1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.

64 368 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 506 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều năm qua, công tác DS- KHHGĐ nói chung và vấn đềnâng cao chất lượng dân số nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọngtrong chương trình phát triển kinh tế-xã hội của Huy

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ 7

1 MỞ ĐẦU 8

1.1 Tính cấp thiết 8

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 10

1.2.1 Mục tiêu chung 10

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 10

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 11

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 13

2.1 Cơ sở lý luận 13

2.1.1 Các quan điểm, khái niệm về chất lượng dân số 13

2.1.2 Nâng cao chất lượng dân số 17

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số 19

2.1.3.1 Yếu tố sinh học và di truyền 19

2.1.4 Các chủ trương chính sách của đảng và nhà nước có liên quan 25

2.2 Cơ sở thực tiễn 26

2.2.1 Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dân số trên thế giới 26

2.2.2 Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dân số tại Việt Nam 28

2.2.3 Các nghiên cứu trước đây có liên quan 36

III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 37

3.1.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội 38

Trang 2

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến việc

nâng cao chất lượng Dân số 44

3.2 Phương pháp nghiên cứu 45

3.2.1 Phương pháp tiếp cận 45

3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 46

3.2.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 47

3.2.4 Phương pháp xử lý và tổng hợp dữ liệu 49

3.2.5 Phương pháp phân tích thông tin 50

3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 50

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52

4.1 Thực trạng chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm 52

4.1.1 Số lượng và biến động dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm 52

4.1.2 Chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm 55

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm .57

4.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước 57

4.2.2 Chất lượng cuộc sống 57

4.2.5 Giáo dục 59

4.2.6 Môi trường 59

4.3 Giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm 59

4.3.1 Căn cứ đề xuất 59

4.3.2 Định hướng nâng cao chất lượng dân số 59

4.3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng dân số 59

V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (2011 – 2013) 37

Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu về dân số - xã hội huyện Gia Lâm 38

(2011-2013) 38

Bảng 3.3: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Gia Lâm 3 năm (2011-2013) 40

Bảng 4.1 Tăng trưởng dân số huyện Gia Lâm giai đoạn 2011 – 2013 49

Bảng 4.2 Tình hình tăng dân số tự nhiên và cơ học tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2011 - 2013 50

Bảng 4.3 Tỷ lệ giới tính khi sinh tại Gia Lâm giai đoạn 2011 - 2013 50

Bảng 4.4 Cơ cấu dân số huyện Gia Lâm 51

Bảng 4.5 Tổng tỷ suất sinh qua các năm của huyện Gia Lâm 51

Bảng 4.6 Tỷ lệ gia tăng tự nhiên huyện Gia Lâm giai đoạn 2011 - 2013 52

Bảng 4.8 Tỷ lệ biết đọc biết viết của người dân trên địa bàn huyện Gia Lâm53 Bảng 4.9 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân cư huyện Gia Lâm 53

Bảng 4.10 Tình hình nhà ở của các hộ dân huyện Gia Lâm 54

Bảng 4.11 Điều kiện sinh hoạt của các hộ dân tại huyện Gia Lâm 54

Bảng 4.12 Tần suất tham gia của các hộ dân vào các tổ chức xã hội địa phương 55

Bảng 4.13 Tình hình y tế và chăm sóc sức khỏe huyện Gia Lâm 55

Trang 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Trang 5

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết

Năm 2013 đánh dấu một sự kiện nổi bật trong công tác dân số đó làngày 01/11 dân số Việt Nam chạm mốc 90 triệu người Sự kiện này đã đượccác cơ quan thông tin đại chúng trong nước và quốc tế đăng tải - minh chứngcho sự thành công của công tác DS-KHHGĐ trong thời gian qua Với việcchạm mốc 90 triệu dân đồng nghĩa với việc nước ta đã bước vào thời kỳ có cơcấu “dân số vàng” và theo dự báo của các nhà khoa học thời kỳ này sẽ kéo dài

từ 30 - 35 năm Đây được coi là thời cơ hiếm có để thúc đẩy đất nước pháttriển về mọi mặt, khi chúng ta đang sở hữu một nguồn nhân lực lớn với hơn

62 triệu dân (chiếm 69% dân số) trong độ tuổi lao động Thị trường rộng lớn,nguồn nhân lực dồi dào hứa hẹn Việt Nam sẽ là điểm đến đầy tiềm năng hấpdẫn các nhà đầu tư nước ngoài Từng bước góp phần thúc đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Mặc dù đang ở thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” nhưng công tác dân sốtrong giai đoạn hiện nay cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, tháchthức: Mất cân bằng giới tính khi sinh và chất lượng dân số còn hạn chế có thểxem là những “mảng tối” trong bức tranh dân số nước ta thời điểm hiện tại

Dự báo, với xu hướng mất cân bằng giới tính như hiện tại, đến năm 2035,Việt Nam có thể sẽ dư thừa 10% nam giới trưởng thành so với nữ giới Tìnhtrạng này nếu không được kiềm chế sẽ dẫn tới những hệ lụy khôn lường, tácđộng tiêu cực tới cấu trúc dân số trong tương lai; Chất lượng dân số gồm cácvấn đề: Thể chất, trí tuệ và tinh thần của con người sống trong xã hội Mặc dù

đã có những bước tiến nhất định nhưng nhìn chung, việc thực hiện các yếu tốtrên còn hạn chế Về thể chất, tuổi thọ trung bình của người dân gia tăngnhưng số người già đau yếu còn chiếm số lượng lớn, tình trạng trẻ sơ sinh bị

dị tật bẩm sinh do di truyền ngày càng cao Điều kiện sống của một bộ phận

Trang 6

không nhỏ người dân hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Cuộc sống mưu sinhcùng gánh nặng cơm áo hàng ngày khiến họ không có điều kiện thụ hưởngcác giá trị văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần Mặc dù có nguồn nhân lựcdồi dào nhưng chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta còn thấp, trình độ taynghề và chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế chủ yếu là lao động giản đơn nêngiá trị thặng dư từ lao động mang lại không cao theo số liệu năm 2010 hơn60% người lao động chưa qua đào tạo (Trần Quang Đại, 2011) Chỉ số pháttriển con người (HDI) ở nước ta thời gian qua đã từng bước được cải thiện,song vẫn ở mức thấp, xếp ở nhóm sau cùng của thế giới, năm 2012 chỉ sốHDI của Việt Nam đứng ở mức 127/186 trong bảng xếp hạng về chỉ số pháttriển con người của Liên Hợp Quốc (tạp chí DS&PT)

Chất lượng dân số thấp đang là thách thức không nhỏ, cản trở sự pháttriển của đất nước Do đó, việc nâng cao chất lượng dân số cần là ưu tiên hàng

đầu của đảng và nhà nước nhất là trong giai đoạn nước ta đang trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” như hiện nay Điều này được thể hiện cụ thể trong điều 21 Pháp lệnh dân số năm 2003; Đề án tổng thể phát triển thể

lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; chiến lược dân số ViệtNam giai đoạn 2011 - 2020, Chương trình mục tiêu quốc gia về dân số vàKHHGĐ đến năm 2015,…

Huyện Gia Lâm có 22 xã, thị trấn, địa bàn rộng, số dân đông gần 26vạn người, mật độ dân số khoảng 2.100 người/km2, mỗi năm có gần 5.000 trẻsinh ra Trong nhiều năm qua, công tác DS- KHHGĐ nói chung và vấn đềnâng cao chất lượng dân số nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọngtrong chương trình phát triển kinh tế-xã hội của Huyện, nên luôn được quantâm lãnh đạo, chỉ đạo Ngành dân số từ Huyện đến cơ sở đã tổ chức nhiềuhoạt động, đặc biệt chú trọng công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nhằmnâng cao kiến thức, kỹ năng trong thực hiện các hành vi dân số sức khỏe sinhsản KHHGĐ, tiến tới nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Tuy

Trang 7

nhiên, công tác DS- KHHGĐ huyện Gia Lâm vẫn đứng trước những khókhăn, thách thức: tỷ lệ bà mẹ, trẻ em đến khám trước và sau sinh còn hạn chếgây khó khăn cho các cán bộ dân số trong việc bảo đảm nâng cao sức khỏecho bà mẹ trẻ em, Kết quả giảm sinh và giảm sinh con thứ 3 trở lên chưa thực

sự vững chắc, tâm lý sinh con trai còn nặng nề ở một số hộ gia đình dẫn đến

tỷ lệ chênh lệch giới tính ở trẻ sơ sinh đang diễn biến phức tạp, khó kiểm soát

và là vấn đề rất đáng lo ngại (tỷ số giới tính khi sinh 6 tháng đầu năm là 129trẻ trai/100 trẻ gái) nếu không có biện pháp giải quyết sẽ gây tác động tiêucực đến cấu trúc dân số trong tương lai

Trước đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về dân số, tuy nhiên chúng tathường chú trọng đến các chỉ số về tốc độ tăng dân số, số người sinh con thứ

3, tỷ lệ giới tính…mà ít quan tâm đến chất lượng dân số Trong khi đó việcnâng cao chất lượng dân số có tác động lớn đến sự phát triển bền vững của đấtnước

Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiêncứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm” Kếtquả mà đề tài mang lại sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho các nhà quản lýtrong việc đưa ra các giải pháp có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dân sốtrên địa bàn Huyện

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng dân số;

2- Đánh giá thực trạng chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâmnhững năm qua;

Trang 8

3- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bànhuyện Gia Lâm;

4- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng dân sốtrên địa bàn huyện Gia Lâm trong thời gian tới

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1- Chất lượng dân số được phản ánh thông qua những chỉ số nào?

2- Thực trạng số lượng, chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâmđược thể hiện thông qua các chỉ số phản ánh chất lượng dân số như thế nào?

3- Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách trong việc nâng caochất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm là gì?

4- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng dân số trên địa bànhuyện Gia Lâm?

5- Giải pháp nào nhằm nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyệnGia Lâm?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động nhằm nâng cao chấtlượng dân số được thể hiện thông qua các đối tượng:

Các hộ dân trên địa bàn huyện Gia Lâm, Các cán bộ làm công tác dân

số và các phòng ban có liên quan trong việc thực hiện triển khai các hoạt động

về Dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm

- Các nhóm dân số chủ yếu: công chức, người lao động,

- Cơ quan quản lý dân số: Chi cục dân số, phòng dân số - KHHGĐ

Trang 9

Về không gian: Đề tài được thực hiện tại huyện Gia Lâm - TP Hà Nội;một số nội dung chuyên sâu khảo sát ở một số xã đại diện.

Thời gian:

- Đề tài sử dụng các nguồn tin, dữ liệu thứ cấp tại địa phương từ năm

2011 đến nay;

- Dữ liệu sơ cấp: thu thập 2014

- Các giải pháp đề xuất cho 2015 - 2020

Trang 10

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa

lý hoặc một không gian nhất định,, là nguồn lao động quý báu cho sự pháttriển kinh tế - xã hội, thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số và biểuhiện bằng một tháp dân số (http://vi.wikipedia.org)

Dân số chỉ tất cả những người sống trong phạm vi một địa giới nhấtđịnh (một nước, một vùng kinh tế, một đơn vị hành chính, v.v ) có đến mộtthời điểm hay trong một khoảng thời gian nhất định

+ Dân số thường trú: hay trong thống kê, dân số được thu thập theokhái niệm “Nhân khẩu thực tế thường trú”, khái niệm này phản ánh nhữngngười thực tế thường xuyên cư trú tại hộ tính đến thời điểm thống kê đã được

6 tháng trở lên và những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ, không phânbiệt họ đã được đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã/phường/thị trấn đang ở haychưa Nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ bao gồm:

a) Những người vẫn thường xuyên ăn ở tại hộ tính đến thời điểm thống

kê đã được 6 tháng trở lên

b) Những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ và những trẻ em mớisinh trước thời điểm thống kê; không phân biệt họ đã có hay không có giấy tờpháp lý chứng nhận sự di chuyển đó

c) Những người “tạm vắng” bao gồm:

- Những người đi nghỉ hè, nghỉ lễ, đi công tác, đi du lịch, dự lớp bồidưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, đi chữa bệnh, v.v…;

Trang 11

- Những người đang bị tạm giữ;

- Những người rời gia đình đi làm ăn ở nơi khác tính đến thời điểmthống kê chưa đủ 6 tháng (nếu đã rời gia đình đi làm ăn ở nơi khác tính đếnthời điểm thống kê đủ 6 tháng trở lên thì được tính tại nơi đang ở) Chỉ tiêu

“Dân số” được chi tiết hoá theo một số chỉ tiêu cơ bản nhất như sau:

+ Dân số Tạm trú: Là những người không thường xuyên sinh sống tạimột địa phương, nhưng lại có mặt vào thời điểm điều tra tại địa phương đó

+ Dân số tạm vắng: Là những người thường xuyên sinh sống tại mộtđịa phương, nhưng tại thời điểm điều tra lại vắng mặt tại địa phương đó

c Vai trò của dân số và phát triển

Dân số vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng của cải của

xã hội Vì vậy, qui mô, cơ cấu của dân số quyết định qui mô, cơ cấu của sảnxuất và tiêu dùng Con người - dân số đóng vai trò trung tâm trong mọichương trình, chiến lược phát triển, nó vừa là điều kiện, phương tiện, vừa làmục tiêu của phát triển Phát triển kinh tế xã hội dù ở đâu và thời kỳ nào đềunhằm hướng tới việc phục vụ cho mục tiêu phát triển toàn diện con người

(Giáo trình Dân số và Phát triển, Nguyễn Nam Phương)

d Các chỉ tiêu đo lường về dân số

Trang 12

Quy mô dân số: Tổng dân sinh sống trong một lãnh thổ nhất định(vùng, địa phương, quốc gia) vào một thời điểm xác định ( Đầu năm, giữanăm, cuối năm, )

Phân bố dân số: Là sự sắp xếp số dân trên một vùng lãnh thổ phù hợpvới điều kiện sống của người dân và các yêu cầu nhất định của xã hội

Cơ cấu dân số: Là sự phân chia tổng dân số thành các bộ phận theo mộttiêu thức nhất định Trong đó cơ cấu tuổi và giới tính của dân số là quan trọngnhất vì không những nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết và di dân mà cònảnh hưởng đến quá trình phát triển KT - XH

2.1.1.2 Chất lượng dân số

a Quan điểm, khái niệm về chất lượng dân số

- Quan điểm chất lượng dân số ở nước ngoài

Khái niệm “chất lượng dân số” xuất hiện từ thế kỷ 18, khoa học tư sảnnghiên cứu chất lượng dân số một cách hạn hẹp chỉ dựa trên cơ sở gen Điểnhình là thuyết chủng tộc xuất hiện ở cuối thế kỷ 19 Nội dung cơ bản củathuyết này là: Có chủng tộc thượng đẳng và chủng tộc hạ đẳng Điều này dựatrên cơ sở tự nhiên, mang tính di truyền và bất biến

Ăng-ghen cho rằng: “Chất lượng dân số là khả năng của con người thựchiện các hoạt động một cách hiệu quả nhất”

Theo quan điểm của các nhà nhân khẩu học Nga, chất lượng dân số là

“khái niệm trung tâm của hệ thống tri thức của dân số” được phản ánh bởi cácchỉ tiêu:

- Trình độ giáo dục

- Cơ cấu nghề nghiệp, xã hội

- Tính năng động của tình trạng sức khỏe

Chất lượng dân số hình thành nhờ chăm sóc y tế, giáo dục và đào tạonghề cũng như các hoạt động cụ thể khác như văn hóa thể thao, du lịch… Nótương ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 13

- Quan điểm trong nước

Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam năm 1995, “Chất lượng” làphạm trù triết học biểu thị những bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính

ổn định tương đối của nó, phân biệt nó với các sự vật khác Như vậy, “chấtlượng dân số phải được biểu thị bằng các thuộc tính bản chất của dân

số”, tổng hợp lại đó có thể là các thuộc tính về thể lực, trí lực, năng lực xã hội

và tính năng động xã hội…

Chất lượng dân số hàm chứa một hệ thống các đặc trưng của dân số:Trình độ học vấn, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu xã hội, tính năng động, tìnhtrạng sức khoẻ và các đặc trưng khác của dân số Mỗi trình độ phát triển củalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ tương ứng với một mức độ chấtlượng dân số nhất định Như vậy, nó được phản ánh thông qua các tiêu chí cụthể liên quan đến tình trạng tầm vóc, thể lực, sức khoẻ sinh sản, trình độ họcvấn, trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật, cơ cấu và kỹ năng nghề nghiệp,đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản, đời sống tinh thần và các vấn

đề văn hoá thông tin, gắn kết cộng đồng và an ninh xã hội (Tạp chí DS&PT)

Pháp lệnh dân số Việt Nam năm 2003 đã định nghĩa: “Chất lượng dân

số phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số”

Như vậy, chất lượng dân số là một phạm trù rộng, được hiểu là tổng thểcác thành tố tạo nên thể lực, trí lực và tinh thần của con người nói chung Mộtdân số cụ thể, dân số của mỗi nước hoặc mỗi vùng và vào những thời kỳ nhấtđịnh sẽ có một chất lượng nhất định Chất lượng dân số được nhìn nhận liênquan biện chứng đến số lượng dân Chất lượng dân số bao hàm chất lượngngười từ lúc mới sinh cho đến khi chết, cả nam và nữ Chất lượng dân sốkhông chỉ được đánh giá về nhân trắc học (chiều cao, cân nặng, các số đo cơbản về vòng ngực, bụng, tay, chân, sự cân đối của cơ thể với từng lứa tuổi ),

tố chất, sức chịu đựng dẻo dai… mà còn được nhìn nhận thông qua cuộc sốngtinh thần, con người quan hệ với nhau như thế nào, họ có cơ hội bình đẳng

Trang 14

không trước sự lựa chọn việc làm, giáo dục, phúc lợi, hôn nhân gia đình , cóđược tôn trọng và tự do cá nhân không, họ có môi trườn g để phát huy khảnăng sáng tạo hay không trong thực tế Chất lượng dân số bao hàm các kháiniệm về chất lượng nguồn nhân lực, khái niệm chất lượng lao động.

b Thành phần của chất lượng dân số

Thep pháp lệnh dân số, chất lượng dân số bao gồm các thành phần sau

- Thể chất: Gồm nhiều yếu tố khác nhau trong đó các số đo về chiềucao, cân nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo, dinh dưỡng, bệnh tật,tuổi, thọ, gen di truyền của người dân

- Trí tuê: Gồm các yếu tố như trình độ học vấn, thẩm mỹ, chuyên môn

kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề thể hiện qua tỷ lệ biết chữ, số năm bình quân đihọc/người, tỷ lệ người có bằng cấp được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ

- Tinh thần: Gồm các yếu tố về ý thức và tính năng động xã hội thể hiệnqua mức tiếp cận và tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, thông tin, cùngngười dân

c Đặc trưng của chất lượng dân số

Chất lượng dân số có 3 đặc trưng cơ bản sau:

1- Chất lượng dân số có tính đặc trưng theo từng vùng, từng thời kỳ.2- Trong chất lượng dân số yếu tố chất lượng con người đòi hỏi phảiđược tích lũy, phát triển, rèn luyện qua thời giai, nó sẽ mất dần đi nếu khôngđược sử dụng, rèn luyện và phát triển thường xuyên

3- CLDS gắn liền với quá trình tái sản xuất dân số nên nó cũng mangtính mâu thuẩn và tính quán tính, để đổi mới chất lượng dân số chúng ta cầnthời gian và thế hệ

2.1.2 Nâng cao chất lượng dân số

2.1.2.1 Ý nghĩa nâng cao chất lượng dân số

Có sự liên quan chặt chẽ giữa chất lượng dân số và phát triển con người,phát triển nguồn nhân lực, chất lượng giống nòi và chất lượng cuộc sống

Trang 15

Việc cải thiện, nâng cao chất lượng dân số sẽ góp phần cải thiện các vấn đề

đó Nâng cao chính chất lượng dân số cho thấy sự cải thiện chất lượng cuộcsống và là cách nâng cao chất lượng cuộc sống tốt hơn nữa

Theo điều 20 PLDS 2003 chỉ rõ:

1 Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của Nhà nước trong

sự nghiệp phát triển đất nước

2 Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số về thểchất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của ViệtNam lên mức tiên tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước

2.1.2.2 Nội dung nâng cao chất lượng dân số

a Nâng cao yếu tố thể chất

Thể chất con người phụ thuộc vào quy luật di truyền (chi phối tầm vóc,thể lực nhu chủng tộc, giống nòi, giới tính, các yếu tố gen, ), phụ thuộc vàoyếu tố môi trường, yếu tố chăm sóc dinh dưỡng đặc biệt trong giai đoạn bàothai, sơ sinh và đầu đời từ (1-5 tuổi) và giai đoạn vị thành niên (10-19 tuổi);phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, hoạt động thể lực (sự rèn luyện sức khỏe,thể dục thể thao, lao động, vui chơi giải trí ); phụ thuộc vào chất lượng đờisống gia đình và xã hội

b Nâng cao yếu tố trình độ học vấn và chuyên môn

Nâng cao trí tuệ là nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật,

cơ cấu ngành nghề, phát triển tài năng, phát huy năng lực sáng tạo Trình độhọc vấn của dân cư được nâng cao sẽ là chìa khóa cho việc phát triển trí tuệcủa họ Học vấn được nâng lên người dấn sẽ có được cái nhìn và thay đổihành vi ứng xử với thế giới và quan trọng nhất là giúp họ cải thiện được việclàm và thu nhập Nhưng các hoạt động này còn phụ thuộc vào bản thân ngườidân tức là phụ thuộc vào nhận thức, thói quen, văn hóa,

Trang 16

Nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp là điều kiện để người dân

có cơ hội và tận dụng cơ hội tham gia vào các khóa đào tạo nghề để có đượcnghề nghiệp chuyên môn nào đó đem lại thu nhập cho họ

c Nâng cao yếu tố tinh thần

Nâng cao yếu tố tinh thần phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản: Giáo dục,đạo đức, thẩm mỹ, văn hóa, chính trị, truyền thống gia đình, dân tộc, chấtlượng đời sống văn hóa, thông tin và giải trí, điều kiện môi trường xã hội pháttriển, phong tục, tập quán và các phong trào xã hội và sinh hoạt tôn giáo

Nâng cao yếu tố tinh thần của con người là nhằm nâng cao ý thức vàtính năng động xã hội của con người thể hiện qua sự gia tăng mức độ tiếp cận,hưởng thụ và tham gia các dịch vụ xã hội, văn hóa, thông tin, vui chơi, giảitrí của người dân

d Nâng cao đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

Dịch vụ là một hình thức lao động để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống

và sản xuất, là sản phẩm của sức sản xuất và trình độ khoa học kỹ thuật pháttriển đến một giai đoạn nhất định

Dịch vụ xã hội là một loại dịch vụ có tổ chức của nhà nước nhằm cungcấp những trợ giúp hay tư vấn trong những vấn đề như sức khỏe, nhà ở, chămsóc trẻ em, luật pháp,

(Hoàng Lê Đông Thảo, 2012)

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dân số Tuy nhiên, ở trongnghiên cứu này chúng ta sẽ nghiên cứu chủ yếu các nhóm yếu tố sau:

2.1.3.1 Yếu tố sinh học và di truyền

Như trên đã phân tích, yếu tố về di truyền và sinh học dưới giác độchủng tộc không tác động đến chất lượng dân số Tuy nhiên, nhiều nghiêncứu đã cho thấy, những đứa trẻ sinh ra từ các bà mẹ chưa thành niên (dưới 18tuổi) và từ những bà mẹ quá lớn tuổi (trên 40 tuổi) có nguy cơ cao về chậm

Trang 17

phát triển thể chất Vì vậy, tuyên truyền rộng rãi cho phụ nữ, không sinh contrước tuổi 22 và sau tuổi 35 cũng là một giải pháp góp phần nâng cao chấtlượng dân số.

2.1.3.2 Chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống có nội dung rất phong phú liên quan đến mọi mặtcủa cuộc sống con người Nó thể hiện thông qua mức độ thỏa mãn nhu cầu vềvật chất, cũng như tinh thần của cá nhân, cộng động và toàn thể xã hội Chấtlượng cuộc sống là một khái niệm động, không ngừng thay đổi từ thấp đếncao phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, chế độ chính trị, quan niệm

về văn hóa và truyền thống của mỗi dân tộc ở từng giai đoạn phát triển của xãhội Vì vậy, cần phải sử dụng nhiều chỉ tiêu đánh giá mới phản ánh hết bảnchất của chất lượng cuộc sống Theo William Bell, chất lượng cuộc sống cóthể được đánh giá thông qua 12 chỉ báo: (1)An Toàn; (2) Sung túc về kinh tế;(3) Công bằng về pháp luật; (4) An ninh quốc gia; (5) Bảo hiểm lúc tuổi già,

ốm đau; (6) Hạnh phúc về tinh thần; (7) Sự tham gia vào đời sống xã hội; (8)Bình đẳng về giáo dục, nhà ở và nghỉ ngơi; (9) Chất lượng đời sống văn hóa;(10) Quyền tự do công dân; (11) Chất lượng môi trường kỹ thuật (giao thông,nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, thiết bị ytế…; (12)Chất lượng môitrường sống

Như vậy, có thể hiểu là chất lượng cuộc sống phản ánh sự thỏa mãnnhu cầu, trước hết là nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người Mức độ đáp ứng

sự thỏa mãn càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao UNDP đã từngthống kê tới nhu cầu cơ bản của con người khi đánh giá chất lượng cuộc sống.Chất lượng cuộc sống càng cao sẽ giúp cho con người phát triển cả về thểchất, trí tuệ và tinh thần Điều này làm cho chất lượng dân số được cải thiện.Ngược lại, nếu mức độ thỏa mãn nhu cầu, đặc biệt là các nhu cầu cơ bản củacuộc sống con người không được đáp ứng đầy đủ, là một nhân tố làm cho con

Trang 18

người không phát triển về thể lực; trí lực và tinh thần Đây là nguyên nhânlàm cho chất lượng dân số giảm sút.

2.1.3.3 Kinh tế

Có thể phân chia ảnh hưởng của kinh tế đến chất lượng dân số thànhhai cấp độ: cấp độ kinh tế vĩ mô (sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia) và ởcấp độ vi mô (kinh tế của hộ gia đình) Nếu xét ở cấp độ kinh tế vĩ mô, vớimột nền kinh tế phát triển, Chính phủ sẽ có điều kiện đầu tư cho phát triểngiáo dục, nâng cao trình độ dân trí cho người dân, từ đó cải thiện trí lực củadân số Thứ hai, với một nền kinh tế phát triển, Chính phủ sẽ có điều kiện đểđảm bảo an ninh xã hội, thực hiện xóa đói giảm nghèo, nâng cao sức khỏe vềthể lực cho người dân Mặt khác, nếu kinh tế phát triển, Chính phủ sẽ có điềukiện để đầu tư phát triển hạ tầ ng cơ sở y tế, tăng cường đào đạo cán bộ y tế

và mua sắm trang thiết bị y tế hiện đại phục vụ cho công cuộc chăm sóc sứckhỏe của người dân từ đó nâng cao chất lượng dân số

Ở cấp độ kinh tế gia đình (lao động, việc làm), những gia đình giàu cóthường có tiền đầu tư về giáo dục cho con cái để nâng cao trình độ học vấn.Đối với những gia đình này vấn đề bình đẳng nam nữ về giáo dục (giữa contrai và con gái cũng được chú ý) Đồng thời những gia đình này thường cóđiều kiện sống tốt (nhà ở và môi trường gần cận gia đình: công trình vệ sinh,nước sạch) Đây cũng là điều kiện để giúp con người ít mắc bệnh hơn đặc biệt

là các bệnh thường gặp ở nước nghèo như: Giun sán, bệnh phổi, thấp khớp,lao Do điều kiện kinh tế gia đình khá giả họ có điều kiện tận hưởng dịch vụ

y tế hiện đại nhằm bảo vệ sức khỏe và đẩy lùi cái chết Tuy nhiên, khi nói đếnđiều kiện kinh tế ở cấp độ gia đình có ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng dân

số là phải nói đến điều kiện kinh tế của đại bộ phận dân cư chứ không phải làđiều kiện kinh tế của một vài hộ gia đình đơn lẻ Vì vậy, công cuộc cải cáchkinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống chung của toàn xã hội chính

là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới cải thiện chất lượng dân số

Trang 19

2.1.3.4 Y tế và chăm sóc sức khỏe

Sức khoẻ là vốn quý của con người Giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ và chămsóc sức khoẻ là nhiệm vụ của mỗi người và toàn xã hội Sức khoẻ của mỗingười lại phụ thuộc vào rấ t nhiều yếu tố: sinh học, điều kiện sống, trình độphát triển kinh tế - xã hội của từng nước, môi trường và chính sách chăm sócsức khoẻ quốc gia

Ngày nay, trình độ phát triển y học và phương tiện phòng trị bệnh ngàycàng cao, nhưng lại không đồng đều giữa các quốc gia Điều đó làm cho tỷ lệngười có sức khoẻ tốt ở các nước nghèo thấp hơn các nước giàu Tại các nướcnghèo tỷ lệ người mắc các bệnh như: lao, sốt rét, suy nhược cơ thể ở ngườilớn, suy dinh dưỡng trẻ em, bệnh giun sán rất cao Do sự tiến bộ về y học trênthế giới, loài người đã không còn khiếp sợ các loại bệnh trên Tuy nhiên, thếgiới lại xuất hiện một số bệnh khác, các bệnh này lại lan truyền rất nhanh ở cảcác nước đang phát triển và phát triển như: HIV/AIDS; bệnh căng thẳng thầnkinh (stress); H1N1…Các chỉ báo đánh giá sự chăm sóc bảo vệ sức khoẻ củanhân dân, nâng cao chất lượng dân số là:

- Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em: Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủngcác loại vác-xin; số nhà hộ sinh trên tổng số dân; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suydinh dưỡng…

- Chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng: số cơ sở y tế; số giườngbệnh; số nhân viên y tế (y sỹ, bác sỹ, y tá…) trên 10.000 dân; tỷ lệ các loạibệnh đặc trưng theo vùng địa lý; tỷ lệ người nhiễm HIV…

- Sàng lọc trước sinh và sơ sinh: Tỷ lệ các cơ sở y tế có cung cấp dịch

vụ sàng lọc trước sinh và sơ sinh; Tỷ lệ phụ nữ mang thai được xét nghiệmsàng lọc khi mang thai; Tỷ lệ trẻ sơ sinh được xét nghiệm xác định dị tật; Tỷ

lệ trẻ em được điều trị sớm các dị tật bẩm sinh…

Trang 20

2.1.3.5 Giáo dục

Những chỉ báo phản ảnh tình trạng của giáo dục là: tỷ lệ người đi học;

số luợng học sinh ở các cấp (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học, cao đẳng,đại học), tỷ lệ đi học đúng tuổi ở các cấp học…

Giáo dục ảnh hưởng tới chất lượng dân số thông qua cơ chế sau:

Giáo dục ảnh hưởng tới chất lượng dân số về mặt trí tuệ Nhờ phát triểngiáo dục, người dân được nâng cao hiểu biết và kiến thức giúp cho họ có đủtrình độ tiếp thu khoa học – kỹ thuật mới, tiên tiến Trình độ học vấn cao giúpcon người có tính năng động và sáng tạo, lao động tự giác, có kỷ luật và cónăng suất cao

Giáo dục để nâng cao chất lượng dân số là quốc sách của mỗi quốc gia.Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia đó mà Chính phủ quyếtđịnh mức đầu tư cho giáo dục thích hợp

Giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến mức sinh Khi trình độ học vấn càngcao thì mức sinh càng thấp Tuy nhiên, ảnh hưởng của giáo dục đến mức sinhchỉ dừng lại ở một giới hạn nhất định Nếu trình độ học vấn vượt khỏi giớihạn trên thì tác động của giáo dục đến mức sinh không còn nữa Cần chú ýrằng, chỉ có trình độ học vấn trung bình của toàn bộ phụ nữ cả một vùng , mộttỉnh, một nước… mới có thể tác động làm giảm mức sinh của vùng, chứkhông phải là trình độ học vấn của đơn lẻ một phụ nữ Mức sinh giảm, số contrung bình của mỗi phụ nữ (mỗi gia đình) ít đi, người dân có điều kiện hơntrong việc chăm sóc dinh dưỡng, sức khoẻ và giáo dục cho các con, khôngphân biệt con trai hay con gái Qua đó, chất lượng dân số được nâng lên

Giáo dục có tác động trực tiếp đến việc đẩy lùi cái chết Những người

có trình độ học vấn cao thường có kiến thức về cơ chế lây truyền bệnh tật đểphòng và chữa bệnh kịp thời Mặt khác, khi có trình độ học vấn cao, họ cóđiều kiện để làm những công việc đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao và do đóthu nhập cao Khi thu nhập cao, người ta có điều kiện tận hưởng những dịch

Trang 21

vụ chăm sóc sức khoẻ tốt hơn và vì vậy sức khoẻ của người dân được đảmbảo Đó cũng là một nhân tố để nâng cao chất lượng dân số

2.1.3.6 Môi trường

Thiên nhiên đã sinh ra con người, cung cấp tài nguyên và tạo nên môitrường sống cho con người Mối quan hệ giữa con người và môi trường là mốiquan hệ luôn gắn bó mật thiết với nhau Ở những vùng khí hậu ôn hoà, tàinguyên phong phú, con người có điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống.Ngược lại , ở những nơi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, con người khó cóđiều kiện để cải thiện cuộc sống, nâng cao chất lượng dân số

Tuy nhiên, cần thấy rằng các thành tố của môi trường luôn không ổnđịnh hoặc không hoàn toàn có lợi để con người có thể duy trì tốc độ tăngtrưởng của phát triển như một hằng số Một thành tố của môi trường trongnhững điều kiện nhất định có thể trở thành những nhân tố cản trở sự phát triểncủa con người Ví dụ , thiên tai có thể làm người chết, mùa màng bị phá hoại ,làm khó khăn rất nhiều cho việc nâng cao chất lượng sống của người dân Mặtkhác, trong mối quan hệ với môi trường, do mức sinh cao, dân số tăng nhanh,

để nâng cao chất lượng cuộc sống con người đã không ngừng phát triển sảnxuất và tăng cường khai thác tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, con người đã tànphá môi trường, làm thay đ ổi hệ sinh thái, thay đổi môi trường sống của cácsinh vật và của chính bản thân con người với xu hướng môi trường ngày càngxấu đi, gây tác hại đến sức khỏe của con người Hiện nay, do tình trạng đất,nước, không khí bị ô nhiễm mà lương thực, thực phẩm mà con người sử dụngcũng bị ô nhiễm, bị nhiễm độc, chủ yếu do phân bón hóa học, thuốc diệt cỏ,thuôc trừ sâu

Giữa gia tăng dân số và ô nhiễm môi trường có quan hệ chặt chẽ vớinhau Sự gia tăng dân số quá mức dẫn tới quá tải về môi trường gây ra nhữngphản ứng không có lợi cho bản thân con người và qua đó làm cản trở quátrình nâng cao chất lượngdân số

Trang 22

2.1.3.7 Các yếu tố khác

Các yếu tố khác như chính sách của nhà nước; văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, vui chơi giải trí cũng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống củangười dân và qua đó cũng góp phần nâng cao chất lượng dân số

(PGS.TS Nguyễn Thị Thiềng, 2011)

2.1.4 Các chủ trương chính sách của đảng và nhà nước có liên quan

Pháp lệnh Dân số 06/2003/PL-UBTVQH11 ngày 09/01/2003 của Ủyban thường vụ Quốc hội quy định: “Nâng cao chất lượng dân số là chính sách

cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước Nhà nước thực hiệnchính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằmnâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến của thếgiới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, xác định

“Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinhthần của toàn bộ dân số” Các thành phần của chất lượng dân số bao hàm: Thể

chất gồm nhiều yếu tố khác nhau trong đó có các số đo về chiều cao, cân

nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo, dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ,các yếu tố giống nòi, gen di truyền (như tật nguyền bẩm sinh, thiểu năng trítuệ, nhiễm chất độc hóa học, chất độc màu da cam…) của người dân; Trí

tuệ gồm các yếu tố trình độ học vấn, thẩm mỹ, trình độ chuyên môn kỹ thuật,

cơ cấu ngành nghề… thể hiện qua tỷ lệ biết chữ, số năm bình quân đi học/đầungười, tỷ lệ người có bằng cấp, được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật ; Tinh

thần gồm các yếu tố về ý thức và tính năng động xã hội thể hiện qua mức độ

tiếp cận và tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thông tin, vui chơi, giải trí của người dân

Chiến lược Dân số - Sức khỏe sinh sản (DS-SKSS) Việt Nam giai đoạn

2011 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qua Quyết định số2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 Chiến lược đã đề ra 11 mục tiêu nhằm thựchiện thành công việc nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe

Trang 23

sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấudân số và phân bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước.

Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhândân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030 với mục tiêu chung là đảm bảo mọingười dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, mở rộng tiếpcận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Người dân được sống trongcộng đồng an toàn phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắcbệnh tật, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số

2002 giảm xuống chỉ còn 1,8 con Hàng năm, tổng suất sinh giảm bình quân0,17 con Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên trong toàn đất nước chỉ có 19,32%(năm 2000) Mức độ sử dụng các BPTT năm 2001 là 86%, trong đó 94% sửdụng BPTT hiện đại Đây là mức phấn đấu ước mơ của nhiều quốc gia đangphát triển Trong khi tìm tòi các biện pháp để giải quyết vấn đề dân số mộtcách toàn diện và củng cố phát triển xã hội bền vững, Trung Quốc đã rút ranhiều kinh nghiệm về ba khía cạnh Khía cạnh đầu tiên là xây dựng một xãhội cân bằng về dân số, tiết kiệm tài nguyên và thân thiện với môi trường vớiphương châm phối hợp là chủ yếu Thứ hai là thực hiện phương pháp lấyngười dân làm trung tâm, bảo vệ quyền công dân bằng mọi cách và chú trọngđến phát triển gia đình Thứ ba là đặt sự hợp tác lên hàng đầu, cải tổ nguồnthông tin và liên tục đẩy mạnh sự đổi mới trong các chương trình dân số và kếhoạch hóa gia đình

Trang 24

Kế hoạch 5 năm (2011-2015) lần thứ mười hai là một thời kỳ quantrọng để kết nối những giai đoạn trước và sau của công cuộc phát triển dân số

ở Trung Quốc Những thử thách cho việc phát triển dân số ở Trung Quốc lúc

đó bao gồm sự gia tăng không ngừng của dân số toàn quốc, trình độ giáo dục

và y tế thấp, mâu thuẫn về cấu trúc ngày càng rõ rệt, số dân nhập cư gia tăngliên tục và chức năng truyền thống của gia đình bị giảm đi Nắm được nhữngvấn đề này, Chính phủ Trung Quốc coi công tác dân số và phát triển cân bằngdân số là nhiệm vụ chiến lược dài hạn và lồng ghép vào kế hoạch tổng thể củaquốc gia trong kế hoạch 5 năm lần thứ mười hai Chính phủ cũng đã thay đổiđịnh hướng phát triển của Trung Quốc từ chú trọng nâng cao GDP sang quan

tâm tới sự phát triển toàn diện của con người (TS Nguyễn Quốc Anh, Tạp chí DS&PT);

b Malaysia với vấn đề: “Đẩy mạnh phát triển gia đình và sức khỏe

sinh sản trong bối cảnh toàn cầu hóa và đô thị hóa”.

Phó chủ tịch Ủy ban Dân số và Phát triển gia đình quốc gia Malaysia,

đã phát biểu với chủ đề “Đẩy mạnh phát triển gia đình và sức khỏe sinh sảntrong bối cảnh toàn cầu hóa và đô thị hóa: Kinh nghiệm của Malaysia,” giớithiệu tình trạng, những vấn đề và khó khăn các gia đình tại Malaysia đã phảiđối mặt Trong vòng mười năm trở lại đây, các hộ gia đình ở Malaysia đã trảiqua nhiều biến động về cấu trúc gia đình (gia đình 3 thế hệ chuyển thành giađình 2 thế hệ gồm bố mẹ và con, v.v ) và đời sống gia đình chịu sự tác độngcủa quá trình toàn cầu hóa, công nghiệp hóa và phát triển kinh tế -xã hội Cấutrúc gia đình truyền thống dần bị lung lay do sự phát triển về mặt giáo dục,các hoạt động kinh tế, sự phổ cập văn hóa, vấn đề nhập cư, đô thị hóa và mứcsống Các thay đổi khác gồm có tỷ lệ sinh giảm, số thành viên trong một giađình giảm, số gia đình hai thế hệ tăng lên, tỷ lệ ly hôn và nuôi con một mìnhtăng, giá trị gia đình truyền thống bị hạ thấp, dân số già đi và lực lượng laođộng nữ tăng lên Những xu hướng này sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng của

Trang 25

gia đình trong việc hoàn thành các chức năng cơ bản gồm sản xuất, sinh sản

và hòa nhập xã hội cũng như nhu cầu của các thành viên trong gia đình về sứckhỏe, dinh dưỡng, nhà ở, chăm sóc thể chất, tinh thần và phát triển cá nhân,gây khó khăn cho sự ổn định xã hội và văn hóa của các gia đình

Nhận biết được tầm quan trọng của vấn đề, Malaysia đã đề ra nhữngchính sách về gia đình một cách thích hợp Hợp tác với các tổ chức phi chínhphủ và khu vực kinh tế tư nhân, các ban ngành chức năng của Chính phủ đãthực hiện nhiều hoạt động tuyên truyền nhằm đảm bảo sự ổn định về xã hội

và văn hóa cho các gia đình, củng cố lợi thế vốn có của gia đình và trợ giúp

về mặt nhu cầu cho các gia đình Chính phủ hi vọng sẽ có thể xây dựng một

xã hội thân thiện, cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển

quốc gia (TS Nguyễn Quốc Anh, Tạp chí DS&PT)

c Bài học rút ra từ kinh nghiệm nâng cao chất lượng dân số của các nước

- Chính sách có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân

số của mỗi nước, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của từng quốc gia mà cầnnghiên cứu để đưa ra hệ thống chính sách hợp lý

- Sự phối hợp giữa các bên trong quá trình tìm kiếm và thực hiện cácbiện pháp nâng cao chất lượng dân số đóng vai trò quyết định đến sự thànhcông của các hoạt động và để có được sự tham gia phối hợp của tất cả cácthành phần liên quan thì bên cạnhviệc tăng cường năng lực và nhận thức của

cả đội ngũ cán bộ chính quyền và người dân về sự cần thiết phải nâng caochất lượng dân số cần có sự liên tục đẩy mạnh sự đổi mới trong các chươngtrình về nâng cao chất lượng dân số

2.2.2 Bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng dân số tại Việt Nam

a Thái Bình

Những năm gần đây, Thái Bình luôn coi trọng thực hiện công tác dân

số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGÐ) Ðặc biệt, nhiều mô hình nâng caochất lượng dân số được triển khai rộng khắp ở các địa phương mang lại hiệu

Trang 26

quả thiết thực, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống chongười dân Ngoài tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tinđại chúng, qua băng rôn, khẩu hiệu, kẻ vẽ biển tường, Chi cục DS-KHHGÐ

và Trung tâm DS-KHHGÐ các huyện, thành phố đã tổ chức truyền thông trựctiếp tại 215 xã, đưa 3 đợt xe tuyên truyền lưu động tại 8 huyện, thành phố,

mở hội nghị truyền thông trực tiếp tại các xã khó khăn về chăm sóc sức khỏesinh sản, KHHGÐ, bình đẳng giới

Bên cạnh việc tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ cho cộng tác viên dân

số và các thành phần chỉ đạo công tác dân số ở cơ sở, tỉnh cũng đã tiến hànhtập huấn nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng quản lý cho 245 cán bộ dân số xã,phường, thị trận, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng quản lý dân số chocán bộ cơ sở Ðội ngũ cán bộ làm công tác dân số đã được kiện toàn từ tỉnh đếnhuyện, xuống các xã, phường, thôn, tổ dân phố Ðội ngũ cán bộ dân số các sởluôn tận tụy, nhiệt tình, không quản ngại khó khăn đến trực tiếp các gia đình đểtuyên truyền chủ trương của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về côngtác DS-KHHGÐ, vận động các cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thaihiện đại, hướng dẫn cách làm mẹ an toàn, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, thựchiện mô hình gia đình ít con, nuôi con khỏe - dạy con ngoan…

Cùng với đẩy mạnh tuyên truyền, từ năm 2013 Chi cục DS-KHHGÐ tỉnh

đã triển khai thực hiện nhiều mô hình nâng cao chất lượng dân số như mô hìnhsàng lọc trước sinh, mô hình giảm thiếu mất cân bằng giới tính, mô hình tư vấnchăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi dựa vào cộng đồng, truyền thông trựctiếp tư vấn dinh dưỡng, sức khỏe giúp người cao tuổi phòng, tránh các bệnhthường gặp, tổ chức hội nghị biểu dương ông bà cha mẹ gương mẫu - con cháuthảo hiền, các mô hình đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ emKHHGÐ tại 32 xã ven biển khó khăn thuộc 2 huyện Thái Thụy, Tiền Hải duy trìhoạt động hiệu quả Mô hình phòng chống viêm nhiễm đường sinh sản, phòngngừa mang thai ngoài ý muốn, phá thai an toàn đã duy trì hoạt động 29 câu lạc

Trang 27

bộ vị thành niên, tổ chức khám và tư vấn về sức khỏe sinh sản cho 1.230 em vịthành niên và thanh niên ở 5 xã Mô hình nâng cao chất lượng dân số khi sinhđang hoạt động tại 13 xã thông qua các hoạt động truyền thông, tư vấn đã giúpcho nhiều phụ nữ nắm được các kiến thức chăm sóc bản thân thời kỳ thai nghén

và tham gia thực hiện tốt quy trình sàng lọc trước sinh

Ðặc biệt, năm 2013 Chi cục DS-KHHGÐ tỉnh đã triển khai đợt hoạtđộng mạnh và chiến dịch tăng cường tuyên truyền lồng ghép cung cấp dịch vụsức khỏe sinh sản KHHGÐ tới 100% xã, phường, thị trấn trong tỉnh, trong đótập trung ưu tiên cho 112 xã khó khăn Kết quả, trong 2 đợt của chiến dịch đãthực hiện triệt sản 128 ca (đạt 128%), đặt dụng cụ tử cung 11.162 ca (đạt107%), tiêm thuốc tránh thai cho 1.005 ca (đạt 139%), cấy thuốc tránh thai cho86/90 ca (đạt 95%), khám phụ khoa cho 67.208 lượt người, điều trị phụ khoacho 23.857 lượt người, chuyển tuyến 357 ca viêm nhiễm nặng, u xơ tử cung

Nhờ những nỗ lực của đội ngũ làm công tác dân số, sự phối hợp tíchcực của các ban, ngành, đoàn thể, các địa phương nên nhận thức của ngườidân về công tác dân số được nâng lên rõ rệt, hầu hết các gia đình dừng lại ở 2con, nhiều gia đình đã chú trọng xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến

bộ, hạnh phúc” Hầu hết các chỉ tiêu về dân số của Thái Bình trong năm 2013đều đạt kế hoạch đề ra Số trẻ trong năm sinh ra là 27.699 cháu, giảm 4.699trẻ so với năm 2012, tỷ lệ sinh là 14,1%o; tỷ số giới tính khi sinh là 111 nam/

100 nữ; số sinh con thứ 3 trở lên là 3.624 cháu, giảm 726 trẻ so với năm 2012;

tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 13,04% Số bà mẹ mang thai được sàng lọctrước sinh là 20.000 ca/19.800 ca (đạt 110% kế hoạch), số người được tư vấntiền hôn nhân là 8.000 người Xã Ðông Phong (Ðông Hưng) là xã duy nhấtcủa tỉnh không có người sinh con thứ 3; 560 thôn, tổ dân phố không có ngườisinh con thứ 3 trở lên, trong đó có 258 thôn 3 năm liền không có người sinhcon thứ 3 trở lên

(Nguyễn Hình, 2014)

Trang 28

b Quảng Bình với hiệu quả từ các mô hình nâng cao chất lượng dân số

Trong những năm qua việc triển khai thực hiện các mô hình nâng cao

chất lượng dân số trên địa bàn tỉnh đã có những đóng góp tích cực vào việcthay đổi nhận thức, hành vi của người dân về nhiều vấn đề vốn dĩ trước đâyđược xem là khá “nhạy cảm”, như: sàng lọc trước sinh, sơ sinh, tư vấn vàkhám sức khỏe tiền hôn nhân, tảo hôn, kết hôn cận huyết thống… Hướng tớimục tiêu phát triển chất lượng dân số bền vững, vì tương lai của con emchúng ta, đội ngũ làm công tác dân số-kế hoạch hóa gia đình tỉnh đã có nhiềubước đột phá trong quá trình thực hiện các mô hình

Với tiền thân là mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ sức khỏe sinhsản/kế hoạch hóa gia đình cho vị thành niên/thanh niên, từ năm 2011, mô hình

“Tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân” chính thức được triển khai trên địabàn tỉnh ta tại 35 điểm xã, phường, thị trấn, trường học Mô hình chú trọngtập huấn sức khỏe sinh sản cho vị thành niên/thanh niên, sinh hoạt các câu lạc

bộ, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tổ chức hoạt động truyền thônglồng ghép Đồng thời, mô hình thường xuyên được đa dạng hóa hình thứccung cấp thông tin đến đối tượng

Năm 2013, 35 điểm xã, phường, thị trấn, trường học được duy trì vớimỗi điểm có ít nhất 3 giáo dục viên, đóng vai trò là tuyên truyền viên chủ chốt

70 lớp tập huấn cung cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóagia đình cho 2.100 em vị thành niên/thanh niên đã được tổ chức Các câu lạc bộđược sinh hoạt đều đặn định kỳ 2 tháng/lần với 140 buổi, thu hút trên 2.500lượt vị thành viên/thanh niên tham gia Song song, nhiều hoạt động khác cũngđược triển khai thường xuyên, như: cấp phát 6.000 tài liệu truyền thông về chủ

đề này đến các đối tượng, phối hợp với bệnh viện đa khoa các huyện, thànhphố tổ chức khám, kiểm tra sức khỏe, siêu âm, làm xét nghiệp viêm gan B,HIV cho 182 vị thành niên/thanh niên tại các điểm mô hình

Trang 29

Một mô hình nâng cao chất lượng dân số khác cũng rất được quan tâm,

đó là mô hình “Sàng lọc trước sinh và sơ sinh” Hiện nay, mô hình đang đượcduy trì tại 159 xã của 7 huyện, thành phố Trong 11 tháng đầu năm 2013, đã

có 2 lớp tập huấn tuyên truyền tư vấn quản lý đối tượng cho 110 cộng tácviên, chuyên trách dân số và cán bộ Trung tâm Dân số-Kế hoạch hóa gia đìnhcác huyện, thành phố; 2 lớp kỹ thuật lấy máu cho 100 cán bộ y tế xã và khoasản các bệnh viện đa khoa huyện, thành phố Công tác truyền thông được xem

là điểm nhấn của mô hình với 8 chương trình được phát trên các phương tiệntruyền thông đại chúng, 4.000 tờ rơi, 350 áp phích, 7 hội nghị chuyên đề, tưvấn cho 24 nhóm chị em trong độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ mang thai 3 tháng đầu

và 3 tháng giữa 337 mẫu máu gót chân trẻ sơ sinh được lấy và gửi đi xétnghiệm tại Trung tâm sàng lọc trẻ sơ sinh miền Trung

Kết quả, 18 trường hợp nghi ngờ thiểu năng tuyến giáp bẩm sinh, 6trường hợp chuẩn đoán xác định mắc bệnh, 2 trường hợp thiếu men G6PD Tuy nhiên, do thiếu thốn về trang thiết bị để thực hiện kỹ thuật sàng lọc, địnhmức chi cho việc thực hiện các kỹ thuật còn thấp, nên các đơn vị triển khai

mô hình gặp rất nhiều khó khăn

Người cao tuổi cũng là một trong những đối tượng được thụ hưởnghiệu quả của các mô hình nâng cao chất lượng dân số ở tỉnh ta Năm 2013,

mô hình “Tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng” được Chicục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình triển khai thí điểm tại huyện Tuyên Hóa vàTP.Đồng Hới, qua đó, thành lập duy trì hoạt động của 5 câu lạc bộ “Ngườicao tuổi giúp người cao tuổi” với 720 cụ tham gia Mô hình chú trọng côngtác khám, tư vấn chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, xây dựng và duy trìhoạt động mạng lưới tình nguyện viên Đây được xem là một nỗ lực đáng ghinhận của ngành Y tế, góp phần giúp người cao tuổi nâng cao chất lượng cuộcsống và phát huy vai trò của mình

Trang 30

Các mô hình nâng cao chất lượng dân số tiếp tục được duy trì và triểnkhai hiệu quả ở tỉnh ta cho thấy sự cố gắng của ngành dân số-kế hoạch hóađình nói riêng và chính quyền các cấp, ban, ngành, đoàn thể trong việc hướngtới những mục tiêu bền vững trong tương lai Trong thời gian tới, các hìnhthức triển khai mô hình sẽ được đổi mới phong phú, đa dạng, thu hút sự quantâm của người dân, đồng thời, chất lượng của từng mô hình sẽ thường xuyênđược chú trọng nâng cao hơn nữa Mặt khác, việc thử nghiệm và nhân rộng

mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vịthành niên/thanh niên, mô hình “Sàng lọc trước sinh và sơ sinh” sẽ là mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành

c Xã bãi ngang - huyện Quảng Xương

Là xã bãi ngang ven biển nên các hộ gia đình ngư nghiệp ở Quảng Tháicũng không thoát khỏi quan niệm trong nhà phải có con trai, vừa để nối dõidòng họ, vừa là lao động chính nuôi sống gia đình Vì thế, những năm trướcdân số trên địa bàn xã gia tăng đáng kể, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có thờiđiểm chiếm 20,8%, đã kéo theo những hệ lụy khiến cuộc sống của người dângặp rất nhiều khó khăn Thêm vào đó, lực lượng lao động đi làm ăn xa nhiều

đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóagia đình (DS-KHHGĐ), điều kiện tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ,trẻ em và KHHGĐ của người dân

Từ năm 2009, Đề án 52 được triển khai trên địa bàn xã đã huy động sựvào cuộc tích cực của cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể trong việc đẩymạnh công tác truyền thông, thành lập câu lạc bộ không sinh con thứ 3, câulạc bộ gia đình hạnh phúc bền vững Thông qua đội ngũ cộng tác viên ở cácthôn, các phương tiện tránh thai đã đến từng cặp vợ chồng có nhu cầu; phụ nữđược tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) - KHHGĐ đãgóp phần nâng cao nhận thức cho chị em về ích lợi việc sinh ít con để nuôidạy cho tốt, nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình Ông Trần Công Trường,

Trang 31

Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Thái, khẳng định: Qua thời gian triển khaithực hiện Đề án 52, công tác dân số ở địa phương đã có chuyển biến tích cực.Bằng những hoạt động nhiệt tình của các cộng tác viên dân số trong công táctuyên truyền, vận động, đã có tác dụng tích cực làm chuyển biến nhận thứccủa hầu hết các cặp vợ chồng trẻ về sinh đẻ kế hoạch Nhờ đó, những nămgần đây tỷ lệ sinh con thứ 3 và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã đã giảm, cáccặp vợ chồng có điều kiện làm ăn và chăm sóc con tốt hơn.

Chị Hoa ở thôn 10 cho biết: Từ khi xã được hưởng lợi từ Đề án 52,nhiều chị em đã hiểu được những lợi ích nên thu xếp công việc tham gia đầy

đủ, phần lớn phụ nữ không còn e ngại, giấu bệnh, mạnh dạn đưa ra nhữngthắc mắc, câu hỏi cho các chuyên gia tư vấn giải tỏa tâm lý, điều mà nhữngnăm trước đây không dễ thấy ở phụ nữ vùng biển Khi tham gia Đề án 52,phần lớn chị em trong thôn đều nhắc nhở nhau nên thường xuyên đến trạm y

tế để kiểm tra sức khỏe định kỳ, ai cũng muốn sinh ít con để có điều kiệnchăm sóc gia đình, con cái đầy đủ hơn

Có thể nói, thành công khi thực hiện Đề án 52 trên địa bàn huyệnQuảng Xương là đẩy mạnh công tác truyền thông Để có thành công đó trungtâm DS-KHHGĐ huyện, đội ngũ cán bộ dân số chuyên trách và cộng tác viêndân số các xã đã phân công nhiều chị em có kinh nghiệm, có tâm huyết trongcông tác vận động phụ nữ, kết hợp với các cộng tác viên dân số đến tận hộdân để tư vấn việc thực hiện các biện pháp tránh thai an toàn Bên cạnh đó,đội ngũ cán bộ dân số, cộng tác viên dân số còn lồng ghép việc trao đổi tâm

tư, tình cảm, đời sống gia đình, kinh nghiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan,kinh nghiệm chăm sóc SKSS, giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, góp phần vàoviệc thực hiện thắng lợi chính sách DS- KHHGĐ trên địa bàn Qua 5 nămthực hiện đề án, mức sinh tại các xã ven biển được quản lý, kiểm soát chặtchẽ so với thời điểm chưa triển khai đề án Chất lượng cung cấp dịch vụ chămsóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, KHHGĐ đến người dân được nâng cao Toàn

Trang 32

huyện có hơn 45.000 lượt người được tham gia các buổi tư vấn và khám,kiểm tra sức khỏe; khám thai cho gần 6.500 lượt bà mẹ mang thai; khám phụkhoa cho hơn 10.000 người, xét nghiệm viêm gan B cho 750 người Tuynhiên, việc triển khai thực hiện Đề án 52 trên địa bàn huyện Quảng Xươngvẫn còn nhiều khó khăn, đó là: Kinh phí giải ngân chậm; cơ sở vật chất, trangthiết bị và mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ ở cấp xã cònyếu và thiếu; địa bàn dân cư vùng biển rộng, người dân lại thường xuyên đilàm ăn xa nhà rất khó khăn cho việc tuyên truyền; công tác chăm sóc SKSS,sức khỏe bà mẹ, trẻ em và KHHGĐ cũng như vấn đề nâng cao hiểu biết chongười dân vẫn gặp không ít trở ngại vì việc thay đổi nếp nghĩ và phong tụctập quán sinh hoạt của họ không thể một sớm một chiều Do đó, để kiểm soáttốt dân số vùng biển và ven biển, bên cạnh sự hỗ trợ của Đề án 52, cần có sựquan tâm, vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhất là đầu tư thêm nguồn lực,kinh phí để người dân được cung cấp đầy đủ, kịp thời hơn các dịch vụKHHGĐ, góp phần nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn.

(Tô Hoa - Báo Thanh Hóa)

d Bài học kinh nghiệm của trong nước

- Muốn nâng cao chất lượng dân số vai trò của các tổ chức giữ nhiệm

vụ chuyện trách và cộng tác viên dân số tại cơ sở là rất quan trọng bởi đây làcầu nối giúp đưa các chính sách, các chương trình, hoạt động của Đảng vànhà nước đến người dân một cách nhanh và hiệu quả nhất

- Chất lượng dân số có được nâng cao không ngoài chính sách hỗ trợcủa nhà nước, sự cố gắng của cán bộ chuyên trách trong việc xây dựng vàtriển khai trong các chương trình hoạt động thì việc tuyên truyền về kiến thức,nhận thức cho người dân hiểu và tham gia là rất quan trọng, đây cũng là khókhăn hiện nay của các cán bộ cơ sở cần có giải pháp khắc phục

Ngày đăng: 14/11/2015, 07:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Quang Đại, 2011, “ Chú trọng nâng cao chất lượng dân số”, Báo Dân trí. (http://dantri.com.vn/ban-doc/can-chu-trong-nang-cao-chat-luong-dan-so-496057.htm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chú trọng nâng cao chất lượng dân số
2. Đoàn Minh Lộc, Dương Quốc Trọng, Võ Anh Dũng, 2012, “Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng dân số”, , tạp chí Kinh tế &Phát triển, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng dân số
3. Dự thảo: “Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 - 2020
5. Hoàng Lê Đông Thảo, 2012 “Nâng cao chất lượng dân số tỉnh Bình Định”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Đà Nẵng, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng dân số tỉnh Bình Định
5. “Chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số bất bình đẳng giới (GII) và xếp hạng năm 2012”. Tạp chí Dân số& Phát triển, số 4, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số bất bình đẳng giới (GII) và xếp hạng năm 2012
6. Tô Hoa, 2014, “Nâng cao chất lượng dân số - KHHGĐ các xã bãi ngang ở huyện Quảng Xương”, Báo Thanh Hóa, http://baothanhhoa.vn/vn/xa- hoi/, Ngày 06/08/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng dân số - KHHGĐ các xã bãi ngang ở huyện Quảng Xương
7. TS. Nguyễn Quốc Anh, 2012, “Kinh nghiệm về Dân số và Phát triển gia đình chia sẻ kinh nghiệp hợp tác giữa Trung Quốc và các nước Asean”, tạp chí Dân số& Phát triển, số 6, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm về Dân số và Phát triển gia đình chia sẻ kinh nghiệp hợp tác giữa Trung Quốc và các nước Asean
8. Nguyễn Hình, 2014, “Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao chất lượng dân số”, Báo Thái Bình, http://www.baothaibinh.com.vn/, ngày 13/03/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao chất lượng dân số
11. Báo cáo Tổng kết công tác Dân số-KHHGĐ năm 2010, 2011, 2012, 2013, Trung tâm Dân số-KHHGĐ huyện Gia Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác Dân số-KHHGĐ năm 2010, 2011, 2012, 2013
4. Báo cáo kết quả thực hiện công tác dân số - KHHGĐ huyện Gia Lâm, 2013 Khác
9. PGS.TS Nguyễn Nam Phương, Giáo trình Dân số và Phát triển, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2010 Khác
10. PGS.TS. Nguyễn Thị Thiềng, TS. Lưu Bích Ngọc, 2011, Tài liệu dân số học dùng cho chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ DS - KHH gia đình Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (2011 – 2013) - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Gia Lâm (2011 – 2013) (Trang 37)
Bảng 3.3: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Gia Lâm 3 năm (2011-2013) - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Gia Lâm 3 năm (2011-2013) (Trang 40)
Bảng 4.1 Tăng trưởng dân số huyện Gia Lâm giai đoạn 2011 – 2013 - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.1 Tăng trưởng dân số huyện Gia Lâm giai đoạn 2011 – 2013 (Trang 49)
Bảng 4.4 Cơ cấu dân số huyện Gia Lâm - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.4 Cơ cấu dân số huyện Gia Lâm (Trang 51)
Bảng 4.5 Tổng tỷ suất sinh qua các năm của huyện Gia Lâm - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.5 Tổng tỷ suất sinh qua các năm của huyện Gia Lâm (Trang 51)
Bảng 4.6 Tỷ lệ gia tăng tự nhiên huyện Gia Lâm giai đoạn 2011 - 2013 - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.6 Tỷ lệ gia tăng tự nhiên huyện Gia Lâm giai đoạn 2011 - 2013 (Trang 52)
Bảng 4.9 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân cư huyện Gia Lâm - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.9 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân cư huyện Gia Lâm (Trang 53)
Bảng 4.8 Tỷ lệ biết đọc biết viết của người dân trên địa bàn huyện Gia Lâm - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.8 Tỷ lệ biết đọc biết viết của người dân trên địa bàn huyện Gia Lâm (Trang 53)
Bảng 4.14 Tình hình giáo dục tại huyện Gia Lâm - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.14 Tình hình giáo dục tại huyện Gia Lâm (Trang 55)
Bảng 4.13 Tình hình y tế và chăm sóc sức khỏe huyện Gia Lâm - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.13 Tình hình y tế và chăm sóc sức khỏe huyện Gia Lâm (Trang 55)
Bảng 4.12 Tần suất tham gia của các hộ dân vào các tổ chức xã hội - Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn Huyện Gia Lâm”.
Bảng 4.12 Tần suất tham gia của các hộ dân vào các tổ chức xã hội (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w