc, chủ yếu do phân bón hóa học, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu
Giữa gia tăng dân số và ô nhiễm môi trường có quan hệ chặt chẽ với nhau
Sự gia tăng dân số quá mức dẫn tới quá tải về môi trường gây ra những phản ứng không có lợi cho bản thân con người và qua đó làm cản trở quá trình nâng cao chất lượng dân số (Nguyễn Thị Thiềng, 2012)
Trang 312.2 Thực tiễn nâng cao chất lượng dân số
2.2.1 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dân số trên thế giới
Kế hoạch 5 năm (2012-2015) lần thứ mười hai là một thời kỳ quan trọng
để kết nối những giai đoạn trước và sau của công cuộc phát triển dân số ở Trung Quốc Những thử thách cho việc phát triển dân số ở Trung Quốc lúc đó bao gồm
sự gia tăng không ngừng của dân số toàn quốc, trình độ giáo dục và y tế thấp, mâu thuẫn về cấu trúc ngày càng rõ rệt, số dân nhập cư gia tăng liên tục và chức năng truyền thống của gia đình bị giảm đi Nắm được những vấn đề này, Chính phủ Trung Quốc coi công tác dân số và phát triển cân bằng dân số là nhiệm vụ chiến lược dài hạn và lồng ghép vào kế hoạch tổng thể của quốc gia trong kế hoạch 5 năm lần thứ mười hai Chính phủ cũng đã thay đổi định hướng phát triển của Trung Quốc từ chú trọng nâng cao GDP sang quan tâm tới sự phát triển toàn diện của con người (Nguyễn Quốc Anh, 2013)
Trang 32b Malaysia
Phó chủ tịch Ủy ban Dân số và Phát triển gia đình quốc gia Malaysia, đã phát biểu với chủ đề “Đẩy mạnh phát triển gia đình và sức khỏe sinh sản trong bối cảnh toàn cầu hóa và đô thị hóa: Kinh nghiệm của Malaysia,” giới thiệu tình trạng, những vấn đề và khó khăn các gia đình tại Malaysia đã phải đối mặt Trong vòng mười năm trở lại đây, các hộ gia đình ở Malaysia đã trải qua nhiều biến động về cấu trúc gia đình (gia đình 3 thế hệ chuyển thành gia đình 2 thế hệ gồm bố mẹ và con, v.v ) và đời sống gia đình chịu sự tác động của quá trình toàn cầu hóa, công nghiệp hóa và phát triển kinh tế -xã hội Cấu trúc gia đình truyền thống dần bị lung lay do sự phát triển về mặt giáo dục, các hoạt động kinh
tế, sự phổ cập văn hóa, vấn đề nhập cư, đô thị hóa và mức sống Các thay đổi khác gồm có tỷ lệ sinh giảm, số thành viên trong một gia đình giảm, số gia đình hai thế hệ tăng lên, tỷ lệ ly hôn và nuôi con một mình tăng, giá trị gia đình truyền thống bị hạ thấp, dân số già đi và lực lượng lao động nữ tăng lên Những xu hướng này sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng của gia đình trong việc hoàn thành các chức năng cơ bản gồm sản xuất, sinh sản và hòa nhập xã hội cũng như nhu cầu của các thành viên trong gia đình về sức khỏe, dinh dưỡng, nhà ở, chăm sóc thể chất, tinh thần và phát triển cá nhân, gây khó khăn cho sự ổn định xã hội và văn hóa của các gia đình
Nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề, Malaysia đã đề ra những chính sách về gia đình một cách thích hợp Hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và khu vực kinh tế tư nhân, các ban ngành chức năng của Chính phủ đã thực hiện nhiều hoạt động tuyên truyền nhằm đảm bảo sự ổn định về xã hội và văn hóa cho các gia đình, củng cố lợi thế vốn có của gia đình và trợ giúp về mặt nhu cầu cho các gia đình Chính phủ hi vọng sẽ có thể xây dựng một xã hội thân thiện, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển quốc gia (Nguyễn Quốc Anh, 2013)
2.2.2 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dân số tại Việt Nam
a Thái Bình
Những năm gần đây, Thái Bình luôn coi trọng thực hiện công tác dân số -
kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGÐ) Ðặc biệt, nhiều mô hình nâng cao chất
Trang 33lượng dân số được triển khai rộng khắp ở các địa phương mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Ngoài tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua băng rôn, khẩu hiệu, kẻ vẽ biển tường, Chi cục DS-KHHGÐ và Trung tâm DS-KHHGÐ các huyện, thành phố đã tổ chức truyền thông trực tiếp tại 215 xã, đưa 3 đợt xe tuyên truyền lưu động tại 8 huyện, thành phố, mở hội nghị truyền thông trực tiếp tại các
xã khó khăn về chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGÐ, bình đẳng giới
Bên cạnh việc tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho cộng tác viên dân
số và các thành phần chỉ đạo công tác dân số ở cơ sở, tỉnh cũng đã tiến hành tập huấn nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng quản lý cho 245 cán bộ dân số xã, phường, thị trận, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng quản lý dân số cho cán bộ cơ sở Ðội ngũ cán bộ làm công tác dân số đã được kiện toàn từ tỉnh đến huyện, xuống các xã, phường, thôn, tổ dân phố Ðội ngũ cán bộ dân số cơ sở luôn tận tụy, nhiệt tình, không quản ngại khó khăn đến trực tiếp các gia đình để tuyên truyền chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác DS-KHHGÐ, vận động các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại, hướng dẫn cách làm mẹ an toàn, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, thực hiện mô hình gia đình
ít con, nuôi con khỏe - dạy con ngoan…
Cùng với đẩy mạnh tuyên truyền, từ năm 2014 Chi cục DS-KHHGÐ tỉnh
đã triển khai thực hiện nhiều mô hình nâng cao chất lượng dân số như mô hình sàng lọc trước sinh, mô hình giảm thiếu mất cân bằng giới tính, mô hình tư vấn chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi dựa vào cộng đồng, truyền thông trực tiếp tư vấn dinh dưỡng, sức khỏe giúp người cao tuổi phòng, tránh các bệnh thường gặp, tổ chức hội nghị biểu dương ông bà cha mẹ gương mẫu - con cháu thảo hiền, các mô hình đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em KHHGÐ tại 32 xã ven biển khó khăn thuộc 2 huyện Thái Thụy, Tiền Hải duy trì hoạt động hiệu quả Mô hình phòng chống viêm nhiễm đường sinh sản, phòng ngừa mang thai ngoài ý muốn, phá thai an toàn đã duy trì hoạt động 29 câu lạc bộ
vị thành niên, tổ chức khám và tư vấn về sức khỏe sinh sản cho 1.230 em vị thành niên và thanh niên ở 5 xã Mô hình nâng cao chất lượng dân số khi sinh đang hoạt động tại 13 xã thông qua các hoạt động truyền thông, tư vấn đã giúp
Trang 34cho nhiều phụ nữ nắm được các kiến thức chăm sóc bản thân thời kỳ thai nghén
và tham gia thực hiện tốt quy trình sàng lọc trước sinh
Ðặc biệt, năm 2014 Chi cục DS-KHHGÐ tỉnh đã triển khai đợt hoạt động mạnh và chiến dịch tăng cường tuyên truyền lồng ghép cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản KHHGÐ tới 100% xã, phường, thị trấn trong tỉnh, trong đó tập trung ưu tiên cho 112 xã khó khăn Kết quả, trong 2 đợt của chiến dịch đã thực hiện triệt sản 128 ca (đạt 128%), đặt dụng cụ tử cung 11.162 ca (đạt 107%), tiêm thuốc tránh thai cho 1.005 ca (đạt 139%), cấy thuốc tránh thai cho 86/90 ca (đạt 95%), khám phụ khoa cho 67.208 lượt người, điều trị phụ khoa cho 23.857 lượt người, chuyển tuyến 357 ca viêm nhiễm nặng, u xơ tử cung
Nhờ những nỗ lực của đội ngũ làm công tác dân số, sự phối hợp tích cực của các ban, ngành, đoàn thể, các địa phương nên nhận thức của người dân về công tác dân số được nâng lên rõ rệt, hầu hết các gia đình dừng lại ở 2 con, nhiều gia đình đã chú trọng xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” Hầu hết các chỉ tiêu về dân số của Thái Bình trong năm 2014 đều đạt kế hoạch đề
ra Số trẻ trong năm sinh ra là 27.699 cháu, giảm 4.699 trẻ so với năm 2013, tỷ lệ sinh là 14,1%o; tỷ số giới tính khi sinh là 111 nam/100 nữ; số sinh con thứ 3 trở lên là 3.624 cháu, giảm 726 trẻ so với năm 2013; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 13,04% Số bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh là 20.000 ca/19.800 ca (đạt 110% kế hoạch), số người được tư vấn tiền hôn nhân là 8.000 người Xã Ðông Phong (Ðông Hưng) là xã duy nhất của tỉnh không có người sinh con thứ 3; 560 thôn, tổ dân phố không có người sinh con thứ 3 trở lên, trong đó có 258 thôn 3 năm liền không có người sinh con thứ 3 trở lên (Nguyễn Hình, 2014)
b Quảng Bình
Trong những năm qua việc triển khai thực hiện các mô hình nâng cao chất
lượng dân số trên địa bàn tỉnh đã có những đóng góp tích cực vào việc thay đổi nhận thức, hành vi của người dân về nhiều vấn đề vốn dĩ trước đây được xem là khá “nhạy cảm”, như: sàng lọc trước sinh, sơ sinh, tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, tảo hôn, kết hôn cận huyết thống… Hướng tới mục tiêu phát triển chất lượng dân số bền vững, vì tương lai của con em chúng ta, đội ngũ làm công tác
Trang 35dân số-kế hoạch hóa gia đình tỉnh đã có nhiều bước đột phá trong quá trình thực hiện các mô hình
Với tiền thân là mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình cho vị thành niên/thanh niên, từ năm 2012, mô hình
“Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân” chính thức được triển khai trên địa bàn tỉnh ta tại 35 điểm xã, phường, thị trấn, trường học Mô hình chú trọng tập huấn sức khỏe sinh sản cho vị thành niên/thanh niên, sinh hoạt các câu lạc bộ, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức hoạt động truyền thông lồng ghép Đồng thời, mô hình thường xuyên được đa dạng hóa hình thức cung cấp thông tin đến đối tượng
Năm 2014, 35 điểm xã, phường, thị trấn, trường học được duy trì với mỗi điểm có ít nhất 3 giáo dục viên, đóng vai trò là tuyên truyền viên chủ chốt 70 lớp tập huấn cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình cho 2.100 em vị thành niên/thanh niên đã được tổ chức Các câu lạc bộ được sinh hoạt đều đặn định kỳ 2 tháng/lần với 140 buổi, thu hút trên 2.500 lượt vị thành viên/thanh niên tham gia Song song, nhiều hoạt động khác cũng được triển khai thường xuyên, như: cấp phát 6.000 tài liệu truyền thông về chủ đề này đến các đối tượng, phối hợp với bệnh viện đa khoa các huyện, thành phố tổ chức khám, kiểm tra sức khỏe, siêu âm, làm xét nghiệp viêm gan B, HIV cho 182 vị thành niên/thanh niên tại các điểm mô hình Một mô hình nâng cao chất lượng dân số khác cũng rất được quan tâm, đó
là mô hình “Sàng lọc trước sinh và sơ sinh” Hiện nay, mô hình đang được duy trì tại 159 xã của 7 huyện, thành phố Trong 11 tháng đầu năm 2014, đã có 2 lớp tập huấn tuyên truyền tư vấn quản lý đối tượng cho 110 cộng tác viên, chuyên trách dân số và cán bộ Trung tâm Dân số-Kế hoạch hóa gia đình các huyện, thành phố; 2 lớp kỹ thuật lấy máu cho 100 cán bộ y tế xã và khoa sản các bệnh viện đa khoa huyện, thành phố Công tác truyền thông được xem là điểm nhấn của mô hình với 8 chương trình được phát trên các phương tiện truyền thông đại chúng, 4.000 tờ rơi, 350 áp phích, 7 hội nghị chuyên đề, tư vấn cho 24 nhóm chị
em trong độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ mang thai 3 tháng đầu và 3 tháng giữa 337
Trang 36mẫu máu gót chân trẻ sơ sinh được lấy và gửi đi xét nghiệm tại Trung tâm sàng lọc trẻ sơ sinh miền Trung
Kết quả, 18 trường hợp nghi ngờ thiểu năng tuyến giáp bẩm sinh, 6 trường hợp chuẩn đoán xác định mắc bệnh, 2 trường hợp thiếu men G6PD Tuy nhiên,
do thiếu thốn về trang thiết bị để thực hiện kỹ thuật sàng lọc, định mức chi cho việc thực hiện các kỹ thuật còn thấp, nên các đơn vị triển khai mô hình gặp rất nhiều khó khăn
Người cao tuổi cũng là một trong những đối tượng được thụ hưởng hiệu quả của các mô hình nâng cao chất lượng dân số Năm 2014, mô hình “Tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng” được Chi cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình triển khai thí điểm tại huyện Tuyên Hóa và TP.Đồng Hới, qua đó, thành lập duy trì hoạt động của 5 câu lạc bộ “Người cao tuổi giúp người cao tuổi” với
720 cụ tham gia Mô hình chú trọng công tác khám, tư vấn chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, xây dựng và duy trì hoạt động mạng lưới tình nguyện viên Đây được xem là một nỗ lực đáng ghi nhận của ngành Y tế, góp phần giúp người cao tuổi nâng cao chất lượng cuộc sống và phát huy vai trò của mình
Các mô hình nâng cao chất lượng dân số tiếp tục được duy trì và triển khai hiệu quả cho thấy sự cố gắng của ngành dân số-kế hoạch hóa đình nói riêng và chính quyền các cấp, ban, ngành, đoàn thể trong việc hướng tới những mục tiêu bền vững trong tương lai
Trang 37Từ năm 2009, Đề án 52 được triển khai trên địa bàn xã đã huy động sự vào cuộc tích cực của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể trong việc đẩy mạnh công tác truyền thông, thành lập câu lạc bộ không sinh con thứ 3, câu lạc bộ gia đình hạnh phúc bền vững Thông qua đội ngũ cộng tác viên ở các thôn, các phương tiện tránh thai đã đến từng cặp vợ chồng có nhu cầu; phụ nữ được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) - KHHGĐ đã góp phần nâng cao nhận thức cho chị em về ích lợi việc sinh ít con để nuôi dạy cho tốt, nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình Ông Trần Công Trường, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Thái, khẳng định: Qua thời gian triển khai thực hiện Đề án 52, công tác dân số ở địa phương đã có chuyển biến tích cực Bằng những hoạt động nhiệt tình của các cộng tác viên dân số trong công tác tuyên truyền, vận động, đã có tác dụng tích cực làm chuyển biến nhận thức của hầu hết các cặp vợ chồng trẻ về sinh đẻ kế hoạch Nhờ đó, những năm gần đây tỷ lệ sinh con thứ 3 và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã đã giảm, các cặp vợ chồng có điều kiện làm ăn và chăm
sóc con tốt hơn
Chị Hoa ở thôn 10 cho biết: Từ khi xã được hưởng lợi từ Đề án 52, nhiều chị em đã hiểu được những lợi ích nên thu xếp công việc tham gia đầy đủ, phần lớn phụ nữ không còn e ngại, giấu bệnh, mạnh dạn đưa ra những thắc mắc, câu hỏi cho các chuyên gia tư vấn giải tỏa tâm lý, điều mà những năm trước đây không dễ thấy ở phụ nữ vùng biển
Có thể nói, thành công khi thực hiện Đề án 52 trên địa bàn huyện Quảng Xương là đẩy mạnh công tác truyền thông Để có thành công đó trung tâm DS-KHHGĐ huyện, đội ngũ cán bộ dân số chuyên trách và cộng tác viên dân số các
xã đã phân công nhiều chị em có kinh nghiệm, có tâm huyết trong công tác vận động phụ nữ, kết hợp với các cộng tác viên dân số đến tận hộ dân để tư vấn việc thực hiện các biện pháp tránh thai an toàn Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ dân số, cộng tác viên dân số còn lồng ghép việc trao đổi tâm tư, tình cảm, đời sống gia đình, kinh nghiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan, kinh nghiệm chăm sóc SKSS, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi chính sách DS- KHHGĐ trên địa bàn Qua 5 năm thực hiện đề án, mức sinh tại các xã ven biển được quản lý, kiểm soát chặt chẽ so với thời điểm chưa triển khai đề án
Trang 38Chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, KHHGĐ đến người dân được nâng cao Toàn huyện có hơn 45.000 lượt người được tham gia các buổi tư vấn và khám, kiểm tra sức khỏe; khám thai cho gần 6.500 lượt bà mẹ mang thai; khám phụ khoa cho hơn 10.000 người, xét nghiệm viêm gan B cho
750 người Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Đề án 52 trên địa bàn huyện Quảng Xương vẫn còn nhiều khó khăn, đó là: Kinh phí giải ngân chậm; cơ sở vật chất, trang thiết bị và mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ ở cấp xã còn yếu và thiếu; địa bàn dân cư vùng biển rộng, người dân lại thường xuyên đi làm ăn xa nhà rất khó khăn cho việc tuyên truyền; công tác chăm sóc SKSS, sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ cũng như vấn đề nâng cao hiểu biết cho người dân vẫn gặp không ít trở ngại vì việc thay đổi nếp nghĩ và phong tục tập quán sinh hoạt của họ không thể một sớm một chiều Do đó, để kiểm soát tốt dân số vùng biển và ven biển, bên cạnh sự hỗ trợ của Đề án 52, cần có sự quan tâm, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất là đầu tư thêm nguồn lực, kinh phí
để người dân được cung cấp đầy đủ, kịp thời hơn các dịch vụ KHHGĐ, góp phần nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn (Tô Hoa, 2014)
2.2.3 Các nghiên cứu trước đây có liên quan
Ở Việt Nam, vào những năm 1990 đã có những nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chất lượng dân số như: Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến chất l-ượng dân số và đề xuất những chính sách phù hợp về dân số và phát triển bền vững (đề tài NCKH độc lập cấp Nhà nước của Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ, 1999-2000); Bàn về nội hàm của chất lượng dân số; Từ năm 2001, có một số công trình đề cập tới quan niệm về CLDS, tới từng yếu tố riêng của CLDS, như thể trạng, hình thái thể lực, sức khoẻ con người, sức khoẻ sinh sản, sàng lọc trước sinh, hay các vấn đề về giáo dục, tuổi thọ Có nghiên cứu đề xuất các chỉ báo đo lường CLDS, chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá CLDS cấu thành từ 5 thành tố
cơ cấu tuổi, thể lực, trí lực, ý thức xã hội và mức sống, song cũng chưa thể hiện hết các góc độ phong phú và đa dạng của CLDS
Năm 2003, trong khuôn khổ đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố kinh tế
-xã hội ảnh hưởng đến CLDS”, GS Phạm Tất Dong và các cộng sự đã đề xuất việc tính toán CLDS của một cộng đồng dân cư cấp xã thông qua 9 chỉ thị đơn
Trang 39dùng để xác định 3 thành tố cơ bản của CLDS: thể chất, trí tuệ và tinh thần Tuy nhiên các số liệu phục vụ cho việc tính toán chỉ số CLDS chủ yếu dựa trên kết quả điều tra với phạm vi hạn chế của đề tài tại thời điểm tiến hành nghiên cứu Điều này khó có thể áp dụng trong điều kiện mở rộng phạm vi nghiên cứu, nhất là đối với tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước
2.2.4 Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn nâng cao chất lượng dân số trên thế giới và ở Việt Nam
1 Chính sách có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số của mỗi nước, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của từng quốc gia mà cần nghiên cứu cụ thể để đưa ra hệ thống chính sách hợp lý
2 Sự phối hợp giữa các bên trong quá trình tìm kiếm và thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các hoạt động
3 Bên cạnh việc tăng cường năng lực và nhận thức của cả đội ngũ cán bộ chính quyền và người dân về sự cần thiết phải nâng cao chất lượng dân số cần tăng cường sự đổi mới trong các chương trình về nâng cao CLDS
4 Phát huy vai trò của các cán bộ cơ sở, các tổ chức đoàn thể địa phương trong công tác tuyên truyền phổ biến chủ chương, chính sách cũng như các chương trình dân số đến người dân
5 Để nâng cao chất lượng dân số thì cần giải quyết một cách đồng bộ không chỉ về DS - SKSS mà còn về giáo dục đào tạo, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và thụ hưởng văn hóa tinh thần
Trang 40PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Gia Lâm là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của thành
phố Hà Nội gồm 22 xã, thị trấn với 176 thôn, xóm, tổ dân phố, cụm dân cư Ranh
giới được xác định bởi:
- Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh
- Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên
- Phía Tây giáp quận Long Biên và quận Hoàng Mai – Hà Nội
- Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Đông Anh – Hà Nội
Huyện Gia Lâm là trung tâm của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội –
Hải Phòng – Quảng Ninh, là nơi có nhiều tuyến giao thông huyết mạch chạy qua:
đường thủy có sông Hồng, sông Đuống; đường sắt có tuyến đường sắt Hà Nội –
Hải Phòng; đường hàng không có sân bay Gia Lâm; đường quốc lộ có Quốc lộ 5,
Quốc lộ 1 để nối với các tỉnh khác là điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế
và giao lưu thương mại Ngoài ra Gia Lâm có thế mạnh đặc biệt trong phát triển
công nghiệp, xuất nhập khẩu, đây có thể được coi là lợi thế so sánh to lớn của
huyện Gia Lâm (Cổng thông tin điện tử huyện Gia Lâm, 2014)
b Điều kiện địa hình
Huyện Gia Lâm thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình
thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Vùng đồng bằng có địa hình bằng phẳng,
được bồi đắp phù sa dày là thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, cũng như xây
dựng các công trình hạ tầng dân dụng và khu công nghiệp, đảm bảo yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của huyện (Phòng Thống kê huyện Gia Lâm)