BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRẦN THỊ HƯỜNG THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN, BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2022 BÁO CÁO CHUYÊN
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
Rượu là một chất tác động tâm thần mạnh, chứa etanol với tỷ lệ phần trăm nhất định; nồng độ etanol càng cao thì nồng độ rượu càng lớn Việc sử dụng rượu có thể dẫn đến lệ thuộc cả về thể chất lẫn tâm lý Trước đây, say rượu và lạm dụng đồ uống có cồn chỉ được coi là thói hư tật xấu, không phải là bệnh Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ XIX, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc uống rượu với lượng lớn và kéo dài gây ra nhiều biến chứng về sức khỏe Thuật ngữ “Nghiện rượu” được nhà tâm thần học Thụy Sĩ Abubakar sử dụng vào năm 1849 để chỉ các bệnh lý thứ phát do rượu gây ra.
Lạm dụng rượu là hành vi sử dụng rượu gây hại cho sức khỏe, tâm thần và thể chất của con người, nhưng chưa dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về thể chất và tâm thần, theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD X) của Tổ chức Y tế thế giới.
Theo hội tâm thần học Hoa Kỳ trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, thống kê (DMS-IV,1994) tiêu chuẩn lạm dụng rượu ghi nhận như sau: [13]
Hình thức sử dụng rượu không tương thích có thể dẫn đến sự biến đổi chức năng hoặc chịu đựng lâm sàng, được xác định bởi sự xuất hiện của ít nhất một trong các biểu hiện sau trong vòng một năm.
+ Sử dụng nhắc lại rượu dẫn đến làm mất khả năng thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu trong công việc, ở nhà hoặc ở nơi làm việc
+ Sử dụng nhắc lại rượu trong những tình huống gây hại về thể chất
Việc sử dụng rượu có thể dẫn đến nhiều vấn đề pháp lý, chẳng hạn như bị bắt giữ do các hành vi không bình thường liên quan đến việc uống rượu Những tình huống này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến cộng đồng, đòi hỏi sự chú ý từ các cơ quan chức năng để đảm bảo an toàn và trật tự xã hội.
Sử dụng rượu có thể dẫn đến những vấn đề dai dẳng hoặc tái diễn trong mối quan hệ cá nhân và xã hội, gây ra những tác động tiêu cực đáng kể.
+ Không có biểu hiện của sự phụ thuộc rượu
1.1.2 Tiêu chuẩn lạm dụng rượu theo DSM – IV (1994) [14]
Theo Hội tâm thần học Mỹ trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, thống kê (DMS-IV,1994) tiêu chuẩn lạm dụng rượu ghi nhận như sau:
Hình thức sử dụng rượu không tương thích có thể dẫn đến sự biến đổi chức năng hoặc chịu đựng lâm sàng, được xác định bởi sự xuất hiện của ít nhất một trong các biểu hiện sau trong vòng một năm.
+ Sử dụng nhắc lại rượu dẫn đến làm mất khả năng thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu trong công việc, ở nhà hoặc ở trường
+ Sử dụng nhắc lại rượu trong những tình huống gây hại về thể chất
+ Lập lại những vấn đề về tư pháp liên quan đến việc sử dụng rượu (Ví dụ:
Bị bắt giữ về những hành vi không bình thường do uống rượu)
Sử dụng rượu có thể dẫn đến những vấn đề dai dẳng hoặc tái diễn trong mối quan hệ cá nhân và xã hội, gây ra những tác động tiêu cực đáng kể.
+ Không có biểu hiện của sự phụ thuộc rượu
1.2.1 Một số khái niệm về nghiện rượu
Vào năm 1849, Huss M (Thụy Sĩ) đã lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “nghiện rượu” để mô tả những người tiêu thụ rượu một cách thường xuyên và thái quá, dẫn đến các vấn đề về sức khỏe thể chất và tâm thần Hiện nay, nghiện rượu được xác định là một loại bệnh lý liên quan đến rượu, với nhiều tác nhân và nguyên nhân khác nhau.
Năm 1951, Pouqyet định nghĩa: nghiện rượu là khi một cá nhân đã sử dụng rượu mà bị mất tự do vì rượu
Năm 1994, Hardy P và Keureis O định nghĩa nghiện rượu như sau:
Nghiện rượu được định nghĩa là việc tiêu thụ rượu hàng ngày vượt quá 1ml cho mỗi kg cân nặng, hoặc tương đương với việc uống hơn 3/4 lít rượu vang 10% cồn đối với một người đàn ông nặng 70kg.
+ Về mặt xã hội: nghiện rượu là tất cả những hình thái uống rượu vượt quá việc sử dụng thông thường và truyền thống
Năm 1945, Viện Hàn lâm Y học Pháp xác định nghiện rượu là sử dụng hàng ngày vượt quá 1ml cồn tuyệt đối cho 1 kg cân nặng
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1993), nghiện rượu được định nghĩa là nhu cầu mãnh liệt về việc tiêu thụ đồ uống có cồn, dẫn đến việc hình thành thói quen, rối loạn nhân cách, giảm khả năng lao động và tác động tiêu cực đến sức khỏe.
Nghiện rượu là tình trạng mà người bệnh có cảm giác thèm muốn và phụ thuộc vào rượu, dẫn đến việc không thể kiểm soát liều lượng tiêu thụ Dù có mong muốn từ bỏ, những người nghiện rượu thường không thể làm được, ngay cả khi họ nhận thức rõ về những tác hại của rượu.
+ Nghiện rượu mạn tính có các triệu chứng cơ bản đặc trưng là:
Sự thay đổi khả năng dung nạp rượu
Có thể gây rối loạn tâm thần do sử dụng rượu
1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD-10 [8]
Để chẩn đoán, cần có ít nhất một trong các biểu hiện sau đây xảy ra đồng thời trong vòng một tháng, hoặc nếu chúng xuất hiện trong thời gian ngắn hơn một tháng, thì phải lặp lại cùng nhau trong khoảng thời gian 12 tháng.
1) Ham muốn mãnh liệt hoặc cảm giác buộc phải sử dụng rượu
2) Không có khả năng kiểm soát tập tính sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc, mức sử dụng
3) Xuất hiện trạng thái cai sinh lý khi ngừng hoặc giảm sử dụng rượu
4) Có bằng chứng về sự dung nạp rượu, số lượng rượu uống trong ngày tăng cả về số lần uống và lượng rượu uống mỗi lần
5) Sao nhãng các thú vui, giảm sút sự quan tâm thích thú, phần lớn thời gian cần để tìm kiếm hay sử dụng rượu
6) Tiếp tục sử dụng mặc dù biết rõ về tác hại của rượu
1.2.3 Hậu quả của lạm dụng rượu và nghiện rượu
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rượu bia đứng thứ 5 trong số 15 yếu tố nguy cơ sức khỏe hàng đầu tại Việt Nam Rượu bia chiếm 5,7% tổng số ca tử vong và liên quan đến 35,2% các vụ tai nạn giao thông ở nam giới Ngoài ra, rượu bia còn là nguyên nhân chính gây ra 30% các vụ gây rối trật tự xã hội và 33% các vụ bạo lực gia đình tại Việt Nam.
Nghiện rượu và lạm dụng rượu gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho người sử dụng mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế và an ninh xã hội.
* Hậu quả đối với cá nhân
Rượu khi vào cơ thể sẽ được phân bổ đến các cơ quan nội tạng, và việc lạm dụng cũng như nghiện rượu kéo dài sẽ dần dần ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan này Hệ quả là, lâu dần sẽ gây ra rối loạn chức năng và phát sinh nhiều bệnh lý khác nhau.
Cơ sở thực tiễn
2.1 Một số nghiên cứu về rối loạn tâm thần do rượu
Theo báo cáo của bệnh viện Yên Bái trong giai đoạn 2013 – 2017, tỷ lệ người bệnh có rối loạn tâm thần do rượu nhập viện chiếm 8,4% tổng số bệnh nhân nội trú, với 526/6.264 trường hợp Trong số đó, có 2 trường hợp tử vong (0,38%), 95 trường hợp mắc bệnh tiêu hóa (18,06%), 86 trường hợp bệnh khớp và cơ (16,34%), 47 trường hợp bệnh hô hấp (8,9%), và 50 trường hợp bệnh tim mạch (9,5%).
- Tại bệnh viện Tâm thần tỉnh bến tre giai đoạn 2010 đến 2017 tỷ lệ người bệnh rối loạn tâm thần do rượu điều trị nội trú là 14.9% [19]
Nghiên cứu của Cao Tiến Đức (2016) cho thấy 88% bệnh nhân nghiện rượu mạn tính gặp phải rối loạn trầm cảm, với hậu quả nghiêm trọng là ý tưởng tự sát thường xuyên xuất hiện.
Nghiên cứu của Trần Đình Xiêm chỉ ra rằng loạn thần do rượu là một rối loạn tâm thần liên quan mật thiết đến việc sử dụng rượu, với các triệu chứng như rối loạn cảm xúc, hành vi, hoang tưởng và ảo giác.
Nghiên cứu của Võ Văn Bản (1994) chỉ ra rằng loạn thần do rượu là một rối loạn tâm thần, thể hiện qua các triệu chứng như rối loạn cảm xúc, hành vi, hoang tưởng và ảo giác Các triệu chứng phổ biến bao gồm hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại, ảo thị và ảo giác xúc giác, đặc trưng cho tình trạng này.
2.2 Vai trò của điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh có rối loạn tâm thần do rượu: Điều dưỡng là người chăm sóc người bệnh trong suốt thời gian điều trị nội trú với mục đích phục hồi sức khỏe cho người bệnh, giúp người bệnh sớm ổn định trở về với cuộc sống thường ngày Với tính chất đặc thù của người bệnh tâm thần nói chung và của người bệnh có các rối loạn tâm thần do rượu nói riêng đòi hỏi người điều dưỡng khi chăm sóc người bệnh phải vận dụng các kiến thức, kỹ năng lâm sàng với nghiệp vụ chuyên môn chuyên sâu để lượng giá được tình trạng người bệnh về các tổn thương do rượu gây ra Công tác chăm sóc, theo dõi và nuôi dưỡng người bệnh có rối loạn tâm thần do rượu là công việc hết sức nặng nhọc, vất vả, đòi hỏi có sự kết hợp và hỗ trợ lẫn nhau giữa các NVYT, giữa điều dưỡng với gia đình người bệnh Việc theo dõi sát, phát hiện kịp thời các biểu hiện rối loạn tâm thần, các diễn biến bất thường, các bệnh kèm theo của người bệnh để có kế hoạch chăm sóc phù hợp nhằm đảm bảo an toàn cho tính mạng người bệnh [12]
Khi tiếp nhận người nghiện rượu tại cơ sở y tế, điều dưỡng cần đánh giá tình trạng bệnh nhân để xác định có chấn thương đầu hoặc các cơ quan khác không, kiểm tra mức đường huyết có giảm hay không, và phát hiện các vấn đề sức khỏe khác Đồng thời, cần nhận diện các kiểu thở không hiệu quả liên quan đến chèn ép hệ thần kinh trung ương và nguy cơ cao của hành vi bạo lực do ngộ độc nặng từ rượu.
2.3 Các quy định hiện hành về công tác chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần do rượu
2.3.1 Năm 2021, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư 31/2021/TT-BYT, ngày 28 tháng 21 năm 2021 và có hiệu lực thi hành từ ngày 27 tháng 02 năm 2022 Thông tư nêu rõ:
Chăm sóc điều dưỡng bao gồm việc nhận định và can thiệp để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh, như hô hấp, tuần hoàn, dinh dưỡng, bài tiết, vận động, tư thế, giấc ngủ, vệ sinh cá nhân, và môi trường an toàn Ngoài ra, điều dưỡng còn chú trọng đến giao tiếp, tín ngưỡng, hoạt động giải trí và kiến thức bảo vệ sức khỏe.
Chẩn đoán điều dưỡng là quá trình đánh giá phản ứng của cơ thể người bệnh đối với tình trạng sức khỏe Đây là nền tảng để lựa chọn các can thiệp chăm sóc điều dưỡng, nhằm đạt được kết quả mong muốn trong lĩnh vực chuyên môn của điều dưỡng.
Do đó, nguyên tắc thực hiện chăm sóc cần:
1 Việc nhận định lâm sàng, phân cấp chăm sóc và thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh phải đúng chuyên môn, toàn diện, liên tục, an toàn, chất lượng, công bằng giữa các người bệnh và phù hợp với nhu cầu của mỗi người bệnh
2 Việc thực hiện hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện phải bảo đảm có sự tham gia, phối hợp của các đơn vị và các chức danh chuyên môn khác trong bệnh viện
2.3.2 Quy trình chăm sóc người bệnh được ban hành kèm theo Quyết định số 940/2002/QĐ-BYT ngày 22/3/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn quy trình chăm sóc NB và quy trình chăm sóc người bệnh có rối loạn tâm thần do rượu; Quyển 01:Mã số QT.00.ĐD/2018 (Ban hành kèm theo Quyết định số 423/QĐ-BV ngày18/6/2018 v/v Ban hành bổ xung quy trình điều dưỡng tại Bệnh viện)
2.3.3 Tại hội nghị chuyên ngành tâm thần khu vực phí bắc năm 2022 bệnh viện Tâm thần Trung ương I đã đưa ra các nhóm giải pháp và nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động bảo vệ SKTT cộng đồng giai đoạn 2022-2025 [22]
* Nhóm nhiệm vụ 1: Tăng cường cung cấp các dịch vụ dự phòng, phát hiện sớm, quản lý điều trị, chăm sóc người mắc RLTT
- Tăng cường truyền thông, cung cấp thông tin, hướng dẫn người dân
- Sàng lọc phát hiện bệnh sớm
- Theo dõi, dự phòng cho người nguy cơ cao và tiền bệnh
- Quản lý điều trị và chăm sóc cho người mắc bệnh
* Nhóm nhiệm vụ 2: phát triển nâng cao năng lực hệ thống cung cấp dịch vụ:
- Kiện toàn mạng lưới cơ sở y tế các tuyến
- Xây dựng hoàn thiện định hướng cho công tác dự phòng, phát hiện sớm
- Bảo đảm trang thiết bị, kỹ thuật, thuốc, vật tư …
- Tập huấn nâng cao năng lực
* Nhóm nhiệm vụ 3: Giám sát, thu thập, quản lý thông tin, nghiên cứu khoa học
MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH 2.1 Khái quát Viện Sức Khoẻ Tâm Thần- Bệnh viện Bạch Mai
Địa điểm: Tòa nhà T4, T5, T6 Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai
Điện thoại: 024.35765344 Fax: 024.35765346 - Email: nimhvn@gmail.com
Cơ cấu tổ chức - nhân sự:
Tổng số cán bộ nhân viên là 106, bao gồm 01 phó giáo sư, 12 tiến sỹ, 09 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 26 thạc sỹ, 04 điều dưỡng chuyên khoa cấp I, 19 cử nhân đại học (chuyên ngành điều dưỡng, tâm lý), 25 điều dưỡng cao đẳng, 01 điều dưỡng trung cấp, 05 hộ lý và 04 nhân viên khác (gồm 02 thư ký y khoa và 02 kỹ thuật viên).
- Viện trưởng -Bí thư Chi bộ- chủ nhiệm bộ môn: PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn
TS.BSCKII.Nguyễn Văn Dũng
TS Trần Thị Hà An
- Chủ tịch Công đoàn: ThS Đặng Thanh Tùng
- Bí thư Đoàn thanh niên: Ths Bùi Văn Lợi
- Điều dưỡng trưởng: ThS Phạm Thị Thu Hiền
Quá trình hình thành và phát triển:
- Năm 1911, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai (tiền thân của Viện Sức khoẻ Tâm thần ngày nay) được thành lập
- Năm 1959, Khoa Tâm thần sát nhập với Khoa Thần kinh thành Khoa Tâm Thần kinh
- Năm 1969, Khoa Tinh Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai được tách ra thành hai khoa: Khoa Tâm thần và Khoa Thần Kinh
Vào ngày 08/8/1991, Viện Sức khoẻ Tâm thần được thành lập theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, kết hợp từ Khoa Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai, Bộ môn Tâm thần - Trường Đại Học Y Hà Nội và Bệnh viện Tâm thần Trung Ương I.
- Năm 2012: Thực hiện chuyên khoa hoá Phân loại cơ sở khám chữa bệnh theo WHO, ngành tâm thần học Việt Nam hướng tới nền Tâm thần học phát triển
Chức năng của đơn vị bao gồm tiếp nhận hành chính, bảo quản và lưu trữ thông tin, quản lý thư viện, tài chính kế toán, trang thiết bị vật tư, cũng như quản lý nhân lực.
* Phòng khám và điều trị ngoại trú (M2)