Cuối tháng 62018 Tạ Văn Trường, sinh năm 1988, HKTT: thôn Phú Đa, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đến cơ sở kinh doanh Tẩm quất thư giãn Ha Na do Ngô Văn Thành, sinh năm 1984, HKTT: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh làm chủ gặp Thành để xin việc làm, hai bên thoả thuận Thành giao toàn bộ công việc quản lý, điều hành cơ sở kinh doanh cho Trường vào buổi tối hàng ngày có trách nhiệm quản lý quán và nhân viên, khi khách đến tẩm quất thì thu tiền tẩm quất, không được mua bán, sử dụng ma tuý và hoạt động mại dâm. Thành hứa trả lương cho Trường 4.000.000 đồng một tháng. Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 05072018, Thành không có mặt tại quán thì có 3 người gồm: Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1986, Nguyễn Trần Trung sinh năm 1987 và Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1990 đều ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đi xe taxi của Nguyễn Văn Huy sinh năm 1983, HKTT: thôn Việt Vân, xã Việt Thống, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đến quản tẩm quất Ha Na ở khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thọ, Trung, Tuấn đã thỏa thuận với Trường để mua 3 vé tàu nhanh (tức vé mua dâm). Trường bảo Thọ, Trung, Tuấn lên phòng 201, 202, 203 để Trường gọi nhân viên đến bán dâm. Trường gọi Phùng Thị Kim Liên sinh năm 1990 là nhân viên tại quán và bảo Liên vào phòng 203 bán dâm và tiếp tục gọi điện cho người tên là Bắc (Trường không biết Bắc là ai, chỉ biết có số điện thoại 0974061663 – theo Trường khai là số điện thoại do Thành cung cấp) bảo cho hai nhân viên đến quán tẩm quất Ha Na để bán dâm.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
-o0o -BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: Kỹ năng cơ bản của luật sư tham gia giải quyết
các vụ việc hình sự
Giảng viên hướng dẫn :
Nhóm diễn án, vai diễn:
Trang 2Thái Nguyên, ngày tháng năm 2023
MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 2
1 Tư cách đương sự 2
1.1 Bị cáo 2
1.2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 2
2 Nội dung vụ án 2
II VĂN BẢN PHÁP LUẬT ÁP DỤNG 3
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ 4
1 Hỏi bị cáo Tạ Văn Trường 4
2 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 5
2.1 Hỏi người liên quan Ngô Văn Thành 5
2.2 Hỏi người liên quan Phùng Thị Kim Liên 5
2.3 Hỏi người liên quan Lê Thị Tâm 5
IV LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO TẠ VĂN TRƯỜNG 6
V NHẬN XÉT DIỄN ÁN (Nhóm diễn án) 12
Trang 3I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Tư cách đương sự
1.1 Bị cáo
- Tạ Văn Trường, sinh năm 1988
HKTT: thôn Phú Đa, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
1.2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Ngô Văn Thành, sinh năm 1984
HKTT: Khu phố Nguyễn Giáo, P Đồng Nguyên, TX Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Phùng Thị Kim Liên, sinh năn 1990
Trú tại: Khu 1, xã Hương Xạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ
- Lê Thị Tâm, sinh năm 1995
Trú tại: Đội 6, xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
2 Nội dung vụ án
Cuối tháng 6/2018 Tạ Văn Trường, sinh năm 1988, HKTT: thôn Phú Đa,
xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đến cơ sở kinh doanh Tẩm quất thư giãn Ha Na do Ngô Văn Thành, sinh năm 1984, HKTT: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh làm chủ gặp Thành để xin việc làm, hai bên thoả thuận Thành giao toàn bộ công việc quản lý, điều hành cơ
sở kinh doanh cho Trường vào buổi tối hàng ngày có trách nhiệm quản lý quán
và nhân viên, khi khách đến tẩm quất thì thu tiền tẩm quất, không được mua bán, sử dụng ma tuý và hoạt động mại dâm Thành hứa trả lương cho Trường 4.000.000 đồng/ một tháng
Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 05/07/2018, Thành không có mặt tại quán thì
có 3 người gồm: Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1986, Nguyễn Trần Trung sinh năm
1987 và Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1990 đều ở thị trấn Chờ, huyện Yên
Trang 4Phong, tỉnh Bắc Ninh đi xe taxi của Nguyễn Văn Huy sinh năm 1983, HKTT: thôn Việt Vân, xã Việt Thống, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đến quản tẩm quất
Ha Na ở khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Thọ, Trung, Tuấn đã thỏa thuận với Trường để mua 3 vé tàu nhanh (tức vé mua dâm) Trường bảo Thọ, Trung, Tuấn lên phòng 201, 202, 203 để Trường gọi nhân viên đến bán dâm Trường gọi Phùng Thị Kim Liên sinh năm 1990 là nhân viên tại quán và bảo Liên vào phòng 203 bán dâm và tiếp tục gọi điện cho người tên là Bắc (Trường không biết Bắc là ai, chỉ biết có số điện thoại
0974061663 – theo Trường khai là số điện thoại do Thành cung cấp) bảo cho hai nhân viên đến quán tẩm quất Ha Na để bán dâm Một lúc sau có Lê Thị Tâm sinh năm 1995 đến, Trường bảo Tâm lên phòng 202 để bán dâm Tại phòng, Thọ và Trung đưa tiền cho gái bán dâm là Liên và Tâm mỗi người 500.000đ còn Tuấn vẫn ở phòng 201 để đợi gái bán dâm đến Khi Trung với Liên, Thọ với Tâm đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang thu giữ vật chứng: 02 bao cao su đã qua sử dụng, tiền VNĐ: 1.500.000đ do Tạ Văn Trường, Lê Thị Tâm và Phùng Thị Kim Liên giao nộp; 02 điện thoại di động của Trường và Liên
Ngày 18/10/2018, Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh Bắc Ninh đã ra Cáo trạng
truy tố Tạ Văn Trường về tội “Chứa mại dâm” quy định tại Điều 327 Bộ luật
Hình sự
Ngày 28/12/2018 TAND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh quyết định đưa vụ
án ra xét xử vào ngày 11/01/2019
II VĂN BẢN PHÁP LUẬT ÁP DỤNG
- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003 ngày 17/3/2003 của UBTVQH;
Trang 5- Nghị quyết số 01/2006 ngày 12/5/2006 của HĐTP – TANDTC hướng dẫn
áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự;
- Nghị quyết số 02/2018 ngày 15/5/2018 của HĐTP – TANDTC hướng dẫn
áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
- Nghị quyết số 01/2022 ngày 23/3/2022 của HĐTP – TANDTC sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018
- Thông báo số 64/TANDTC-PC ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự;
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ
1 Hỏi bị cáo Tạ Văn Trường
- Bị cáo hãy cho HĐX biết Bị cáo cư trú ở đâu? Hoàn cảnh gia đình như thế nào? Trước đây đã từng bị kết án, xử lý kỷ luật hay xử lý hành chính bao giờ chưa?
- Bị cáo bắt đầu làm việc tại quán Hana từ khi nào? Ai là người nhận bị cáo vào làm việc tại quán?
- Khi được nhận vào làm việc tại quán Hana, Ngô Văn Thành đã yêu cầu bị cáo làm những công việc gì? Hai bên có ký HĐLĐ không?
- Bị cáo được hưởng những lợi ích gì từ việc cho khách thuê phòng tẩm quất và gọi người bán dâm cho khách?
- Tại sao bị cáo lại có số điện thoại của người phụ nữ tên Bắc? Bị cáo đã gặp mặt Bắc lần nào chưa? Hai người có thoả thuận gì về việc phân chia lợi nhuận khi gọi người bán dâm cho khách không?
- Thành có thường xuyên có mặt ở quán không? Khi có khách đến bị cáo có phải báo lại cho Thành biết không?
- Vào tối ngày 5/7/2018, có bao nhiêu người đến mua dâm? Bao nhiêu người đến bán dâm? Là những ai?
Trang 6- Bị cáo có nhận thấy hành vi của mình là hành vi vi phạm pháp luật không? Bị cáo có hối hận về hành vi của mình không?
2 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
2.1 Hỏi người liên quan Ngô Văn Thành
- Anh có thường xuyên đến quán để kiểm tra hoạt động kinh doanh của quán không?
- Tại sao cơ sở tẩm quất của anh có ít nhất 3 phòng nhưng lại chỉ có 1 nhân viên là Liên tại quán? Trong trường hợp đông khách anh căn dặn Trường gọi thêm nhân viên ở đâu để phục vụ?
- Anh quản lý lượng khách ra vào quán cũng như số tiền mà quản lý của anh (Anh Trường) thu được mỗi ngày bằng cách nào?
- Anh có biết Liên là gái bán dâm không?
- Anh thấy trách nhiệm của mình trong vụ việc này như thế nào ?
2.2 Hỏi người liên quan Phùng Thị Kim Liên
- Chị đã làm việc tại quán Hana bao lâu? Công việc chính của chị là gì? Chị
có được ký HĐLĐ không? Mức lương cho công việc của chị là bao nhiêu?
- Chị đã được đào tạo kỹ năng massa, tẩm quất bao giờ chưa? Thời gian cho mỗi lần tẩm quất là bao lâu?
- Trước khi bị bắt quả tang vào ngày 5/7/2018, chị đã thực hiện hành vi bán
dâm bao nhiêu lần? Thực hiện hành vi bán dâm ở đâu?
- Chị khai là làm nghề bán dâm tự do, không chịu sự điều hành, chỉ đạo từ
bất cứ ai Vậy khi chị bán dâm tại quán, Ngô Văn Thành có biết không?
2.3 Hỏi người liên quan Lê Thị Tâm
- Chị đã từng đến quán Ha Na bao nhiêu lần rồi?
- Tối 5/7/2018, ai là người gọi chị đến quán Hana?
- Chị có biết anh Trường tại quán Ha Na không?
Trang 7- Chị có biết anh Thành -chủ quán không?
- Anh Trường có bảo chị làm gì và thu gì từ khách không?
- Số điện thoại 0947.061.663 đã từng gọi chị lần nào chưa? Nếu có thì số điện thoại này là của ai và gọi vì việc gì?
- Chị có quen biết chị Bắc là ai không không?
IV LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO TẠ VĂN TRƯỜNG
- Kính thưa Hội đồng xét xử;
- Thưa: Vị đại diện viện kiểm sát;
Các vị luật sư đồng nghiệp;
Cùng toàn thể quý vị có mặt tại phiên toà ngày hôm nay
Tôi luật sư A thuộc Văn phòng luật sư AT, Đoàn luật sư tỉnh T tham gia phiên tòa hình sự sơ thẩm hôm nay với tư cách là người bào chữa cho bị cáo Tạ
Văn Trường trong vụ án hình sự “Chứa mại dâm” theo yêu cầu của đại diện gia
đình bị cáo
Theo cáo trạng số 118/CT-VKS-P1 ngày 18/10/2018 của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Bắc Ninh bị cáo Tạ Văn Trường bị truy tố về tội “Chứa mại
dâm” theo quy định tại khoản 2 Điều 327 BLHS Theo đó tội phạm có khung
hình phạt quy định bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm
Trước khi phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Trường, cho phép tôi được nói lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ của TAND thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã hết sức tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được kịp thời tiếp cận, nghiên cứu, sao chụp các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, để có cơ sở vững chắc trong việc bào chữa cho bị cáo
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm tra các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua xét hỏi công khai tại phiên tòa, lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tôi xin trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Trường như sau:
Trang 81 Về tội danh và khung hình phạt
Trong quá trình điều tra của Cơ quan cảnh sát điểu tra – Công an tỉnh Bắc Ninh và Bản cáo trạng của Viện kiểm sát tỉnh Bắc Ninh không đánh giá đúng bản chất của vụ án; có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm Dẫn đến việc kết luận không đúng về vai trò, trách nhiệm hình sự của những đối tượng liên quan trong vụ án Viện kiểm sát xác định ông Tạ Văn Trường đã lợi dụng công việc được giao tự mình thực hiện hành vi phạm tội mà không hề liên quan đến chủ quán là chưa đủ cơ sở và có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm Bởi:
Thứ nhất, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát kết luận rằng Thành thoả
thuận với Trường khi vào làm không được mua bán, sử dụng chất ma tuý và hoạt động mại dâm khi chỉ dựa vào lời khai của ông Thành mà không có bất kỳ văn bản, hợp đồng hay chứng cứ gì để chứng minh cho lời khai của ông Thành
là có căn cứ Nếu lấy lời khai để làm căn cứ thì tại thời điểm đó, ông Thành và ông Trường có lời khai đối lập nhau (Biên bản đối chất ngày 10/8/2018 (BL 48-52)), còn nhiều mâu thuẫn Căn cứ theo Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015 quy định về xác định sự thật của vụ án như sau:
“Điều 15 Xác định sự thật của vụ án
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ
án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội
và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.”
Như vậy, cơ quan điều tra cần làm rõ lời khai của ông Trường và ông Thành để làm rõ nhiều vấn đề còn mâu thuẫn Đồng thời, cơ quan điều tra cần căn cứ thêm những tình tiết khách quan khác; phải xem xét các áp dụng các biện
Trang 9pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ
Việc cơ quan điều tra kết luận dựa vào lời khai một phía từ Thành là không
đủ cơ sở kết luận một cách khách quan, không thể hiện được sự thật của vụ án Mặt khác, trước khi bị bắt quả tang thì Bị cáo Trường mới làm việc tại Cơ
sở Hana còn chưa được một tháng, chưa có được tháng lương đầu Với thời gian làm việc ít ỏi như vậy mà Bị cáo đã có thể thực hiện hành vi “Chứa mại dâm” là điều có phần vô lý Bởi lẽ, trong khoảng thời gian rất ngắn, tại một địa bàn không quen thuộc, với tính chất ngành nghề tế nhị và đặc thù, bị cáo làm sao có khả năng và “uy tín” để tổ chức thực hiện một đường dây mua bán dâm bao gồm
từ tổ chức địa điểm, tìm kiếm gái bán dâm, giới thiệu khách bán dâm,…nếu không được hướng dẫn cũng như chỉ đạo sẵn thì việc thực hiện hành vi này Bị cáo khó có thể tự mình làm được Ngoài ra, trong các lời khai của Bị cáo đều khai là Bị cáo được anh Thành nhận vào và giao công việc, việc chỉ đạo là do anh Thành chỉ đạo Đồng thời, việc có hành vi bán dâm ngay trong cơ sở của anh Thành, nhân viên của anh Thành là Liên cũng trực tiếp là người thực hiện hành vi bán dâm ngay tại trong Cơ sở Hana của anh Thành nhưng anh Thành lại hoàn toàn khai là không biết vụ việc là điều cần phải xác minh lại
Thứ hai, cơ quan điều tra chưa làm rõ được vai trò, động cơ, mục đích
phạm tội của ông Tạ Văn Trường đối với hành vi chứa mại dâm mà viện kiểm sát truy tố Vào thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo Trường đang làm việc với vị trí quản lý đứng quầy với nhiệm vụ trông coi quán, thu tiền khi có khách đến Bị cáo chỉ tiếp khách, thu tiền phòng và sau đó nộp lại toàn bộ cho anh Thành chủ quán Từ đó, bị cáo hoàn toàn không có được bất kỳ lợi ích vật chất nào từ hành
vi chứa mại dâm trên Người được hưởng lợi với hoạt động kinh doanh của quán
là ông Thành
Nguyên nhân, điều kiện phạm tội là xuất phát từ việc bị cáo được phân công nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của Ngô Văn Thành.Vì Thành vẫn luôn giám sát công việc của quán, Trường báo cáo công việc hàng ngày cho anh Thành, nên
Trang 10việc chứa mại dâm anh Thành hoàn toàn biết rõ.
Tại Biên bản ghi lời khai ngày 07/07/2018 (BL 97-98), thân bị cáo có khai
nhận: “Khi 3 khách vào hỏi mua dâm nhân viên tôi thu tiền phòng 3 người là
450.000 đồng sắp 3 phòng và gọi nhân viên cho 3 khách theo sự chỉ đạo từ trước của anh Thành từ khi tôi xin vào làm được khoảng 1 tuần Sau khi gọi nhân viên cho khách xong anh Thành về tôi có báo lại cho anh Thành biết có 3 khách vào 3 phòng em sắp 2 phòng rồi còn phòng 201 thì nhân viên chưa đến, anh Thành ừ và đi lên gác nghỉ” Tại Biên bản đối chất ngày 10/08/2018 (BL
48-52) và các Biên bản ghi lời khai của Thành, Thành đều thừa nhận việc Trường báo với mình về việc có khách đến quán Điều này cho thấy rằng, những công việc mà bị cáo làm tại cơ sở tẩm quất Ha Na đều do anh Thành là người trực tiếp hướng dẫn thực hiện, Trường có nghĩa vụ báo cáo công việc hằng ngày lại với anh Thành, bao gồm cả việc cho thuê phòng Việc bị cáo cho khách thuê phòng vào ngày 05/7/2018 là việc làm như công việc thường ngày,
bị cáo chỉ thực hiện theo đúng công việc cho thuê cũng như quản lý các hoạt động của cơ sở tẩm quất Ha Na
Bị cáo Tạ Văn Trường làm việc theo ca, sau mỗi ca bàn giao lại tiền cho anh Thành và làm việc tại quán có camera mà anh Thành là người trực tiếp giám sát Việc gọi gái bán dâm đến phục vụ khách tại quán là việc anh Thành hoàn toàn biết được qua camera cũng như quá trình quản lý của mình
Mặc dù bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng bị cáo Trường cũng
là do thực hiện công việc được giao, không hề nhận bất kì một khoản lợi nào nữa Bằng chứng là việc thu 150.000 tiền phòng của khách, bị cáo luôn giao hết lại cho Thành Số tiền mà Liên và Tâm bán dâm là 300.000/lần các 2 người giữ hết, không chia cho Trường, bị cáo Trường cũng không được nhận bất kì khoản tiền gì ngoài lương theo thỏa thuận
Thứ ba, ông Thành là người trực tiếp tuyển dụng và bố trí chị Liên làm
nhân viên, gái bán dâm tại quán Hana trong khi bà Liên là gái bán dâm tự do ở Bắc Ninh Căn cứ theo lời khai của bà Liên, cơ quan điều tra chưa làm rõ việc
Trang 11trước khi bị cáo Trường đến làm việc ở quán Hana thì bà Liên có thực hiện hành
vi bán dâm tại quán Hana hay chưa? Và nếu có thì theo sự chỉ đạo của ai? Do ai
bố trí?
Việc xác minh làm rõ được những vấn đề này sẽ là mấu chốt để giúp cơ quan điều tra chứng minh được sự thật của vụ án
Ngoài ra, bị cáo Trường là người lương thiện, đã có nghề nghiệp là kỹ thuật viên chụp Xquang, nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, không xin được việc nên bị cáo phải vào làm việc tại quán Hana với mức lương 4 triệu đồng/tháng Nếu không phải nghe theo sự chỉ đạo của người khác thì bị cáo không có động cơ, mục đích gì để tự mình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Đồng thời, việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo
Trường về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS chưa đúng bản chất của vụ án và không có căn cứ:
Theo khoản 4 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003 ngày
17/3/2003 của UBTVQH thì "Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê
hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm" nên việc xác định “chứa mại dâm 04 người”
Điều 3 Nghị định 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng chống mại dâm hướng dẫn cụ thể hơn
như sau: "Cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để hoạt động mại dâm" quy
định tại khoản 4 Điều 3 của Pháp lệnh là hành vi của tổ chức, cá nhân có quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản mà cho thuê, cho mượn để hoạt động mại dâm
Tiểu mục 2, mục I, Thông báo số 64/TANDTC-PC ngày 19/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với hành
vi chứa mại dâm như sau: Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là
“mua” và “chứa mại dâm” là “chứa bán dâm”