1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thu hoạch diễn án hồ sơ Dân sự 07

13 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Diễn án Hồ sơ Dân sự 07
Trường học Học Viện Tư Pháp
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Diễn án hồ sơ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 282,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo tự nguyện kết hôn năm 1999, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 2631999. Tuy nhiên trong quá trình chung sống anh Nguyệt và chị Hảo đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, anh Nguyệt không chịu tu chí làm ăn, hay đi chơi bời rồi về chửi bới, đánh đập vợ con. Điều này được thể hiện qua các lời khai của chị Hảo và trong phiên toà ngày hôm nay, thể hiện trong biên bản xác minh ngày 09032016 của cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt (BL 73). Mặc dù đã được người thân và gia đình hoà giải, hàn gắn nhưng mâu thuẫn vẫn phát sinh, đến năm 2014 thì anh chị đã sống ly thân với nhau. Nay chị Hảo xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bản thân đã không còn tình cảm với anh Nguyệt, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

-o0o -BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn : Kỹ năng cơ bản của luật sư tham gia giải

quyết các vụ việc dân sự

Hồ sơ số : LS.DS 07/B3.TH2 – DA1/HNGD

Diễn lần : 01

Ngày diễn :

Họ và tên :

Số báo danh :

Lớp Luật sư :

T, ngày tháng năm 2022

Trang 2

1 TÓM TẮT NỘI DUNG

1.1 Tư cách tham gia tố tụng

1.1.1 Nguyên đơn

Hoàng Thị Hảo, sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

1.1.2 Bị đơn

Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương

1.1.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Bà Nguyễn Thị Thoa, sinh năm: 1944

Địa chỉ: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

- Ông Nguyễn Văn Cang, sinh năm: 1930

Địa chỉ: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

- UBND TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương

1.1.4 Người làm chứng

- Ông Nguyễn Văn Bích – Công chức địa chính xã Thượng Đạt

- Ông Đỗ Văn Tơ, sinh năm 1962

Địa chỉ: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương

- Ông Đỗ Văn Tạo, sinh năm 1972

Địa chỉ: Khu dân cư số 1, Thượng Triệt 1, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương

1.2 Tóm tắt nội dung vụ việc

1.2.1 Nội dung vụ việc

Anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo kết hôn trên tinh thần tự nguyện

có đăng ký kết hôn ngày 26/3/1999 tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay

là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương

Sau khi kết hôn và chung sống khoảng 02 năm thì anh chị nảy sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp, anh Nguyệt thường xuyên đi chơi, không tu chí làm ăn, khi trở

Trang 3

về nhà thì đánh đập chị Hảo

Đến năm 2014, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng chị Hảo đã dọn về nhà mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh Nguyễn Văn Nguyệt

Ngày 02/01/2016 chị Hảo có đơn khởi kiện gửi Toà án nhân thành phố Hải Dương yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt, nuôi dưỡng hai con chung

và phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Về con chung, anh Nguyệt và chị Hảo có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 01/01/2000 hiện đang sống cùng chị Hảo và cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007 đang sống cùng anh Nguyệt

Về tài sản chung

- Chị Hảo xác định:

1 Quyền sử dụng đất thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng;

2 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Tp Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng Sau,anh Nguyệt và chị Hảo làm đơn đề nghị Tòa án không giải quyết về tài sản này

- Anh Nguyệt xác định:

1 Không có tài sản chung là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại

xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương;

2 Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng;

3 Về nợ chung: Khoản nợ đối với ngân hàng Agribank: nợ gốc 20.000.000 và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng Đã hoàn thành trả vào 28/06/2016 và ngân hàng Agribank đã hoàn trả lại GCNQSDĐ đối với thửa đất 496

1.2.2 Yêu cầu của nguyên đơn

- Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt

- Được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng nuôi con

- Phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là thửa đất số 496,

tờ bản đồ số 01 và được nhận phần tài sản bằng hiện vật (quyền sử dụng đất), không yêu phân chia các tài sản khác

Trang 4

1.2.3 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/3/1999;

- Sổ hộ khẩu;

- Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Thị Nhi;

- Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Đức Anh;

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn Nguyệt và Hoàng Thị Hảo tại thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2;

- Đơn đề nghị ngày 20/01/2016 của cháu Nguyễn Thị Nhi;

- Đơn đề nghị của cháu Nguyễn Đức Anh

2 VĂN BẢN ÁP DỤNG

- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Luật Đất đai 2003;

- Án lệ số 03/2016/AL của HĐTP-TANDTC

3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

3.1 Xây dựng kế hoạch hỏi

Mục đích: Làm sáng tỏ các sự việc đang có tranh chấp; Chứng minh các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Hảo là có căn cứ pháp luật

3.1.1 Hỏi nguyên đơn – Chị Hoàng Thị Hảo

- Chị Hảo cho biết, hiện nay chị còn tình cảm với anh Nguyễn Văn Nguyệt không?

- Từ khi ly thân với anh Nguyệt đến nay chị sống ở đâu?

- Hiện nay chị đang làm công việc gì? Mức lương bao nhiêu? Loại hợp đồng lao động là gì?

- Trong thời gian nuôi dưỡng cháu Đức Anh anh Nguyệt có cho chị được gặp gỡ, thăm nom cháu Đức Anh không?

- Vợ chồng anh chị được ông Cang – bà Thoa tặng cho đất năm nào?

- Sau khi được tặng cho đất anh chị đã xây dựng những công trình gì trên đất? Có

ai phản đối gì về việc xây dựng không?

- Anh chị được cấp GCNQSD đất năm bao nhiêu? Do cơ quan nào cấp?

- Ông Cang – bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình có biết anh chị đã được cấp GCNQSD đất không? Có ai có ý kiến phản đối gì không?

Trang 5

- Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1999 đến nay có tranh chấp với ai không?

Có ai phản đối không?

3.1.2 Hỏi bị đơn – Anh Nguyễn Văn Nguyệt

- Anh Nguyệt xác định có còn tình cảm với chị Hoàng Thị Hảo không?

- Trong thời gian chung sống sau khi kết hôn anh có đánh, đuổi chị Hảo không?

- Sau khi anh chị ly thân cháu Đức Anh có được gặp mẹ không? Gặp mấy lần?

- Anh được cấp GCNQSD đất năm nào? Có ai có ý kiến phản đối gì không?

- Anh chị đã tôn tạo, xây dựng những công trình gì trên đất?

- Kể từ khi quản lý, sử dụng đất đến nay có tranh chấp với ai không? Có ai có ý kiến phản đối gì không?

3.1.3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Nguyễn Thị Thoa

- Năm 1999, sau khi anh Nguyệt và chọ Hảo kết hôn bà đã cho anh chị xây dựng nhà ở và các công trình phụ trên đất có đúng không? Có ai phản đối không?

- Việc Anh Nguyệt, chị Hảo được cấp GCNQSD đất bà và có thành viên khác trong gia đình có biết không? Có ai có ý kiến gì không?

- Chị Hảo có tôn tạo, sản xuất trên thửa đất số 496 không?

- Từ năm 1999 đến nay bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với thửa đất nêu trên không?

3.1.4 Hỏi người làm chứng

* Ông Nguyễn Văn Bích – Công chức địa chính xã Thượng Đạt

- Sau khi anh Nguyệt – chị Hảo được cấp GCNQSD đất, UBND xã có nhận được

ý kiến, đơn thư kiếu nại nào không?

- Có tranh chấp nào đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 không?

* Ông Đỗ Văn Tơ – Thợ xây nhà cho anh Nguyệt – chị Hảo

- Ông xây dựng nhà ở và các công trình phụ cho gia đình anh Nguyệt – chị Hảo trong thời gian bao lâu?

- Trong thời gian thi công có ai đến phản đối, ngăn cản gì không?

* Ông Đỗ Văn Tư – Cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt

- Việc anh Nguyệt đánh cháu Đức Anh và không cho cháu gặp mẹ có nhiều người biết không?

Trang 6

3.2 Soạn thảo luận cứ bảo vệ cho khách hàng

Kính thưa: - HĐXX Toà án nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương;

- Đại diện VKS nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Tôi luật sư …, thuộc Văn phòng luật sư AT, Đoàn luật sư tỉnh T tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

nguyên đơn là chị Hoàng Thị Hảo trong vụ án hôn nhân và gia đình “Tranh chấp ly

hôn, nuôi con, chia tài sản” với bị đơn là anh Nguyễn Văn Nguyệt.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua phần trình bày của các đương sự và phần xét hỏi công khai tại phiên toà ngày hôm nay tôi xin trình bày quan điểm của mình về vụ án như sau:

1 Về yêu cầu ly hôn

Anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo tự nguyện kết hôn năm 1999, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26/3/1999 Tuy nhiên trong quá trình chung sống anh Nguyệt và chị Hảo đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, anh Nguyệt không chịu tu chí làm ăn, hay đi chơi bời rồi về chửi bới, đánh đập vợ con Điều này được thể hiện qua các lời khai của chị Hảo và trong phiên toà ngày hôm nay, thể hiện trong biên bản xác minh ngày 09/03/2016 của cán bộ tư pháp

xã Thượng Đạt (BL 73) Mặc dù đã được người thân và gia đình hoà giải, hàn gắn nhưng mâu thuẫn vẫn phát sinh, đến năm 2014 thì anh chị đã sống ly thân với nhau Nay chị Hảo xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bản thân đã không còn tình cảm với anh Nguyệt, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt

Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị hảo là hoàn toàn có căn cứ theo quy định của pháp luật cụ thể là các quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình

2014 Ngoài ra, tại phiên toà ngày hôm nay anh Nguyệt cũng đã xác nhận không còn tình cảm với chị Hảo, không thể tiếp tục chung sống và đồng ý với yêu cầu ly hôn với chị Hảo

Như vậy, có thể khẳng định rằng hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Do vậy, kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với anh Nguyệt của chị Hoàng Thị Hảo

2 Về yêu cầu nuôi con chung

Sau khi kết hôn chị Nguyệt và anh Hảo sinh được hai con chung là:

Trang 7

Cháu Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2000

Cháu Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007

Chị Hoàng Thị Hảo có yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Văn Nguyệt phải cấp dưỡng nuôi con

Thứ nhất, về yêu cầu nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Nhi.

Hiện nay, cháu Nguyễn Thị Nhi đang do chị Hảo trực tiếp nuôi dưỡng Cháu Nguyễn Thị Nhi cũng đã có Đơn đề nghị ngày 20/01/2016 theo đó, cháu Nhi có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Hoàng Thị Hảo nếu anh Nguyệt và chị Hảo ly hôn Trong biên bản hoà giải ngày 12/7/2016 (BL 175-176) anh Nguyệt cũng đồng ý giao cháu Nguyễn Thị Nhi cho chị Hảo trực tiếp nuôi dưỡng

Thứ hai, về yêu cầu nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức Anh.

Căn cứ theo Đơn đề nghị và Biên bản lấy lời khai ngày 05/7/2016 (BL 166) của cháu Nguyễn Đức Anh có thể thấy nguyện vọng của cháu là được chung sống với mẹ

là chị Hảo nếu bố mẹ cháu ly hôn, biên bản được lập trước sự chứng kiến của bà nội cháu là bà Nguyễn Thị Thoa

Theo lời khai của chị hảo tại phiên toà, hiện nay chị Hảo đang sống tại nhà mẹ đẻ

và đã có công việc, thu nhập ổn định Như vậy, chị Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện về kinh tế cũng như chỗ ở để nuôi dạy cả hai con chung

Trong thời gian cháu Đức Anh được bố là anh Nguyễn Văn Nguyệt nuôi dưỡng, chăm sóc anh Nguyệt đã ngăn cản cháu Đức Anh không cho cháu gặp mặt mẹ, nếu chị Hảo gặp con thì anh Nguyệt sẽ hành hạ cháu Đức Anh Như vậy, nếu giao con chung cho anh Nguyệt trực tiếp nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo quyền được thăm nom con của chị Hảo theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

Ngoài ra, cháu Nguyễn Đức Anh đã được 10 tuổi, đây là độ tuổi phát triển cả về nhận thức lẫn hành vi, nếu giao cháu Đức Anh cho một người có tính bạo lực, ăn chơi đua đòi, không tu chí làm ăn như anh Nguyệt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm, sinh lý của cháu Nguyễn Đức Anh

Vì các lẽ trên, tôi đề nghị HĐXX chấp thuận yêu cầu được nuôi cả hai con chung

là Nguyễn Thị Nhi, Nguyễn Đức Anh và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Hoàng Thị Hảo để đảm bảo quyền và lợi ích của các cháu cũng như các bên đương sự theo quy định của pháp luật

3 Về yêu cầu chia tài sản chung

Chị Hoàng Thị Hảo yêu cầu Toà án nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là QSD đất và tài sản gắn liền với đất

Trang 8

bao gồm ngôi nhà và các công trình phụ tại thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, địa chỉ: xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Thửa đất nêu trên

đã được UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp GCNQSD đất mang tên ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Hoàng Thị Hảo ngày 31/12/2005

Về nguồn gốc thửa đất, vợ chồng anh Nguyệt – chị Hảo được ông Nguyễn Văn Cang và bà Nguyễn Thị Thoa là bố mẹ đẻ anh Nguyệt tặng cho hai vợ chồng từ năm

1999 để xây nhà và sinh sống sau khi anh chị kết hôn Điều này đã được thể hiện tại Biên bản lấy lời khai của ông Đỗ Văn Tơ là anh em họ với anh Nguyệt (BL 69-70) và một số thợ xây nhà và công trình phụ cho anh Nguyệt, chị Hảo năm 1999

Sau khi được tặng cho QSD đất tại thửa số 496, tờ bản đồ số 01 vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo đã xây dựng nhà ở kiên cố, các công trình phụ trên đất và cải tạo hiện trạng đất, sản xuất trên thửa đất này từ năm 1999 đến nay không có tranh chấp với ai, không có ai phản đối Đến năm 2005, hai vợ chồng được UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, địa chỉ: xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Căn cứ vào lời khai của bà Thoa trong phần xét hỏi tại phiên toà cũng như Biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Thoa ngày 06/5/2016 (BL 92-95) thì việc anh Nguyệt, chị Hảo được cấp GCNQSD đất ông

bà Cang – Thoa và các thành viên khác trong gia đình đểu biết nhưng không có ý kiến

gì, không có ai phản đối Tại Biên bản xác minh ngày 23/6/2016 ông Nguyễn Văn Bích – Công chức địa chính xã Thượng Đạt cũng xác nhận sau khi được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất nêu trên anh Nguyệt, chị Hảo sử dụng đất ổn định, không có ttranh chấp với các hộ giáp danh cũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình

Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSD đất, năm 2005 hai vợ chồng anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất nêu trên là hoàn toàn hợp pháp, đúng quy định của pháp luật, không có bất kỳ tranh chấp, khiếu nại gì

Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương phúc đáp Công văn số 108/2016/CV-TA của TAND thành phố Hải Dương đã xác định việc cấp GCNQSD đất cho anh Nguyệt chị Hảo là do UBND huyện Nam Sách lập danh sách cấp đồng loạt cho 30 hộ gia đình, cá nhân GCNQSD đất của anh Nguyệt chị Hảo được cấp ngày 31/12/2005, số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 trong đó có 200m2 đất ở và 16m2 đất cây lâu năm là đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Đất đai UBND thành phố Hải Dương không chấp nhận yêu cầu huỷ GCNQSD đất nêu trên của anh Nguyệt, bà Thoa, ông Cang

Trang 9

Ngoài ra, Căn cứ theo nội dung án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối

cao thì “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng

người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định

và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất”.

Trong trường hợp này vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo đã xây dựng nhà ở kiên cố

và các công trình phụ trên đất từ năm 1999 Khi xây dựng ông Cang bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình đều biết nhưng không có ai phản đối hay có ý kiến gì

Vợ chồng chị Hảo anh Nguyệt đã sử dụng thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 ổn định, lâu dài, không có tranh chấp với ai từ năm 1999 đến nay và đã được UBND huyện Nam Sách cấp GCNQSD đất theo đúng quy định của pháp luật

Như vậy, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, án lệ số 03/2016/AL của HĐTP-TANDTC cũng như lời khai của các bên đương sự tại phiên toà ngày hôm nay, có thể khẳng định sau khi vợ chồng anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Hoàng Thị Hảo kết hôn năm 1999 đã được ông Cang, bà Thoa tặng cho quyền sử dụng đất tại thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, địa chỉ: xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Hai vợ chồng đã xây dựng một căn nhà 18m2 lợp ngói kiên cố, một gian bếp và nhà vệ sinh, một giếng khơi và một bể gạch xi măng trên thửa đất này và sử dụng ổn định, lâu dài và không có tranh chấp với ai, không có ai phản đối Đến năm 2005, vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất nêu trên

Theo quy định tại khoản 1, Điều 33 Luật Hôn nhân & Gia đình 2014 về tài sản chung của vợ chồng:

“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc

có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Trang 10

Vậy, thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, địa chỉ: xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương và tài sản gắn liền với đất bao gồm ngôi nhà và các công trình phụ trên đất là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo

Yêu cầu phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của nguyên đơn chị Hoàng Thị Hảo là có căn cứ Do vợ chồng anh Nguyệt, chị Hảo không thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng tôi đề nghị HĐXX áp dụng quy định tại các khoản 2, 3 Điều 59 Luật Hôn nhân & Gia đình 2014 để chia đôi thửa đất bằng hiện vật (quyền sử dụng đất) theo yêu cầu của chị Hảo

“2 Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3 Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.”

Đối với phần nợ chung tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh PGD Tiền Trung, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương ông Nguyệt,

bà Hảo đã thống nhất vớinhau về vấn đề trên, nên không yêu cầu toà án giải quyết

Thưa: - HĐXX Tòa án nhân dân TP Hải Dương;

- Đại diện VKSND TP Hải Dương.

Như đã phân tích trên khẳng định rằng, các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Thị Hảo là hoàn toàn có căn cứ pháp luật, đúng lý, hợp tình Vì vậy, kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết, chấp thuận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Hảo./

Tôi xin chân thành cảm ơn!

4 NHẬN XÉT DIỄN ÁN

Ngày đăng: 20/02/2023, 09:35

w