Đề tài “Nghiên cứu những chính sách và giải pháp nhằm ổn định và nâng cao chất lượng dân số phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô giai đoạn 2000-2010” hy vọng góp phần nhỏ bé vào vi
Trang 1
UY BAN NHAN DAN THANH PHO HA NOI
UY BAN DAN SO-KE HOACH HOA GIA DINH
DE TAI NGHIEN CUU KHOA HOC CAP THANH PHO NAM 2000
TEN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU CÁC CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP
NHẰM THỰC HIỆN ỔN ĐỊNH DÂN SỐ VÀ NÂNG CAO
CHAT LUONG DAN SO, PHUC VU PHAT TRIEN KINH
TE - XA HOI THU DO GIAI DOAN 2000-2010
MA SO: 01X-07/02-2000-1
CHỦ NHIÊM ĐỀ TÀI: BS NGUYÊN QUÝ THU, Phó chủ nhiệm thường
trực Uỷ ban Dân số - KHHGĐ thành phố Hà Nội
Trang 2MUC LUC
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN ĐỀ TÀI -cccccct Il
MG DAU —_ ccssesccssvssescconssscssccusececscsnsssscecccessuessccnnscecsensuessesecsnussnsssusessersneseeseees 6
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu -s=<+esensessrsresssee 6
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.2 Đặc điểm và các yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến chất lượng
[.J 81/PEREERSNPNNu 18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA
ĐÌNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT
LƯỢNG DÂN SỐ Ở HÀ NỘI s2 co cez 28
2.1 Tổng quan về dân số Hà Nội . 5-65 ceessecsessceeccsrrssssrcee 28 2.2 Động thái gia tăng dân số Thủ đô giai đoạn 1990 - 1999, 35 2.2.1 Tỷ suất sinh thô (CBR) và tổng tỷ suất sinh (TER) 36
2.2.2 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở ÌÊH cà ST nao 37
2.2.3 Tỷ suất chết thô (CĐR) Q - LH n2 11t nan rà 38
2.2.4 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiÏÊn à Ặ cv Hới 39
2.2.5 Tỷ lệ tăng dân số cơ học
2.3 Tình hình thực hiện công tác KHHGĐ
2.4 Một số khía cạnh liên quan đến chất lượng dân số 45
Trang 32.4.2 Tritth G6 VGN NOG occcccccccccccccecesccescesesesaceseseeeecateseeceessaesseesesseesteatsaeesees 48
2.4.4 Nghề nghiệp, việc làm và thu nhẬp re 49 2.4.5 Chất lượng dịch vụ KHHƠD và chăm sóc SK$S 5]
V8 anh hố SI
2.5 Những khó khăn, tôn tại trong công tác DS - KHHGPĐ, nang cao
chất lượng dân SỐ oscscsccsEnỲS1.mRAE20.8405-00310303000 32
CHƯƠNG HI: DU BAO DAN SO VA PHAT TRIEN CUA HA NOI
GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 cces se se nenssererseseesee 55
3.1 Tổng quan kinh té - xã hội Hà Nội giai đoạn 1991 - 2000 55
3.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Hà Nội đến năm
2201Í 0 THỌ 9H KH Ón ÓĐ0Ón09080800401000100000005.08.000.0064 0850.0000080
3.3 Dự báo dân số Hà Nội đến năm 2010
3.3.1 Mục tiêu phát triển dân số Hà Nội giai đoạn 2001 - 2010 73
3.3.2 Dự báo dân số Hà Nội đến năm 2010 Ặ cà cccceeiree 76
3.3.2 Qui hoạch phát triển không gian đô thị Hà Nội với vấn đề di
CHUONG IV: NGHIEN CUU NHUNG CHINH SACH VA GIAI
PHAP NHAM ON DINH vA NANG CAO CHAT LƯỢNG DÂN SỐ THỦ ĐÔ .-. ccccscccccsseoeceee 91
4.1 Tiếp tục giảm sinh tại các vùng sâu, vùng xa, các nhóm nghèo
của Thành phố - duy trì mức sinh thay thế của các quận, huyện 91 4.1.1 Những giải pháp chung thực hiện chính sách giảm sinh và duy
trì mức sinh thay thỂ c ket HH ưo 9]
4.1.2 Gidi phdp duy tri mitc sinh thay thé ccccessesses ects ssesterteeeeeatees 95
4.1.3 Giải pháp giảm sinh tại vùng nghèo, vùng xa 96 4.2 Quản lý và thực hiện chương trình Dân số - Kế hoạch hoá gia
đình cho nhóm dân di cư đến Hà Nội . -s<sceesessse 101 4.2.1 Điêu tiết di dân phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội của
4.2.2 Các giải pháp quản lý dân số cẶS SH 103
4.2.3 Đẩy mạnh công tác Dân số - KHHGĐ đối với đối tượng đi cư tự
do đến Hà Nội Q Q Q Q2 2S HH ng ng nhai 107
Trang 44.3 Giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ biện pháp
tránh thai theo yêu cầu sức khoẻ sinh sản và giảm thiểu nạo hút
thai, đặc biệt ở tuổi vị thành niên .-.-«cc<ccseesessrsreseessee 109
4.4 Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết
việc làm cho người lao động nhằm góp phần thực hiện chính
Trang 5DANH SACH CAC THANH VIEN DE TAI
CHU NHIEM DE TAL BS NGUYEN QUi THU,
Phó chủ nhiệm thường trực UBDS-KHHGĐ Thành phố Hà Nội
TÔ THƯ KÝ:
1 BS Hoàng Diệu Hiền, Trưởng phòng KHHGĐ, UBDS-KHHGĐ Hà Nội
2.TS VŨ TRỌNG LÂM, Trưởng phòng Kế hoạch - Quản lý khoa học, Viện
Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội
3.TS Nguyễn Thành Công, Phó giám đốc, TT tư vấn - đào tạo phát triển KT-
XH Hà Nội, Viện NC PT KT-XH HN
CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU:
1 Ths Nguyễn Thế Hùng, Trưởng phòng Truyền thông, UBDS-KHHGĐ Hà
Nội - Thành viên
2 Bs Thẩm Bích Ngọc, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp - Tài vụ - UBDS-
KHHGPĐ Hà Nội - Thành viên
CN Đỗ Thị Đĩnh, Kế toán, UBDS-KHHGĐ Hà Nội - Thành viên
BS Nguyễn Văn Quân, chuyên viên UBDS-KHHGĐ Hà Nội - Thành viên Ths Phạm Xuân Sơn, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội
Lê Ngọc Châm, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội
Nguyễn Quí Nghị, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội
Nguyễn Thanh Bình, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội
Trần Đức Phương, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội
10 Nguyễn Mạnh Quân, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội
11 Nguyễn Thị An, Viện Nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội
12 BS Tạ Quang Huy, UBDS Hà Nội
13 BS Nguyễn Thanh Huyền, UBDS Hà Nội
14 TS Đỗ Thịnh, Viện nghiên cứu con người, TY KHXH-NV
15 PGS.TS Nguyễn Huyền Lê, Trung tâm Dân số - KHHGĐ - SKSS, ĐHSP I
CỐ VẤN CHUYÊN MÔN
1.TS Nguyễn Văn Chiến, Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Đào tạo, UBQGDS-
KHHGD
2 TS Nguyén Minh Thang, UBQG DS-KHHGD
3 TS Doan Minh Lộc, UBQG DS-KHHGĐ
CÁC CƠ QUAN GIÚP ĐỠ VÀ PHỐI HỢP THƯC HIỆN:
1 Uỷ ban Quốc gia Dân số - Kế hoạch hoá gia đình
2 Trường đại học sư phạm I Hà Nội
3 Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường Hà Nội
4 Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội
5 Sở Lao động - Thương binh - Xã hội
Trang 6MO DAU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Là trái tìm của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, Thủ ảô Hà Nội
có vinh dự lớn đồng thời có trách nhiệm hết sức nặng nể Hà Nội luôn được coi
là địa phương đi đầu cả nước trong việc thực hiện công tác dân số - kế hoạch hoá
gia đình
Trong 10 năm vừa qua, Thành phố đã trải qua những thay đổi lớn về dân số,
tỷ lệ tăng dân số đã giảm nhanh, tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử vong đã giảm tới mức
tương đương với các nước Đông Nam Á phát triển hơn Những thay đổi này đang
ảnh hưởng đến cấu trúc hộ gia đình truyền thống của Hà Nội, quy mô gia đình nhỏ hơn và tuổi thọ cao hơn Thêm vào đó, sự phát triển kinh tế đã nhanh chóng
làm tăng tốc độ thị hoá, di đân Các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Hải Phòng đang phải chịu sức ép rất cao về giải quyết việc làm, nhà ở, tệ nạn xã hội và hàng loạt các vấn để xã hội bức xúc khác từ các đồng di dân Hà Nội đang là một trong những địa phương có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất cả nước
Nhiều vấn để dân số rất bức xúc có chiều hướng gia tăng trong thập niên
vừa qua, chẳng hạn, vấn đề nạo, hút thai vẫn tồn tại ở mức cao, đặc biệt trong
nhóm tuổi vị thành niên Hiện tượng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ, khả năng sinh sản của phụ nữ mà còn có những ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của
họ, đặc biệt đối với những người chưa xây dựng gia đình
Tác động của những thay đối trên là rất sâu rộng, tạo ra cho Hà Nội những thời cơ và khó khăn, thách thức mới Đề tài “Nghiên cứu những chính sách và giải pháp nhằm ổn định và nâng cao chất lượng dân số phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội Thủ đô giai đoạn 2000-2010” hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong chương trình dân số của Thành phố Hà Nội
' Trích Nghị quyyết 15-NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thu do
Trang 72 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
" Phân tích thực trạng công tác DS-KHHGPĐ Đánh giá thực trạng và các yếu tố
ảnh hưởng chất lượng và quy mô dân số Thành phố Hà Nội (giảm sinh, nạo
hút thai, đi dân )
“_ Đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm thực hiện ổn định dân số và nâng
cao chất lượng dân số, phục vụ phát triển kinh tế xã hội Thủ đô giai đoạn
2001-2010
3 Phạm vỉ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, nhưng nghiên cứu trong nước và quốc tế, thực trạng công tác DS-KHHGD trên địa bàn thành phố Hà Nội Ổn định và nâng cao chất lượng dân số là những trọng tâm lớn của chiến lược DS- KHHGPĐ của Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2001-2010 Thêm vào đó, chất lượng dân
số là một chủ để nghiên cứu rất rộng Vì vậy, để có những giải pháp cho từng
vấn để cụ thể và phù hợp với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô, đề tài được tách thành 3 chuyên đề nhánh:
»_ Nhánh I: Nghiên cứu chính sách và giải pháp nhằm tiếp tục giảm sinh tại
các vùng xa, các nhóm nghèo của Thành phố Khả năng duy trì mức sinh thấp của các quận, huyện
"Nhánh II: Nghiên cứu các chính sách và giải pháp nhằm quản lý và thực hiện chương trình Dân số - KHHGĐ cho nhóm dân đi cư đến Hà Nội
* Nhanh III: Nghiên cứu chính sách và giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ biện pháp tránh thai theo yêu cầu SKSS và giảm thiểu nạo hút thai, đặc biệt là nạo hút thai vị thành niên
Do đó, báo cáo đề tài "Nghiên cứu các chính sách và giải pháp nhằm
thực hiện ổn định dân số và nâng cao chất lượng dân số phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội Thủ đô giai đoạn 2000-2010” là công trình tổng hợp được xây dựng trên cơ sở các chuyên đề nhánh và bổ sung những nội dung cần
thiết nhằm đáp ứng mục tiêu của đề tài,
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân tích, so sánh theo
Trang 8kê, phân tích Các phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và những phương pháp nghiên cứu xã hội học khác cũng được sử dụng nhằm nghiên
cứu và giải quyết các vấn đề đặt ra
Xuất phát từ những lý luận cơ bản về đối tượng nghiên cứu, tham khảo kinh
nghiệm trong nước và quốc tế về ổn định và nâng cao chất lượng dân số; đánh
giá thực trạng công tác DS-KHHGPĐ, chất lượng và quy mô dân số ở Hà Nội,
nhóm nghiên cứu để xuất các chính sách và giải pháp nhằm thực hiện ổn định
dân số và nâng cao chất lượng dân số phục vụ phát triển KT-XH Thủ đô giai đoạn 2001-2010
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu của đề
tài gồm 4 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương II: Thực trạng dân số - kế hoạch hoá gia đình và các yếu tố ảnh
hướng đến chất lượng dân số ở Hà Nội
Chương III: Dự báo dân số và phát triển của Hà Nội giai đoạn 2001 - 2010
Chương IV: Nghiên cứu những chính sách và giải pháp nhằm ổn định và
nâng cao chất lượng dân số Thủ đô.
Trang 9CHUONG I: CO SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Dân số
1.1.1 Một số khái niệm
Quy mô dân số
Trong dân số học, quy mô dân số là một trong những khái niệm rất cơ
bản Nó biểu thị khái quát tổng số dân của một vùng, một quốc gia hay các
khu vực khác nhau trên toàn thế giới
Quy mô dân số được xác định thông qua phương trình:
nhau: điều tra, thống kê, ghi chép thường kỳ
Cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một nước hay một vùng
lãnh thổ thành các nhóm theo một hay nhiều tiêu thức đặc trưng nào đó Cơ cấu dân số có thể phân chia theo các đặc trưng nhân khẩu học như: tuổi,
giới tính, trình độ học vấn Đây là những đặc trưng rất quan trọng được sử dụng trong hầu hết tất cả các nghiên cứu khoa học xã hội nói chung và đân
số học nói riêng Ngoài ra, dân số còn có thể được chia theo các đặc trưng kinh tế, nhóm dân tộc tuỳ theo mục đích nghiên cứu
Trang 10Phân bố dân cu
Phân bố dân cư được hiểu là tổng dân số chia theo đơn vị hành chính hoặc địa điểm cư trú (thành thị và nông thôn ) Phân tích thực trạng phân
bố dân cư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, đưa ra các chính sách phân bố lại dân
cư lực lượng lao động
Chính sách dân số
Chính sách dân số được hiểu là những quy định của một quốc gia (như
các văn bản, nghị quyết của Đảng, luật, pháp lệnh, các quy định của Chính phủ ) nhằm tác động đến sự tăng trưởng, quy mô, cấu trúc và phân bố dân
số của đất nước với mục đích đạt mục tiêu dân số mà quốc gia đó đề ra
Chính sách dân số thường đề cập tới 3 nội dung chính: sinh đẻ, tử vong và
di cu, Gan đây, các nhà khoa học hay nói đến chính sách Dân số và Phát
triển, trong đó đề cập nhiều hơn đến các vấn để phát triển như: môi trường, nguồn nước, phát triển đô thị và an ninh lương thực
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá chương trình dân số
tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi, tổng tỷ suất sinh và một vài chỉ số khác
Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến mức sinh gồm:
- Đối với người phụ nữ: thể hiện qua một số chỉ số như trình độ học vấn, tài sản, gia đình, nghề nghiệp, tính cách cá nhân và quan niệm của xã hội đối với người phụ nữ
Trang 11- Phong tục tập quán xã hội: điều này thể hiện rất rõ ở Việt Nam nói chung, ở Hà Nội nói riêng (như quan niệm nhiều con, nhiều phúc ) có ảnh hưởng đáng kể đến mức sinh của các cặp vợ chồng trong những thời kỳ nhất định
- Chế độ phục lợi xã hội: Sự phát triển của chế độ phúc lợi xã hội góp
phần hạn chế tư tưởng cha mẹ phải trông cậy vào con cái khi về già Thêm vào đó những phát triển về y tế dịch vụ chăm sóc sức khoẻ làm giảm tỷ lệ
chết trẻ em Điều này khiến các bà mẹ yên tâm, không còn tâm lý đẻ dự phòng
- Các điều kiện kinh tế cũng có ảnh hưởng nhất định tới mức sinh Ở những khu vực nghèo đói các cặp vợ chồng thường có tâm lý sinh nhiều con để tìm niềm vui trong cuộc sống Bên cạnh đó, nhận thức hạn chế của người dân và sự không sẵn có các BPTT ở ngoại thành, vùng xa cũng làm
tăng mức sinh
Chính sách dân số: Tuỳ vào tình hình thực tế mà Chính phủ đưa ra
những chủ trương, chính sách dân số nhằm điều tiết mức sinh cho phù hợp
Mức sinh thay thế
Mức sinh thay thế là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ trung bình có
vừa đủ số con gái để thay thế mình trong dân số Một tỷ suất tái sinh sản thực bằng 1,0 thì bằng mức sinh thay thế Khi đạt mức sinh thay thế, số
sinh sẽ dần dần cân bằng với số chết và nếu không có nhập cư và di cư thì
quy mô dân số đi vào ổn định
Tổng tỷ suất sinh có thể được sử dụng để chỉ mức sinh thay thế bằng cách biểu thị số con trung bình đủ để thay thế cả cha mẹ trong dân số Tổng tỷ suất sinh, ở các nước phát triển đạt 2,1 được coi là mức sinh thay
thế Mức trên được xác định do khi sinh nam thường nhiều hơn nữ và không phải tất cả số nữ sinh ra đều sống qua hết những năm sinh đẻ Ở
Trang 12những nước đang phát triển do có những tỷ suất chết cao hơn nên mức sinh
thay thế có thể cao hơn mức 2,1
Mức chết
Mức chết cũng là yếu tố tác động rất lớn đến quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số Chết là hiện tượng không thể tránh khỏi đối với mọi cơ thể
sống Tuy nhiên, trong mọi thời kỳ phát triển, giảm mức chết là nhiệm vụ
hàng đầu của các quốc gia Mức chết được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu: tỷ suất chết thô, tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi, triển vọng sống trung bình Suy định dưỡng và bệnh tật là nguyên nhân chính gây tử vong ở các quốc gia đang phát triển Suy dinh đưỡng có quan hệ chặt chế với bệnh tật Ngoài ra còn có các yếu tố khác
ảnh hưởng đến mức chết như môi trường, sự phát triển của y tế, phong tục tập quán và các điều kiện kinh tế - xã hội khác
Trong lĩnh vực dân số, sống và chết là hai yếu tố chủ yếu của quá trình tái sản xuất đân số, là hai mặt đối lập có quan hệ biện chứng với nhau
dịch vụ xã hội, đất đai, việc làm, thu nhập là động lực chính cho hiện
tượng đi dân phát triển Di dân có thể được thực hiện theo kế hoạch của nhà
nước, người dân nhận được những hỗ trợ tài chính và những chính sách khác từ phía chính quyền Hình thức đi dân này hình thành và phát triển ở
Việt Nam từ những năm 60 khi chính phủ có chủ trương vận động nhân dân đi xây dựng kinh tế mới Thực tế cho thấy đây là chủ trương đúng đắn,
tạo nên những động thái tích cực trong quá trình phân bố lại dân cư Từ
năm 1960, đã có 6 triệu người đi cư vào các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam
Bộ
Trang 13Di dân tự phát là một hình thức biểu hiện khác, không nhận được sự trợ giúp của nhà nước và là vấn đề nhạy cảm trong xã hội hiện nay Số liệu thống kê cho thấy số người đi cư tự phát đến các đô thị lớn trong cả nước rất cao, trong đó, một phân xuất phát từ nông thôn và khoảng 40% đến từ một đô thị khác
1.1.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề dân số
Có thể nhận thấy rằng hoạt động nghiên cứu dân số trên thế giới và
trong nước trong một vài năm gần đây có phần lắng xuống do ảnh hưởng của những điều kiện khác nhau, tuy nhiên một số lượng lớn các nghiên cứu
trong ngành dân số học đã được ghi nhận
Nghiên cứu về khung lý thuyết để phân tích các yếu tố quyết định tới mức sinh là một trong những hướng nghiên cứu cơ bản trên điễn đàn dân số
học thế giới Khung thứ nhất được xây dựng bởi Davis và Blake trong những năm 50 của thế kỷ này, Các ông đã chỉ ra sự khác biệt về mức sinh giữa vùng phát triển và kém phát triển do những khác nhau trong cơ cấu xã
hội Điều quan trọng là xác định mô hình mà các xã hội với phương thức tổ
chức khác nhau, có thể được mức sinh mong muốn với các cơ chế, thiết chế
hoàn toàn khác nhau John Bogaarts đã đưa ra mô hình thứ hai về các yếu
tố ảnh hưởng đến mức sinh Ông phân-tích một loạt các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức sinh Những yếu tố ảnh hưởng đó là: hôn nhân; khả năng sinh đẻ; tránh thai và nạo thai
Bên cạnh đó còn có hướng nghiên cứu sự quá độ từ các cấp độ sinh đẻ
tự nhiên cao, sang các cấp độ sinh đẻ thấp, có kiểm soát Ronald Freedman
đã tiến hành xem xét sự tích hợp của hàng loạt lý thuyết vốn đã được sử: dụng để giải thích sự suy giảm mức sinh ở các nước phát triển Trong khi
dé, John Knodel va Etienne Van de Walle phân tích các bài học suy giảm
mức sinh ở châu Âu
Khuôn mẫu sinh đẻ hiện đại được bàn luận chủ yếu trong phần tổng
quan kinh điển của Kingsley Davis Ông đã tiến hành phân tích về các thé
Trang 14chế khuyến khích mức sinh cao Ngoài ra, còn có nhiều nghiên cứu thực
nghiệm khác về mức sinh được thực hiện ở Trung Quốc và Đông Nam A Những năm đầu của thập kỷ 90, ở Việt Nam, sự nở rộ trong các
nghiên cứu về dân số đã góp phần chứng minh tính bức xúc của vấn đề dân
số Nghiên cứu được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau nhưng cùng chung mục tiêu giảm quy mô gia đình, tăng tỷ lệ sử dụng BPTT, thực hiện giảm sinh
Một trong những cuộc điều tra đầu tiên có quy mô lớn, liên quan đến đân số là điều tra Dân số và Sức khoẻ (VNDHS 1988) Kết quả điều tra đã góp phần xây dựng hệ thống cơ sở đữ liệu phục vụ cho hoạt động nghiên
cứu và hoạch định chính sách dân số Sau đó, các cuộc tổng điều tra dân số
được tiến hành theo định kỳ 10 năm Số liệu của tổng điều tra dân số mang tính chuyên biệt hơn so với điều tra Dân số và Sức khỏe Giữa hai cuộc tổng điều tra dân số, điều tra nhân khẩu học giữa kỳ được thực hiện vào năm 1994 (VNICDS 1994), thu thập những thông tin tương tự như tổng
điều tra
Từ kết quả điều tra Dân số và Sức khoẻ 1997 (VNDHS 1997), một
nhóm nghiên cứu đã phân tích và xây dựng báo cáo khoa học về sức khoẻ sinh sản cho vùng sâu, vùng xa Nghiên cứu đã phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh của khu vực này (tình hình sử dụng BPTT, số con hiện
có và những điều kiện kinh tế - xã hội khác)
Ở Thành phố Hà Nội, vấn đề giảm sinh và duy trì mức sinh thay thé
có thể tìm thấy rải rác ở một vài nghiên cứu khác nhau Mối quan hệ giữa mức chết trẻ em và mức sinh được các nhà nghiên cứu phân tích và coi đó
như một nhân tố ảnh hưởng đến mức sinh Nghiên cứu mức sinh trong mối
quan hệ với mức chết được Uỷ ban DS-KHHGĐ Hà Nội tiến hành năm
1997 trong đề tài “Mối quan hệ giữa mức sinh và mức chết của trẻ em Hà Nội” Nhiều kết quả nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, người phụ nữ có khả năng không sử dụng biện pháp tránh thai và sinh thêm con cao hơn khi
Trang 15họ có con bị chết Và điều này, lại ảnh hưởng đến mức sinh chung của phụ
nữ Hiện tượng này được các nhà nghiên cứu gọi là “tâm lý đẻ bù trừ” Những nguyên nhân dẫn đến việc sinh con thứ ba cũng được quan tâm
nghiên cứu Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, nhóm nghiên cứu của Ủy
ban DS-KHHGĐ Hà Nội đã phân tích về lý thuyết mức sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh của Thành phố Hà Nội trong đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng trong trường hợp sinh con thứ ba trở lên ở các làng xã ngoại thành Hà Nội, tìm giải pháp thích hợp”, đã đưa ra nhiều ý kiến bổ ích
cả về lý luận và thực tiễn Các nhà nghiên cứu cho rằng cần có những giải
pháp đồng bộ để xây dựng gia đình văn hoá mới tương ứng với gia đình ít
con Nghiên cứu cũng kết luận việc giảm tổng tỷ suất sinh tiến tới đạt mức sinh thay thế và giảm tỷ lệ sinh con thứ ba là có liên quan với nhau nhưng không đồng nhất
1.2 Chất lượng dân số
1.2.1 Một số khái niệm
a) Chất lượng dân số
Mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu vấn đề chất lượng dân số trong
những năm gần đây, những vẫn chưa hình thành một định nghĩa thống nhất
về chất lượng dân số Nâng cao chất lượng dân số nhằm đảm bảo mọi
người đều có khả năng tiếp cận và sử dụng các địch vụ xã hội cơ bản Liên
hợp quốc đã đưa ra một định nghĩa về chất lượng dân số bao gồm các yếu
tố đó là: số bác sĩ/1000 dân; tuổi thọ bình quân; tỷ lệ người biết chữ; số calo cung cấp cho đầu người bình quân; tỷ lệ tử vong sơ sinh; số điện
thoai/1000 dan; số tivi/1000 dân; tỷ lệ dân thành thị và nông thôn; tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) Việt Nam thêm vào hệ thống này hai chỉ tiêu riêng
là ổn định về chính trị, đảm bảo an toàn xã hội; môi trường sống được bảo
vệ Như vậy, những yếu tố chủ yếu cấu thành chất lượng dân số bao gồm: dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục; địch vụ KHHGĐ
Trang 16b) Nguon nhan luc
Nguồn nhân lực hay nguồn lao động bao gồm số người trong độ tuổi
lao động có khả năng lao động (trừ những người tàn tật, mất sức lao động
loại nặng) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế có làm
VIỆC,
Lực lượng lao động hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm, hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc Giữa các quốc gia có sự khác nhau về
quy định độ tuổi lao động Gần đây, nhiều nước lấy tuổi tối thiểu là 15 tuổi,
còn tuổi tối đa vẫn còn có sự khác nhau, có nước quy định là 60, có nước
65, thạm có nước đến 70, 75 tuổi, tuỳ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi nước Đặc biệt ở Úc không có quy định tuổi về hưu và do
đó không có giới hạn tuổi tối đa Ở nước ta quy định tuổi lao động là từ 15
- 60 tuổi đối với nam và từ 15 - 55 tuổi đối với nữ
Trong nhân khẩu học và kinh tế lao động, người ta còn xác định nhân
khẩu hoạt động kinh tế và nhân khẩu không hoạt động kinh tế Nhân khẩu
hoạt động kinh tế chính là lực lượng lao động, còn lại là nhân khẩu không hoạt động kinh tế
Dân số và cấu thành dân cư của địa phương là cơ sở cho sự hình thành
và phát triển nguồn lao động Dân số cung cấp nguồn nhân lực Tăng dân
số sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô của nguồn nhân lực Dân số tăng nhanh sẽ trực tiếp làm tăng nguồn lao động xã hội, việc này một mặt tạo
điều kiện cho phát triển kinh tế, mặt khác gây sức ép rất lớn trong việc bố trí sử dụng số người bước vào độ tuổi lao động Mỗi năm số người bước
vào độ tuổi lao động tăng thêm này cao hơn nhiều so với nhu cầu sử dụng lao động của nền kinh tế - hậu quả là tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng Nguồn lao động ở thủ đô bao gồm hai bộ phận: bộ phận dân cư của
Hà Nội cấu thành nguồn lao động và bộ phận thứ hai là lực lượng lao động
Trang 17các địa phương khác gia nhập lực lượng lao động của Thủ đô do di chuyến
cơ học, số này có xu hướng ngày càng tăng
Các nhân tố cơ bản chỉ phối và định hướng quy mô và tốc độ tăng nguồn lao động ở Thủ đô bao gồm:
- Quy mô và tốc độ tăng dân số tự nhiên: so với các tĩnh và tỷ lệ chung của cả nước thì tốc độ tăng dân số tự nhiên ở Hà Nội thấp hơn và có xu
hướng sẽ tiếp tục giảm, nhưng so với thế giới vẫn ở mức cao
- Quy mô và tốc độ tăng dân số cơ học lớn do quá trình đô thị hóa ngày
càng tăng: hiện nay mỗi năm Hà Nội tiếp nhận hàng chục ngàn người
nhập cư vào thành phố, tập trung vào nội thành và các vùng phụ cận
Các đối tượng này chủ yếu là sinh viên mới ra trường ở lại thành phố
tìm việc làm và một lực lượng lớn lao động phổ thông các tỉnh đổ về Hà Nội theo mùa vụ, ngoài ra còn có một số lượng không nhỏ những người
tự đi cư đến Hà Nội với những lý do khác nhau
- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủ đô theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ dẫn đến sự vận động của nguồn lao động theo hướng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng
€) Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp,
chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con
người lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng đòi
hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai
đoạn phát triển
Cũng tương tự như trong các thuật ngữ tăng trưởng và phát triển kinh
tế, phát triển nguồn nhân lực gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, thể hiện ở việc nâng cao trình độ giáo dục quốc dân, trình độ kỹ thuật, chuyên môn, sức khoẻ và thể lực cũng như ý thức hệ, đạo đức của người lao động Còn tăng trưởng nguồn nhân lực gắn với việc tăng
Trang 18về số lượng trong lực lượng lao động Phát triển nguồn nhân lực có vai trò
và ý nghĩa quyết định hơn so với sự tảng trưởng nguồn nhân lực, nhất là trong bối cảnh dân số, lao động và kinh tế như ở nước ta nói chung và Thủ
đô Hà Nội nói riêng
Quá trình phát triển nguồn nhân lực đồi hỏi tạo ra sự biến đổi về mặt
số lượng và chất lượng và một cơ cấu đội ngũ nhân lực hợp lý cần thiết để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển vì sự tiến bộ kinh tế -
xã hội Khác với đầu tư cho các nguồn lực phi con người, đầu tư cho nguồn nhân lực là sự tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng
và toàn xã hội nói chung
1.2.2 Đặc điểm và các yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến chát lượng dán số
a:
Cải thiện chất lượng dân số là sự nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải
thiện điều kiện giáo dục, điều kiện chăm sóc sức khoẻ, thực hiện bình đẳng
nam nữ, đem lại công bằng cho xã hội và hạnh phúc cho nhân dân Tăng
trưởng kinh tế là điều kiện cơ bản để thực hiện nội dung của sự phát triển
a) Chỉ sốGDP
Phát triển kinh tế tạo tiền để quan trọng cho việc nâng cao chất lượng đân số, trong đó, GDP bình quân đầu người là một trong những chỉ tiêu nói lên kết quả của tăng trưởng kinh tế và chất lượng cuộc sống của người dân
GDP bình quân đầu người được tính dựa trên hai yếu tố: Tổng sản
phẩm trong nước (GDP) và dân số trung bình Như vậy, có thể thấy rằng
nếu dân số tăng nhanh hơn mức tăng trưởng GDP sẽ dẫn đến GDP bình
quân đầu người giảm và có ảnh hưởng đến chất lượng dân số do những suy giảm trong chỉ tiêu về giáo dục, y tế của các hộ gia đình
Đối với Thành phố Hà Nội, nhịp độ tăng trưởng GDP trong thời kỳ 1991-1995 là 12,5%; 1996-2000 là 10,6% GDP đầu người năm 2000 đạt
990 USD Trong 10 năm qua (1991-2000), cơ cấu kinh tế của thành phố có
Trang 19nhiều chuyển biến rõ rệt theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong đó tỷ trọng các ngành công nghiệp tăng nhanh, còn dịch vụ và nông- lam-ngư nghiệp thì giảm tương đối Vấn đề này sẽ làm thay đổi nhiều về cơ
cấu sử dụng nguồn nhân lực của Thủ đô
b) Chỉ số phát triển con người (HDI)
Chỉ số phát triển con người, một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng dân số, là tiêu chí xác định sự phát triển con người qua trình
độ phát triển của quốc gia Chỉ số HDI nhằm xác định những thành tựu của một quốc gia trong việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người như: có mức sống vật chất; có sức khoẻ và tuổi thọ; có trình độ giáo dục Chỉ số này chỉ mức độ phát triển của quốc gia qua mức thu nhập của con người Chỉ số này dao động trong khoảng từ 0 đến 1 Một quốc gia có chỉ
số HDI càng tiến gần đến 1 thì càng được coi là quốc gia có tiểm năng khá Chỉ số HDI cũng cho thấy khoảng cách một đất nước tiến tới để đạt giá trị tối đa, và cũng đặt ra sự so sánh giữa các quốc gia Để có một chỉ số HDI cao, các quốc gia không chỉ tập trung các nỗ lực của mình vào tăng trưởng
kinh tế, mà còn tạo điều kiện để những thành quả của sự tăng trưởng đó
đến được với tất cả người dân của mình trên cơ sở đảm bảo sự tham gia và
bình đẳng cho mọi người
Thực tế cho thấy, không một nước nào có thể duy trì mức tăng trưởng
cao nếu không có nền tảng vững chắc về phát triển con người Đầu tư vào
giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng con người về mọi mặt là đầu tư vào tăng trưởng, phát triển kinh tế Những quốc gia nào thiếu chăm sóc sức khoẻ cơ bản, xuống cấp về giáo dục không có chiến lược dài hạn cho đào
tạo, phát triển con người sẽ không thể đảm bảo cho sự phát triển bên vững
của đất nước Cốt lõi của sự phát triển chính là nguồn nhân lực có trì thức,
kinh nghiệm
Năm 2000, theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc, chỉ số HDI của Việt Nam là 0.671, đứng thứ 108 trong số 174 nước trên thế giới Nếu xét riêng
Trang 20về thu nhập, Việt Nam có vị trí xếp hạng thấp hơn nữa, nhưng thành tựu
phát triển con người lại cao hơn nhiều
c) Các chỉ tiêu về sức khoẻ
So với các nước có cùng mức thu nhập, các chỉ số sức khoẻ của Việt Nam là tương đối tốt Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, với trình độ phát
triển kinh tế hiện tại, tuổi thọ của Việt Nam cao hơn 11 năm so với dự kiến
Trong cuộc điều tra mức sống dân cư 1997/1998, các chỉ báo về sức khoẻ
được xác định thông qua một số chỉ tiêu:
Tỷ lệ trẻ em từ 0-10 tuổi được tiêm ít nhất một loại vaccine và được tiêm từng loại vaccine được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số trẻ em được
tiêm chủng 1 loại vaccine hay ít nhất 1 loại trên tổng số trẻ em 0-10 tuổi của các bà mẹ 15-49 tuổi
Chỉ tiêu cho y tế bình quân đầu người bao gồm toàn bộ tiên và giá trị
hiện vật chỉ cho việc khám và chữa bệnh trong 12 tháng qua, kể cả chỉ phí
đi lại, ở trọ và chăm sóc bệnh nhân tại các cơ sở y tế Nhà nước, tư nhân, khám chữa bệnh tại nhà, chỉ mua thuốc tại các hiệu thuốc tư, chi bảo hiểm
y tế,
Cho đến nay, Hà Nội đã thực hiện trong nhiều năm liên tục tiêm đầy
đủ 6 loại vắc xin cho 09% trẻ em đưới 1 tuổi, 100% trẻ em từ 6-36 tháng tuổi được uống vitamin A, loại trừ các bệnh phong, bại liệt, bạch hầu, uốn ván sơ sinh, không để xảy ra các bệnh dịch lớn
đ) Chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng
Tình trạng suy dinh dưỡng, đặc biệt suy dinh dưỡng trẻ em, vẫn còn là bài toán lâu đài cho của ngành y tế Theo báo cáo của Viện dinh dưỡng khoảng 39% số trẻ em ở Việt Nam bị suy đinh dưỡng và đây là một trong những nguyên nhân của tình trạng tử vong ở trẻ em
Chế độ dinh dưỡng có thể được đánh giá qua chiêu cao của trể em
theo từng lứa tuổi Chiều cao của trẻ có thể phản ánh tình trạng suy dinh
Trang 21dưỡng kéo đài của trẻ trong quá khứ Cán nặng của trẻ ở từng nhóm tuổi cũng phản ánh tình trạng dinh dưỡng của trẻ
Ngoài ra tình trạng đinh dưỡng cũng có thể được đánh giá qua lượng calo mà người ta nhận được trong một ngày Đây đồng thời cũng là một chỉ
tiêu mà nhiều nhà khoa học sử dụng để xác định mức nghèo đói hiện nay
Ở Việt Nam và nhiều nước trong khu vực, chuẩn nghèo được xác định bằng
mức thu nhập bình quân đầu người một tháng để mua được 1 lượng lương
thực, thực phẩm cần thiết đảm bảo khẩu phần ăn duy trì mức nhiệt lượng
tiêu dùng một ngày là 2100 kcal Đây được coi là mức dinh dưỡng cung cấp đủ nhiệt lượng cho con người trong một ngày
e) Vấn đề việc làm và nghề nghiệp
Khái niệm “việc làm” và việc xác định số người có “việc làm” là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định cơ chế, chính sách quản lý nguồn nhân lực Trong cơ chế thị trường quan niệm về “việc làm” và người
có “việc làm” khác căn bản với quan niệm trong cơ chế cũ “Việc làm” là một phạm trù tổng hợp, “việc làm” và lao động liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau
Theo điều 13, Bộ Luật Lao động nước ta, khái niệm “việc làm” được
xác định là “mọi hoạt động lao động có ích nhằm tạo ra nguồn thu nhập
cho gia đình (hoặc góp phần làm tăng thu nhập của gia đình) không bị luật pháp ngăn cấm” Như vậy không chỉ những người làm việc trong các ngành của nền kinh tế quốc dân, mà nhiều người khác cũng được coi là có việc làm, nếu họ gián tiếp góp phần tạo ra thu nhập
“Người có đủ việc làm” là sự thoả mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm của các thành viên có khả năng lao động, nói cách khác là mỗi người có khả
năng lao động, muốn làm việc đều có thể tìm được việc làm trong thời gian
ngắn “Người có đủ việc làm” mới chỉ để cập về mặt số lượng, chưa tính
Trang 22đến yếu tố nguyện vọng, năng khiếu, sở trường tức là chưa tính đến yếu tố hợp lý của việc làm
“Thiếu việc làm” là tình trạng có việc làm nhưng thời gian làm việc thấp hơn thời gian quy định và có nhu cầu làm thêm Thiếu việc làm còn thể hiện đưới dạng làm việc có năng suất và thu nhập đưới mức thu nhập tối thiểu Hiện nay tình trạng thiếu việc làm còn phổ biến ở khu vực ngoại thành Hà Nội, hệ số thời gian sử dụng lao động thực tế ở khu vực này hiện khoảng 65 - 70%
“Việc làm hợp lý” là sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con người và vật chất của sản xuất, là bước phát triển cao hơn của việc làm đầy đủ Có “việc làm hợp lý” người lao động sẽ có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn
Hiện nay, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm còn cao nên chung ta đang tập trung giải quyết việc làm đầy đủ cho toàn dân, nhưng về lâu dài vẫn phải tính đến giải quyết “việc làm hợp lý” để bảo đâm hiệu quả kinh tế
xã hội ngày càng cao hơn
“Người chưa có việc làm” là người có nhu cầu làm việc, hiện tại chưa
tìm được việc làm, hoặc trước đây đã từng có việc làm, đã có nghề nghiệp nhất định nhưng hiện do điều kiện, hoàn cảnh nào đó chưa tìm lại được
việc làm Trong số này chủ yếu là số công nhân đôi ra do sự sắp xếp lại của các doanh nghiệp Nhà nước, những người hết hạn hợp đồng làm việc, học sinh các trường chuyên nghiệp và dạy nghề ra trường chưa tìm được việc làm, người đi lao động ở nước ngoài trở về
Thực chất “người thất nghiệp” và “người chưa có việc làm” là cùng một bản chất, chỉ khác nhau về cách phân chia có tính chất chi tiết của cùng một chỉ tiêu, do đó có thể gọi chung “người thất nghiệp là người có nhu cầu làm việc nhưng không có việc làm, đang đi tìm việc làm”
Trang 23Trong qué trinh chuyén sang nén kinh té thi trudng, do su tac dong của cung - cầu về lao động, đặc biệt là do quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, hiện tượng có “người thất nghiệp” là không tránh khỏi, nó phản ánh một thực tế của quá trình sắp xếp lại của một cấu trúc kinh tế - xã hội mới Tuy nhiên hiện nay, ở nước ta nói chung và ở thủ đô nói riêng không chỉ có thất nghiệp tạm thời do thay đổi cơ cấu, mà còn có thất nghiệp tiềm
ẩn, thất nghiệp không hoàn toàn (do hiệu suất sử dụng thời gian lao động còn thấp, nhất là ở nông thôn) chiếm tỷ trọng lớn cùng với tỷ lệ tăng cao hàng năm của nguồn lao động càng làm cho tình hình thất nghiệp càng thêm gay gắt Thực tế đang đòi hỏi phải có chính sách, giải pháp đồng bộ
để hạn chế tỷ lệ người thất nghiệp
h) Tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội
Tiếp cận và hưởng thụ các địch vụ xã hội là một trong những chỉ báo quan trọng đánh giá chất lượng dân số của một quốc gia, trong đó, đầu tư phát triển con người và xã hội có vai trò quan trọng Những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ số về phạm vi cung cấp các dịch vụ xã hội của Việt Nam cao hơn hẳn so với thế giới, tuy nhiên, vấn để chất lượng dịch vụ cần phải được cải thiện gấp Hiện nay, mức chi tiêu thực tế cho y tế và giáo
dục thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế,
Hiện tại trong lĩnh vực giáo dục còn tồn tại 3 vấn đề chính: khả năng tiếp cận giáo dục; chất lượng và tính thiết thực của giáo dục; trang trải cho giáo dục Mặc dù ty lệ học sinh đến trường khá cao và không có sự chênh lệch đáng kể giữa số học sinh nam và học sinh nữ nhưng còn rất nhiều vùng và nhiều nhóm người không có được điều kiện như những nhóm khác trong việc tiếp cận dịch vụ giáo dục, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo Sự chênh lệch giữa vùng nghèo và các vùng phát triển ngày càng lớn ở các bậc học cao Rõ ràng, việc đảm bảo khả năng tiếp cận một cách công bằng tới dịch vụ giáo dục cho tất cả mọi công dân là một nhân tố hết
Trang 24sức cần thiết để dam bao kha năng tiếp cận đến những cơ hội và những nguồn thu nhập mới trong tương lai cho mọi người dân
Chất lượng và tính thiết thực của giáo dục ngày càng trở thành một
yếu tố được chú ý và được nhìn nhận khác nhau ở hai khu vực nông thôn và thành thị Người dân ở khu vực nông thôn nhận thấy phương pháp giáo dục
ở cấp phổ thông không hợp lý, thời gian nghe giảng gây cản trở cho các công việc khác trong gia đình Trong khi đó, những gia đình ở thành thị đang ngày càng gia tăng sự lo lắng vì tình trạng chất lượng giáo dục xuống
cấp Họ cho rằng cả phương pháp và nội dung giảng dạy cần phải có sự thay đổi
Nâng cao hiệu quả của giáo dục và giảm thiểu gánh nặng chi phí cho các gia đình là một trong những vấn đề chính của giáo dục hiện nay Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học còn rất cao làm giảm kết quả học tập và tăng chi phí giáo dục của gia đình và chính phủ Ngoài ra việc giáo dục cơ bản còn dựa quá nhiều vào tiền đóng góp của các hộ gia đình khiến các hộ thu nhập thấp phải chịu thêm một gánh nặng đáng kể Theo ước tính của các chuyên gia, các gia đình phải chỉ trả 42% tổng chi cho giáo dục tiểu học và 50% tổng chỉ tiêu cho giáo dục cơ bản (bao gồm cả trung học cơ sở) Mức miễn giảm học phí cho đối tượng nghèo và các đối tượng khác hiện nay còn thấp Những nghiên cứu gần đây cho thấy, mức miễn giảm học phí hầu như không ảnh hưởng đến các gia đình nghèo vì nó chiếm tỷ lệ quá nhỏ bé trong tổng chỉ của phụ huynh cho trường và những chỉ phí liên quan đến
học hành
Về tài chính cho hoạt động giáo dục, hiện nay, Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm xây dựng chính sách và giám sát các chương trình giáo dục phổ thông Những nghiên cứu gần đây cho thấy, ngân sách dành cho giáo dục
va đào tạo đã tăng lên nhanh chóng trong các năm 1991-1998, và chỉ phí của Nhà nước cho giáo dục đã tăng gấp hơn hai lần từ 1,6% năm 1991 đến 4% năm 1998 trong tổng chỉ ngân sách Tỷ trọng kinh phí cho giáo dục cơ
Trang 25sở (kể cả giáo dục mầm non và tiểu học) tương đối ổn định ở mức trên 40%
ngân sách dành cho giáo dục Tuy nhiên, phần lớn ngân sách cho giáo dục
cơ sở được chị cho lương giáo viên (80%) Chị phí xây dựng trường lớp, và giáo cụ trực quan tiểu học, sách giáo khoa, đồ dùng học tập, đồng phục và những khoản lệ phí khác đều được huy động từ sự đóng góp của các gia đình Mặc dù hiện nay đã có chính sách điều hoà, phân phối lại tài chính từ
những tỉnh giàu hơn cho các tỉnh nghèo nhưng cơ chế này không đủ để bù
đấp mức thiếu hụt kinh phí cho giáo dục cơ sở ở những vùng nghèo
Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cũng được coi là một trong những yếu tố tạo nên những dịch vụ xã hội cơ bản Kết quả những nghiên cứu gần đây về sử dụng và tiếp cận các dịch vụ sử khoẻ cho thấy hiện đang có khoảng cách ngày càng lớn giữa người giàu và người nghèo trong lĩnh vực này Những người nghèo sử dụng các phương tiện y tế công cộng it hon, chỉ tiêu ít hơn cho việc chăm sóc sức khoẻ, tham gia ở mức thấp trong các chương trình bảo hiểm y tế, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận hệ thống dịch vụ y tế công cộng, họ thường tiếp cận với những dịch vụ y tế chất lượng kém Họ thấy rằng, những dịch vụ được cung cấp không phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của mình Thực tế cho thấy có những dịch vụ y tế cộng đồng không được sử dụng hết khả năng trong khi một số dịch vụ khác có nhu cầu cao lại không được cung cấp Các kết quả nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng tính sẵn có và tiếp cận được đối với các dịch vụ sức khoẻ sản phụ là thấp, chỉ khoảng 20% ở một số vùng sau, vùng xa,
Những nghiên cứu về chất lượng y tế cho thấy nhu cầu hiện đại hoá
trang thiết bị y tế hiện nay rất cấp bách do tình trạng quá tải và xuống cấp của các bệnh viện, vấn đề thiếu cán bộ y tế có trình độ Đạo đức nghề nghiệp cũng đang là vấn để bức xúc trong ngành y tế Chất lượng của việc phân phối các dịch vụ y tế cũng cần được đánh giá, đặc biệt là những dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ sản phụ
Trang 26Ngân sách cho ngành y tế được lấy từ ngân sách Trung ương, các
nguồn thu của địa phương, phần chỉ trả của các cá nhân cho dịch vụ y tế và nguồn thu từ bảo hiểm y tế Từ năm 1991 đến nay, chỉ tiêu về y tế trên thực
tế đã tăng lên tính theo mức chi tiêu trên đầu người, theo tỷ lệ trong chị phí
của Chính phủ và theo tỷ lệ phần trăm trong tổng sản phẩm quốc nội Năm
1997, ngân sách đành cho y tế chiếm 5,6% tổng ngân sách và chiếm 1,2% GDP Tuy nhiên các chuyên gia nhận định nhìn chung mức đầu tư của Chính phủ vào y tế là thấp so với chuẩn chung của thế giới do đó hệ thống
bảo vệ sức khoẻ không có đủ kinh phí Thêm vào đó sự phân bổ kinh phí
giữa các địa phương không đồng đều và có sự khác biệt lớn giữa các tính Chỉ phí của người dân cho sức khoẻ, mà tập trung chủ yếu vào dược phẩm,
là một trong những nguồn thu quan trọng của ngành y tế
¡) Các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chất lượng dân số Chất lượng dân số là một trong những nội dụng mới của chương trình dân số, tuy nhiên lĩnh vực này tương đối rộng và đề cập đến nhiều vấn đề Phần điểm lại những nghiên cứu có liên quan tiếp theo chủ yếu tập trung
thế giới việc học tập của người phụ nữ tại trường có thể ảnh hưởng cả trực
tiếp và gián tiếp tới tỷ lệ tử vong trẻ em theo đó một năm học tăng thêm của người phụ nỡ sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ em từ 0,6 - 0,95
Ở cấp độ vĩ mô, đã có nhiều cố gắng và thử nghiệm nhằm xây dựng
một mô hình lý thuyết cơ bản về chất lượng dịch vụ Trung tâm quốc tế về nghiên cứu các bệnh ở Bangladesh đã cố gắng đưa ra một bức tranh chưa
Trang 27từng có về một hệ thống cung cấp, vai trò của các nhân viên và sự đáp ứng của các khách hàng
Trong công trình nghiên cứu của mình trên tạp chí Study in Family Planning, Judith Bruce đã để cập đến một khía cạnh bị lãng quên của dịch
vụ KHHGPĐ là vấn đề chất lượng dịch vụ Bà đã xây dựng một lý thuyết cơ bản về chất lượng dịch vụ bao gồm é yếu tố liên quan đến trình độ bác sĩ,
trang thiết bị của cơ sở y tế, sự sẵn có của các dịch vụ, điều kiện vệ sinh môi trường, kỹ năng tư vấn
Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ và nạo thai tại một số điểm ở Việt Nam cho thấy, khách hàng hiện còn rất thiếu những thông tin liên quan đến những dịch vụ nhận tại cơ sở y tế Tính sẵn có của các biện pháp tránh thai
không được bảo đảm
Thành phố Hà Nội trong những năm qua cũng đã thực hiện một số đề tài nghiên cứu liên quan đến chất lượng dịch vụ và chất lượng dân số Nhóm tác giả của UBDS-KHHGĐ Hà Nội đã đánh giá thực trạng chất lượng của các chương trình cung ứng dịch vụ KHHGĐ theo nội dung mới dân số-sức khoẻ sinh sản Sau khi đánh giá thực trạng, các tác giả để xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ trong quản lý và chỉ đạo Một công trình nghiên cứu khác của UBDS-KHHGĐ Thành phố Hà Nội đề cập đến mối quan hệ giữa hộ gia đình và chất lượng đân số Đề tài đã phân tích những vấn đề về chất lượng dân số trên các khía cạnh: nhân khẩu học, kinh
tế, xã hội trong mối quan hệ với quy mô gia đình Kết quả nghiên cứu đã được UBDS - KHHGĐ các cấp sử dụng làm căn cứ trong việc điều chỉnh
mục tiêu chương trình dân số cho phù hợp với giai đoạn mới.
Trang 28CHUONG II: THUC TRANG DAN SO - KE HOACH HOA GIA DINH VA CAC YEU TO ANH HUONG DEN CHAT LUONG DAN
SỐ Ở HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về dân số Hà Nội
Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị, hành chính quốc gia, trung
tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước, là vùng đất "địa linh nhân kiệt” với lịch sử ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ và giao thoa các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Người dân
Hà Nội thanh lịch tiếp thu nhanh nhạy cái mới, có khả năng sáng tạo ra những giá trị văn hoá, tỉnh thần có giá trị Hiện nay ở Hà Nội có 43 trường đại học và cao đẳng, 34 trường trung học chuyên nghiệp, 41 trường dạy nghề, 112 viện nghiên cứu chuyên ngành, ngoài ra còn có các tổ chức quốc
tế, các công ty nước ngoài hoạt động trong các ngành công nghiệp tiên tiến, mũi nhọn Điều này ảnh hưởng to lớn đến chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn Hà Nội, tạo điều kiện cho Hà Nội có cơ hội hoà nhập vào quá trình phát triển năng động của các nước trong khu vực và trở thành động
lực phát triển của cả nước
Với vị trí là Thủ đô của cả nước, Hà Nội có điều kiện thuận lợi trong giao lưu và hợp tác quốc tế, nhanh chóng được tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật và tinh hoa văn hoá của thế giới, đây là cơ hội lớn cho người lao động Thủ đô tiếp thu và bắt kịp với trình độ quản lý và sử dụng các công nghệ hiện đại của thế giới
4) Quy mô và một độ dân số
Dân số Hà Nội năm 1990 là 2.051.900 người trong đó dân đô thị chiếm 50% Đến cuối năm 1999 dân số Hà Nội có 2.688.122 người, trong
đó dân thành thị 1.538.905 người, chiếm 57,6% Theo dự báo, đến năm
2010 dân số Hà Nội sẽ khoảng 3.200.000 người, trong đó dân đô thị chiếm
Trang 29Mat độ dân số là chỉ báo quan trọng cho mức độ đảm bảo của các cơ
sở hạ tầng và điều kiện nhà ở của đân số các quận nội thành cũng như khả năng đáp ứng công ăn việc làm ở các huyện ngoại thành Là một thành phố lớn của cả nước, mật độ dân số ở Hà Nội khá cao và tăng nhanh cùng với
quá trình đô thị hoá
Tinh dén 31/12/1999: mat d6 dan số Hà Nội có sự chênh lệch lớn giữa khu vực nội thành và ngoại thành với mức chênh lệch khoảng 11.4 lần Quận Đống Đa có mật độ dân số cao nhất (tới 33.804 người/km2), gấp
42 lần so với nơi có mật độ dân số thấp nhất của thành phố là huyện Sóc Sơn (799 người/km2)
Có sự giảm mật độ trong khu vực nội thành (từ 26.355 người/km2 năm 1994 xuống 17.207 người/km2 năm 1999) do mở rộng diện tích các quận nội thành (tuy mật độ còn thấp ở các quận mới) Trong nội thành, quận Đống Đa có mật độ cao nhất (33.804 người/km2), tiếp đến là các quận Hoàn Kiếm (32.339 ngườilkm2) Hai Bà Trưng (24.589 người/1km2), Ba Đình (21.797 người/1km2) Với các quận mới thành lập thì quận Thanh Xuân là quận có mật độ dân cư cao nhất (16.934 người/1km2), tiếp đến là quận Cầu Giấy (11.075 người/1km2) và thấp nhất là quận Tây Hồ (3.874 người/1km2) Điều này được giải thích do đặc điểm lịch sử và vị trí của các quận Các quận nội thành cũ là trung tâm thương mại của thành phố nên tập trung đông dân cư Các quận khác như
Cầu Giấy, Thanh Xuân, Tây Hồ là những quận mới thành lập từ một số
đơn vị thuộc các huyện ngoại thành, vẫn còn những khu vực sản xuất nông
nghiệp, làng nghề nông thôn và mức độ đô thị hoá chưa cao
Ở các huyện ngoại thành, đân cư tập trung tương đối cao ở huyện Thanh Trì (2.837 người/1km2), Từ Liêm (2.573 người/Ikm2), Gia Lam (1.968 người/Ikm2) là những huyện ven nội, nơi hiện đang điễn ra quá trình đô thị hoá nhanh chóng Các huyện Sóc Sơn, Đông Anh có mật độ đân số thấp (Sóc Sơn là 799 người/1km2, Đông Anh là 1.492 người/Ikm2
Trang 30do đây là khu vực còn kém phát triển nhất của thành phố, cơ sở vật chất hạ
tầng kỹ thuật chưa được đầu tư nhiều,
b) Phân bố dân cư
* Phân bố dân số theo địa bàn hành chính
Với tốc độ đô thị hoá nhanh, Hà Nội phát triển từ 4 quận nội thành cũ
lên thành 7 quận, yếu tố này đã làm ảnh hưởng mạnh đến cơ cấu phân bố
dân số
Bảng 1: Phân bố dân số nội - ngoại thành Hà Nội
Thời kỳ 1991-1995, mặc dù quy mô dân số nội thành tăng nhanh
(trung bình 2/72%/năm), ty trọng dân số sống ở các quận nội thành dao
động trong khoảng 46-46,3% tổng số dân toàn thành Giai đoạn từ năm
1995 đến nay, cùng với việc thành lập một số quận mới, diện tích nội thành mở rộng (từ 5,1% điện tích toàn thành lên 9,2%) dẫn đến tỷ trọng đân số nội thành trong tổng đân số chung tăng (từ 46,3% năm 1995 lên
Trang 3153,3% nam 1999),
* Phan bố dân số thành thị - nông thôn, nông nghiệp - phi nông nghiệp Dân số thành thị ngày càng tăng, dân số nông thôn ngày càng giảm: Trong kết cấu dân số Hà Nội, dân số nội thành chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng nhanh qua các năm
Do không gian đô thị ngày càng mở rộng và cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, nên tỷ lệ số dân ngoại thành so với số dân toàn thành phố ngày càng giảm (cu thé: 1995:
53,7%, 1996: 52%; 1997: 50,9%; 1998: 47,6% và 46,7% vào nam 1999)
và vẫn tiếp tục giảm mạnh trong quá trình đô thị hoá (Việc lập thêm 3 quận mới là Thanh Xuân, Tây Hồ và Cầu Giấy làm cho dân số nội đô của
Hà Nội tăng thêm gần 240.000 người)
Sự giảm dần về cơ cấu dân số nông nghiệp, và nông thôn dẫn đến
nhịp độ gia tăng cao dân số phi nông nghiệp, đân số đô thị; đó là quy luật tất yếu diễn ra trong quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế xã hội Thủ
đô
Bảng 2: Cơ cấu dân số nông thôn - thành thị; nông nghiệp - phi nông
Trang 32
nghiệp, sự chuyển hoá trong phân công lao động xã hội của Hà Nội diễn ra
chưa thật rõ nét và mạnh mẽ, mặc dù chính sách đối mới và quá trình phát triển đô thị hoá tác động mạnh mẽ đến sự biến động dân cư và phân công
lao động xã hội giữa các vùng lãnh thổ và khu vực kinh tế Tỷ trọng dân số phi nông nghiệp tăng chậm, chiếm trên 2/3 dân số Số dân thành thị tăng
chậm, khoảng gần 0,7%/năm trong các năm qua Năm 1995, dân thành thị chiếm 46,3%, năm 1996 là 48%, năm 1997 là 49% đân số Hà Nội, năm
1998 là 53% và năm 1999 53,3%
c) Cơ cấu dân số của Hà Nội
* Cơ cấu dân tộc: Cơ cấu dân cư và dân tộc ở Hà Nội khá thuần nhất, tuyệt
đại đa số là người Kinh, sử dụng ngôn ngữ Việt; tỷ lệ dân tộc thiểu số
không đáng kể
* Cơ cấu tuổi: Hà Nội có cơ cấu dân số trẻ Năm 1989, tỷ lệ trẻ em đưới l5
tuổi chiếm 33,08%, số người trên 60 tuổi chiếm 7,97% Đến năm 1999, tỷ
lệ tương ứng là 27,65% và 9,23%
* Cơ cấu dân số theo giới tính
Bảng 3: Cơ cấu dân số Hà Nội theo giới tính giai đoạn 1995 - 1999
động, thương bình và xã hội 1998; Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở
1994, 1999,
Trang 33Dân số Hà Nội có tỷ lệ giới tính cao hơn so với dân số cả nước (các năm 1995-1998 ở mức 96,5-96,6 nam/100 nữ) Tỷ lệ giới tính tăng dân đối
với các nhóm tuổi càng lớn, đặc biệt là các nhóm tuổi từ 60 trở lên Theo
báo cáo sơ bộ của Tổng điểu tra dân số và nhà ở, tính đến thời điểm
1/4/1999, tỷ lệ giới tính nam của dân số Hà Nội là 49,08%, nữ là 50,92%,
đây là tỷ số cân đối điều hoà như tỷ lệ giới của cả nước cũng như những lần điều tra dân số trước đây Song tỷ lệ sai số chung là 1,23% và được tính thêm 83.547 người của lực lượng vũ trang và ngoại giao nên ty lệ giới tính
của Hà Nội có sự thay đổi với tỷ lệ nam bằng 50,02%
* Dân số trong độ tuổi lao động
Theo kết quả điều tra lao động-việc làm tháng 10/1999, có 1.579.200
người trong độ tuổi lao động, trong đó khu vực thành thị có 916.000 người,
chiếm 58% ; khu vực nông thôn có 663.200 người chiếm 42%
Dân số trong độ tuổi lao động hoạt động kinh tế thường xuyên năm
1999 là 1.231.700 người chiếm gần 78% số người trong độ tuổi lao động Qua số liệu trên cho thấy số người đến tuổi lao động ngày càng tăng
Và việc tạo công ăn việc làm cho lao động hiện nay còn bất cấp, chưa đáp ứng được nhu cầu Vì thế, tạo việc làm hiện tại và trong tương lai vẫn còn
là một vấn đề cần tập trung quan tâm giải quyết của các cấp chính quyền
Cơ cấu dân số theo ngành (Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ):
Ty lệ số người đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân năm 1998 chiếm 92,1% so với lực lượng lao động, năm 1999 chiếm 92,4% Hiện có khoảng trên 40.000 lao động trực tiếp hoạt động trong các ngành Công nghiệp, Xây dựng, Giao thông vận tải, Bưu điện và một số ngành sản xuất, dịch vụ công nghiệp khác Lực lượng lao động này chiếm khoảng 44%
tổng số cán bộ, công nhân viên và chiếm khoảng 26,2% lực lượng lao động
xã hội của toàn thành phố, nấm giữ những cơ sở sản xuất quan trọng trong
phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô
Trang 34Tại khu vực thành thị, lao động ngành công nghiệp chiém 22,4%,
địch vụ chiếm 75,7% Trong khi đó ở khu vực nông thôn thì cơ cấu lao
động là: lao động nông nghiệp chiếm 62,56%, lao động công nghiệp chỉ chiếm 11,95% và dịch vụ chiếm 25,49%
Cơ cấu phân bố nguồn lao động trong các thành phần kinh tế có sự thay đổi cơ bản từ sau Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VỊ theo hướng tỷ trọng lao động trong khu vực kinh tế quốc doanh giảm dần, trong khi đó tỷ trọng lao động hoạt động trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh Năm 1989 lao động trong khu vực kinh tế quốc doanh chiếm
khoảng 52%, còn ngoài quốc doanh chiếm khoảng 48%, năm 1992 tỷ lệ tương ứng là 36,8% và 63,2% và năm 1995 là 35,5% và 64,5% Năm 1999,
tổng số lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước trên địa bàn Hà Nội là 382.100 người, chiếm 34,74% tổng số người hoạt động kinh tế (1,0997 triệu người), còn lại là số người lao động trong các thành phần
kinh tế khác (chiếm 65,26%) Trong thời gian tới, cùng với quá trình cải
cách hệ thống hành chính và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lao động sẽ địch chuyển theo hướng giảm bớt lao động trong khu vực kinh
tế Nhà nước, tăng lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước
Tại khu vực thành thị, lao động tập trung chủ yếu vào khu vực kinh tế Nhà nước (chiếm 48,8% số lượng lao động) và khu vực tư nhân (42,4%), lao động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có 2% Tình hình phân bố lao động tính theo thành phần kinh tế ở vùng nông thôn lại khác, trước khi chuyển sang thực hiện Luật Hợp tác xã, lao động tập trung
trong khu vực kinh tế tập thể chiếm 71,9%, tư nhân chiếm 14.9% còn khu
vực kinh tế nước ngoài chỉ chiếm có 0,15% Lao động khu vực nông thôn tập trung chủ yếu vào ngành nông nghiệp nhưng giá trị đóng góp vào nền kinh tế của Thành phố thấp, chỉ khoảng 4% GDP Do tình hình thay đổi vì yêu cầu phát triển đô thị, công nghiệp hoá và quy hoạch sử dụng đất nông
Trang 35nghiệp nên trong thời gian tới việc định hướng chuyển dịch dần cơ cấu lao động nông thôn là vấn đề cần phải quan tâm
2.2 Động thái gia tăng dân số Thủ đô giai đoạn 1990 - 1999
Hiện nay Hà Nội là thành phố có số dân đông nhất khu vực phía Bắc
và đứng thứ 2 trong cả nước Tốc độ tăng dân số bình quân nhiều năm qua
khoảng 70.000 người/năm, trong đó tăng tự nhiên chiếm gần 50%
Bảng 4: Dân số Hà Nội giai đoạn 1990 - 1999
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 1990 - 1999
Động thái gia tăng dân số chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó việc thay đổi địa giới hành chính 10 năm qua cùng với tốc độ đô thị hoá nhanh của Hà Nội đã tác động không nhỏ đến sự biến động về quy mô, mật
độ và cơ cấu dân số của Thủ đô Kể từ năm 1954 đến nay, tại Hà nội đã có
không ít hơn 27 lần thay đổi lớn về cơ cấu tổ chức hành chính, trong đó có
tới 10 lần thay đối địa giới Tuy nhiên trong phần này, nhóm nghiên cứu tập trung phân tích những chỉ tiêu dân số học có ảnh hưởng trực tiếp đến
Trang 36động thái gia tăng dân số ở Thủ đơ như: tỷ suất sinh thơ; tổng ty suất sinh;
ty lệ sinh con thứ ba; tỷ suất chết thơ; tý lệ tăng dân số tự nhiên; tỷ lệ tăng dân số cơ học
2.2.1 Tỷ suất sinh thơ (CBR) và tổng tỷ suất sinh (TFR))
Mức sinh của dân số Hà Nội trong nhiều năm qua được kiểm sốt tương đối chặt chẽ Do vậy, mức sinh ở nội thành ổn định, và cĩ xu hướng
giảm sinh rõ rệt ở các huyện ngoại thành Cụ thể, CBRẢ giảm dần qua các năm, trung bình mỗi năm giảm từ 0,4%ò đến 0,56%o Riêng năm 1999
Tổng điều tra mẫu (trong Tổng điều tra dân số) đã đánh giá tỷ suất sinh thơ
của Hà Nội thống nhất với cả nước là 14,94%o, do vậy mức sinh giảm hơn
so với năm 1998 là 2,29%o (ở mức giảm cao nhất trong 10 năm) Như vậy,
Hà Nội đã thực hiện được mục tiêu đề ra trong chiến lược DS-KHHGĐ đến
năm 2000 là tỷ suất sinh thơ giảm 0,5%ø mỗi năm So với mức tiêu chuẩn
do Tổ chức Y tế thế giới đưa ra thì Hà Nội cĩ mức sinh thấp (dưới 20%2)
Bảng 5: Tỷ suất sinh thơ ở Hà Nội qua các năm 1990 - 1999
Nguồn: Niên giám thống kê 1990 - 1999; Báo cáo tổng kết các năm từ
1993 - 1999 của UBDS-KHHGĐ Hà Nội
Qua bảng trên cĩ thể thấy, tính từ năm 1996, năm đầu tiên thực hiện
chiến lược DS-KHHGPĐ, mức sinh ở khu vực nội thành giảm chậm hơn khu
vực ngoại thành Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này cĩ thể là do
mức sinh ở ngoại thành cao hơn nội thành, vì vậy khả năng giảm là nhiều
3 Toral Fertility Rate (TFR): là tổng tỉ suất sinh theo lứa tuổi của tất cả các khoảng cách tuổi
* CBR (Tỷ suất sinh thơ): là tỉ số giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số dân trung bình ở cùng
thời gian ấy với đơn vị tinh bang (%,)
Trang 37hơn Trong thời gian gần đây, từ năm 1997, chênh lệch về mức sinh giữa 2
khu vực đã được rút ngắn; đến năm 1998, CBR của nội thành là 16,3%o, trong khi của ngoại thành là 17,4%o Tuy nhiên đến năm 1999, CBR giữa nội và ngoại thành lại có sự chênh lệch đáng kể: 13,88%o và 16,15%o
Theo kết quả điều tra dân số trên cơ sở suy rộng mẫu 3%, tổng tỷ suất
sinh của phần lớn các đô thị (Hà Nội đạt 1,96”) đều đạt thấp hơn mức sinh thay thế Như vậy, Hà Nội đã đạt mức sinh thay thế sớm hơn 5 năm so với mục tiêu đặt ra trong chiến lược DS-KHHGĐ đến năm 2000
2.2.2 Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên
Hiện nay Hà Nội đã là một trong những thành phố có ty lệ sinh con
thứ 3 trở lên thấp nhất trong cả nước Trong thời kỳ từ 1991 đến 1999, tỷ lệ cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên ở Hà Nội giảm đi một lượng đáng kể
Nếu như năm 1991, tỷ lệ này là 12,8% thì năm 1999 con số này chỉ còn 5,85% Trung bình mỗi năm giảm -0,87% Năm 1999 có 46 xã, phường không có các cặp vợ chồng vi phạm mục tiêu sinh con thứ 3, tăng 11 xã, phường so với năm 1998; trong đó có 5 xã, phường 5 nam liên tục trở lên không có người sinh con thứ 3
Bảng 6: Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở Hà Nội qua các năm 1991-1999
Trang 38thứ 3 trở lên của các huyện ngoại thành cao gấp 5 lần khu vực nội thành Nhìn chung, so với nội thành, các huyện ngoại thành, nhất là huyện Sóc Sơn, vẫn còn một số lượng lớn các cặp vợ chồng tiếp tục sinh con thứ 3 trở
lên (chiếm 11,52%, đứng đầu toàn thành về tỷ lệ sinh con thứ ba), tiếp đến
là Đông Anh (8,5%), Từ Liêm (6,0%), Thanh Trì (5,7%), Gia Lâm (5,6%)
Đối với khu vực nội thành, quận Ba Đình và Đống Đa có tỷ lệ sinh con thứ
ba thấp nhất (1,3%), tiếp đến là Hoàn Kiếm (1,41%), Hai Bà Trưng
(1,42%), Tây Hồ và Thanh Xuân (2,0%), quận Câu Giấy có tý lệ sinh con
thứ ba cao nhất trong các quận nội thành (2,2,%)
2.2.3 Tỷ suất chết thô (CDR)
Tỷ suất chết thô (CDR) của dân số Hà Nội đứng ở mức thấp, có xu hướng giảm chậm và tương đối ổn định Năm 1998, CDR của dân số Hà Nội là 4%o.Trong thời kỳ 1990 đến 1998, CDR giảm trung bình từ 0,06%o
đến 0,1%o Nhìn chung, CDR của dân số khu vực nội thành và ngoại thành khác nhau không đáng kể, khoảng cách chênh lệch về mức chết của dân số giữa 2 khu vực này ngày càng được thu hẹp
Bảng 7: Biến động mức chết ở Hà Nội giai đoạn 1990 - 1999
Trang 39$o với cả nước, tỷ suất chết thô của Hà Nội chỉ bằng một nửa và là một trong những thành phố có tý suất chết thấp nhất trong cả nước Mức
chết thấp của Hà Nội còn được khẳng định khi so sánh tỷ suất chết trẻ em
dưới 1 tuổi Trên thực tế, tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi của toàn quốc
cao gấp 4 lần của Hà Nội (44,18%o so với 10,2%o)
Bảng 8: Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số Hà Nội giai đoạn 1990 - 1999
Như vậy, công tác dân số Hà Nội với việc kiểm soát tỷ lệ phát triển
dân số tự nhiên đã hoàn thành trước 1 năm với các chỉ tiêu mà Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ 12 và mục tiêu chiến lược dân số của Thủ đô tới năm 2000 đẻ ra, vượt trước 5 năm so với chương trình, mục tiêu của cả
nước về mức sinh thay thế,
Trang 402.2.5 Tỷ lệ tăng dân số cơ học
Bên cạnh những thành công đạt được trong việc kiểm soát mức gia
tăng tự nhiên dân số, Hà Nội còn nhiều khó khăn trong việc kiểm soát mức tăng dân số cơ học (xem Bảng 10) Bình quân hàng năm tang 2,63% (thời
kỳ 1990 - 1995) và 2,2% (thời kỳ 1996 - 1999, Trong những năm gần đây
tốc độ tăng cơ học là trên dưới 1% mỗi năm
Biến động cơ học của dân số Hà Nội tương đối phức tạp, xu hướng
tăng giảm thất thường, phụ thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ và các yếu tố khác nhau như việc làm, thu nhập, điều kiện
sống, điều kiện làm việc, các chính sách của Nhà nước, biến động kinh tế, chính trị trong và ngoài nước, các yếu tố tâm lý, tình cảm, gia đình
Hà Nội cũng như một số thành phố lớn khác, điều kiện sống được nâng cao đã thu hút nhân lực, nhân tài và lao động các nơi về thành phố
Đặc biệt từ sau thời kỳ thực hiện chính sách kinh tế thị trường làn sóng
người từ các tỉnh về Hà Nội ngày càng tăng với nhiều lý do, hoàn cảnh và
Nguồn: Niên giám thống kê 1990-1999; Báo cáo tổng kết các năm từ 1993
đến 1999 của UBDS-KHHGĐ Hà Nội
Sự gia tăng dân số cơ học một cách nhanh chóng của Hà Nội có thể
giải thích bằng một số nguyên nhân cơ bản sau: