1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ 12

14 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Hoạch Diễn Án Hành Chính Hồ Sơ 12
Người hướng dẫn Giảng viên hướng dẫn: (Chưa cung cấp tên)
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 284,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bà Nguyễn Thị Tuyết không có hành vi vi phạm hành chính: “Thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” như nêu trong Quyết định số 23QĐ XPHC.Trong Biên bản vi phạm hành chính số 11BBVPHC không thể hiện có xảy ra hành vi mua dâm giữa các khách thuê phòng là ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành ở phòng số 11, ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thuỳ ở phòng số 9. Theo khoản 2, Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003 quy định:“Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.”Khi đoàn kiểm tra đến và thực hiện lập biên bản, cũng không hề chứng minh, xác định hành vi mua bán mại dâm với khách hàng, không làm rõ, thực hiện hỏi ý kiến mà chỉ yêu cầu ký vào biên bản.Tại các bản tường trình của các khách thuê phòng cũng thể hiện rằng không phát sinh hành vi mua bán mại dâm. Mặt khác,

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

-o0o -BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: Kỹ năng cơ bản của luật sư tham gia giải quyết

các vụ việc hành chính

Giảng viên hướng dẫn :

Nhóm diễn án, vai diễn:

T, ngày tháng năm 2022

Trang 2

I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

tỉnh G.L đã đến kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Nguyễn Thị Tuyết tại số 241 đường

Lê Lai, thành phố P, tỉnh G.L Quá trình kiểm tra và xác minh: “Tại thời điểm kiểm tra

nhà trọ Hoàng Lan phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có Giấy kết hôn, đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục), phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có Giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti

vi Tại thời điểm kiểm tra tại phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành” Người đại diện cơ sở nhà trọ Hoàng Lan trình

bày: “Cơ sở Hoàng Lan mới mở nên có sai sót mong cơ quan chiếu cố tôi xin hứa lần

sau không vi phạm nữa”

Kết luận tại Biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013: “Chủ cơ sở kinh doanh

nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên” vi

phạm quy định tại Khoản 1 Điều 25, Nghị định 167/2013/NĐ-CP Hình thức xử phạt: phạt tiền 15.000.000 VNĐ

Ngày 23/12/2013, trong bản tường trình ông Thường trình bày ông và bà Lành

có thuê trọ tại cơ sở nhà nghỉ Hoàng Lan Bản tường trình của anh Phan Văn và chị Thuỳ thừa nhận anh và chị là vợ chồng sắp cưới đang ở phòng số 09

Ngày 29/12/2013, bà Tuyết viết bản tường trình gửi Sở Văn hoá, Thể thao và du

lịch với nội dung thừa nhận cơ sở đã vi phạm hai trường hợp nam, nữ không có giấy đăng ký kết hôn cho ở chung 1 phòng (phòng số 9 và phòng số 11) và không vào sổ trường hợp phòng số 11

Ngày 12/02/2014, Bà Tuyết tiếp tục viết tường trình với nội dung “Cơ sở có vi

phạm chưa vào sổ đăng ký một phòng 11 và phòng 09 không có giấy đăng ký kết hôn”.

Ngày 10/3/2014, căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày

21/12/2013, Chánh Thanh tra sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XPHC đối với bà Nguyễn Thị Tuyết 15.000.000 đồng do đã thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP

Ngày 18/03/2014, Sở văn hóa thể thao du lịch gửi công văn tới bà Tuyết đính

Trang 3

chính lại một số thông tin về căn cứ áp dụng, ngày giờ lập biên bản vi phạm, ngày giờ

có hiệu lực của Quyết định số 23/QĐ-XPHC

Ngày 24/03/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết gửi Đơn khiếu nại QĐ 23/QĐ-XP với

các nội dung như sau: (i) Biên bản xử phạt vi phạm được lập từ ngày 23/12/2013 nhưng đến ngày 19/03/2014 bà Tuyết mới nhận được Quyết định xử phạt (ii) Quyết định số 23/QĐ-XPHC gửi cho bà Tuyết không ghi ngày tháng (iii) Căn cứ áp dụng của quyết định là Nghị định 167/2013/NĐ-CP về Xử phạt hành chính trong lĩnh vực ANTT-ATXH chứ không phải là Xử phạt hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin (iv) Cơ sở không tổ chức hoạt động mại dâm và đề nghị đưa ra bằng chứng

Ngày 27/03/2014, Thanh tra Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh G.L thông báo

đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Tuyết đủ điều kiện thụ lý để giải quyết

Ngày 20/04/2014, Thanh tra Sở văn hóa, Thể thao và du lịch ban hành Quyết

định 01/QĐ-TTr Về việc giải quyết đơn khiếu nại xử phạt vi phạm hành chính của bà Tuyết với kết luận: giữ nguyên quyết định xử phạt VPHC số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014

Ngày 02/05/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết gửi đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân

tỉnh G.L với yêu cầu hủy bỏ Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L vì Quyết định trên hoàn toàn không có căn cứ pháp lý và là quyết định trái pháp luật, đã xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là Bà Nguyễn Thị Tuyết

Ngày 13/05/2014, Tòa án nhân dân tỉnh G.L ban hành Thông báo số

03/2014/TB-THC về việc thụ lý vụ án hành chính

Ngày 29/05/2014, Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh G.L gửi công văn số

04/2014/CV-TTr đến Toà án nhân dân tỉnh G.L với nội dung sau: bà Nguyễn Thị Tuyết không có tài liệu chứng minh quan hệ hôn nhân giữa ông Thường và bà Lành Bên cạnh đó bà Nguyễn Thị Tuyết còn có thái độ bất hợp tác khi gửi đơn khiếu nại nhiều lần dù trong bản tường trình ngày 9/03/2014 bà đã thừa nhận hành vi của cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan là vi phạm pháp luật

Trong bản tự khai ngày 23/06/2014, bà Tuyết trình bày không đồng ý với quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XPHC bởi những lý do sau:

Trang 4

- Hành vi “tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện

về an ninh trật tự để tổ chức mại dâm” là không đúng vì tại thời điểm kiểm tra, cơ sở kinh doanh của bà chỉ có hành vi vi phạm là không vào sổ bà Nguyễn Thị Thuỳ ở phòng số 9.

- Quyết định hành chính số 23/QĐ-XPHC là trái pháp luật vì vượt quá thời hạn

xử phạt

Ngày 10/9/2014, TAND dân tỉnh G.L ban hành Quyết định số

04/2014/QĐST-XX, quyết định đưa vụ án ra xét xử

II CÁC VẤN ĐỀ TỐ TỤNG

1 Tư cách đương sự

- Người khởi kiện

Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh G.L

- Người bị kiện

Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du Lịch tỉnh G.L

Địa chỉ: Số 06, Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh G.L

- Người làm chứng

Ông Nguyễn Văn Thường

Bà Nguyễn Thị Lành

Ông Phan Văn, sinh năm 1984

Bà Nguyễn Thị Thuỳ, sinh năm 1989

2 Đối tượng khởi kiện

Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì đối tượng khởi kiện trong vụ án này là Quyết định hành chính, cụ thể là Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L

3 Yêu cầu khởi kiện

Người khởi kiện yêu cầu “Huỷ bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong

Trang 5

hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L.”

4 Thẩm quyền giải quyết của Toà án

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 30 Luật TTHC 2015 thì khiếu kiện Quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

Căn cứ theo Khoản 3 Điều 32 Luật TTHC năm 2015 thì Toà án nhân dân cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L có thẩm quyền giải quyết

Như vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân tỉnh G.L

5 Thời hiệu giải quyết vụ án

Căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính 2015

“Điều 116 Thời hiệu khởi kiện

1 …

2 Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

…”

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, bà Tuyết nhận được Quyết định xử phạt số 23 vào ngày 10/03/2014 và bà Tuyết đã khởi kiện Quyết định xử phạt số 23 ngày 02/05/2014 Như vậy, đơn khởi kiện của bà Tuyết vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện

6 Văn bản pháp luật áp dụng

- Luật tố tụng hành chính 2015;

- Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

- Pháp lệnh của UBTVQH số 10/2003/PL-UBTVQH về phòng, chống mại dâm;

- Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính;

- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội;

Trang 6

phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình;

- Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch và quảng cáo;

- Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 quy định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội;

- Nghị định số 72/2009/NĐ-CP ngày 03/09/2009 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện:

- Nghị định 71/2009/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Văn hoá, Thể tháo và Du lịch;

- Thông tư 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 của Bộ Công an quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện

III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ

1 Hỏi người khởi kiện

1.1 Bà Tuyết hãy cho HĐXX biết thời điểm ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành; ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy đi vào nhà nghỉ thuê phòng

Bà có biết không và thấy có điều gì bất thường từ họ không?

1.2 Khi có khách đến thuê phòng, bà có vào sổ tất cả khách hàng không? Bà trực tiếp vào sổ hay nhân viên của cơ sở kinh doanh thực hiện việc đó?

1.3 Bà có biết về việc quy định phải kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của khách khi cho họ thuê phòng hay không?

1.4 Đề nghị bà cho biết khi Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn Hóa, Thể Thao

và Du lịch đến kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà là ngày nào? Có lập Biên bản vi phạm hành chính hay không? Biên bản có được lập cùng ngày không? Bà có được đọc và ký tên vào trong biên bản đó?

1.5 Tại buổi làm việc ngày 29/12/2013, Thanh tra Sở mời bà đến làm việc và bà

đã đến và làm bản tường trình, thừa nhận hành vi vi phạm trên và xin sửa chữa Có đúng hay không?

1.6 Vào ngày 12/2/2014, Thanh tra sở mời bà đến và yêu cầu bổ sung giấy đăng

ký kết hôn của các đối tượng nhưng bà không cung cấp được? Bà hãy cho biết lý do bà

Trang 7

không cung cấp được không?

2 Hỏi người bị kiện

2.1 Ông Minh hãy cho HĐXX biết việc tổ chức đoàn kiểm tra đến kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Tuyết là dựa trên quyết định nào?

2.2 Bà Tuyết bị xử phạt vi phạm hành chính vì những hành vi vi phạm nào? Căn

cứ xử phạt là gì?

2.3 Ông có biết thời điểm có hiệu lực của Nghị định 167/2013/NĐ-CP là khi nào không?

2.4 Có phải những trường hợp nam, nữ thuê phòng nghỉ, quan hệ vợ chồng không có giấy chứng nhận ĐKKH đều được coi là hành vi mua bán dâm không?

2.5 Vậy căn cứ nào để ông xác định hành vi của ông Thường, bà Lành, ông Văn,

bà Thuỳ là hành vi mua bán dâm?

3 Hỏi người làm chứng

3.1 Các ông bà hãy cho biết các ông bà có bị lập biên bản hay bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua bán dâm vào ngày 23/12/2013 không?

3.2 Các ông bà có được mời đến Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch để làm việc không? Ông bà có được yêu cầu cung cấp ĐKKH không?

IV LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGƯỜI KHỞI KIỆN

Kính thưa: HĐXX Toà án nhân dân tỉnh G.L;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh G.L.

Tôi luật sư …, thuộc Văn phòng luật sư AT, Đoàn luật sư tỉnh T tham gia phiên tòa hành chính sơ thẩm hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

cho người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết trong vụ án hành chính “Kiện yêu cầu

huỷ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L” với người bị kiện là

Chánh thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L Vụ án do Toà án nhân dân tỉnh G.L thụ lý giải quyết

Trang 8

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tham gia xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay và căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, tôi xin được trình bày một số quan điểm và lập luận của mình về vụ án như sau:

Thứ nhất, về trình tự thủ tục:

- Biên bản 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 ghi không đầy đủ thông tin cũng như nội dung trong biên bản Biên bản 11/BB- VPHC ngày 23/12/2013 ghi không đầy đủ thông tin, nội dung của người chứng kiến, thông tin về người xử phạt không đầy đủ (không có giấy CMND, thông có thông tin giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh), thiếu căn cứ pháp lý cụ thể về việc xử phạt

- Vi phạm thời hạn ra quyết định xử phạt Theo Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012:

“Điều 66 Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1 Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều

61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.

Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày

Có thể thấy, Biên bản xử phạt là vào ngày 23/12/2013 mà đến tận ngày 10/3/2014 mới ra quyết định xử phạt Trong trường hợp này, kể cả là đây có là vụ việc nghiêm trọng thì thời hạn ra Quyết định xử phạt hành chính tổng cộng cũng chỉ là 60 ngày kể từ ngày có Biên bản xử phạt, nhưng trong vụ việc trên thì khoảng cách thời gian giữa biên bản xử phạt và quyết định xử phạt lại đã hơn 02 tháng Như vậy, quyết định xử phạt đã quá thời hạn để được ban hành Đây còn chưa kể là phía Chánh Thanh

Trang 9

tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L chưa nêu rõ được về vụ việc của bà Tuyết có phải là vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình hay là không?

Thứ hai, về việc Quyết định số 23/QĐ-XPHC áp dụng Nghị định số 167/2013

để xử phạt hành vi vi phạm.

Nghị định 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28/12/2013 (theo khoản 1 Điều 72 Nghị định này) Tại thời điểm xảy ra sự việc, tức ngày lập Biên bản

số 11/BB-VPHC (23/12/2013), Nghị định 167/2013/NĐ-CP chưa có hiệu lực

Theo khoản 1 Điều 73 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP, “đối với hành vi vi phạm

hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết, thì áp dụng các quy định có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm”.

Như vậy, việc áp dụng quy định tại một Nghị định chưa có hiệu lực thi hành của phía Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L vào thời điểm đó là trái với quy định của pháp luật, mức xử phạt đặt ra đối với bà Tuyết là vô lý, không có căn cứ để ra Quyết định xử phạt như vậy được

Thứ ba, Quyết định số 23/QĐ-XPHC được ban hành không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Trong Quyết định số 23/QĐ-XPHC, căn cứ pháp lý để xử phạt hành chính là khoản 1 Điều 25 thuộc Mục 2, Chương II của Nghị định 167/2013/NĐ-CP (quy định

về Vi phạm hành chính về phòng, chống tệ nạn xã hội) Tuy nhiên, theo quy định tại

Điều 69 Nghị định 167/2013/NĐ-CP, Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi quy định tại Mục 4 Chương II của Nghị

định này (quy định về Vi phạm hành chính về phòng, chống bạo lực gia đình).

Thêm nữa, theo quy định của pháp luật, cụ thể là Thông tư 33/2010/TT-BCA thì thẩm quyền kiểm tra về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện cụ thể đối với bà Tuyết là ngành nghề kinh doanh cho thuê lưu trú thì thẩm quyền điều tra và xử phạt là do Cơ quan Công an cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự cho cơ sở kinh doanh mới được phép kiểm tra định kỳ việc chấp hành các

Trang 10

quy định, điều kiện về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh.

Như vậy, hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP không thuộc thẩm quyền xử lý của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Và do đó, việc Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đi kiểm tra và ra Quyết định số 23/QĐ-XPHC xử lý hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP là không đúng thẩm quyền

Thứ tư, bà Nguyễn Thị Tuyết không có hành vi vi phạm hành chính: “Thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” như nêu trong Quyết định số 23/QĐ- XPHC.

Trong Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC không thể hiện có xảy ra hành vi mua dâm giữa các khách thuê phòng là ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành ở phòng số 11, ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thuỳ ở phòng số 9 Theo khoản 2, Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003 quy định:

“Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.”

Khi đoàn kiểm tra đến và thực hiện lập biên bản, cũng không hề chứng minh, xác định hành vi mua bán mại dâm với khách hàng, không làm rõ, thực hiện hỏi ý kiến mà chỉ yêu cầu ký vào biên bản

Tại các bản tường trình của các khách thuê phòng cũng thể hiện rằng không phát sinh hành vi mua bán mại dâm Mặt khác, cho đến thời điểm ra Quyết định số 23/QĐ-XPHC, các cơ quan có thẩm quyền cũng không thu thập được bất kỳ chứng cứ nào khác chứng minh có xảy ra hành vi mua dâm, bán dâm ở nhà trọ Hoàng Lan tại thời điểm kiểm tra Toàn bộ hồ sơ vụ án và các chứng cứ khác thu thập được, không có chứng cứ nào thể hiện rằng tại thời điểm kiểm tra, ở nhà nghỉ Hoàng Lan đã xảy ra hành vi mua dâm, bán dâm như quy định tại Điều 3 Pháp lệnh phòng chống mại dâm Theo nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính, nghĩa vụ chứng minh vi phạm hành chính thuộc về người có thẩm quyền xử phạt (điểm đ khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012) Theo lời khai của những người khách thuê phòng thì các phòng đó đều chỉ có một người thuê trước đó, và quan hệ ông Thường và bà Lành là

Ngày đăng: 20/02/2023, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w