Microsoft Word LĖ THIÌ£ THANH HUYĖ̕N i BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH LÊ THỊ THANH HUYỀN THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN TÂM THẦN THỰC TỔN TẠI VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN BỆNH VIỆN[.]
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LÊ THỊ THANH HUYỀN
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN TÂM THẦN THỰC TỔN TẠI VIỆN SỨC KHỎE
TÂM THẦN BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - NĂM 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LÊ THỊ THANH HUYỀN
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN TÂM THẦN THỰC TỔN TẠI VIỆN SỨC KHỎE
TÂM THẦN BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2022
Chuyên ngành: Chăm sóc sức khỏe tâm thần BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN THS ĐỖ THỊ THU HIỀN
NAM ĐỊNH - NĂM 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp tôi nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo sau đại học cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Viện sức khỏe Tâm thần, cùng toàn thể các bác sỹ và điều dưỡng tại Viện sức khỏe Tâm thần nơi tôi công tác và làm việc đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến Thạc sỹ Đỗ Thị Thu Hiền Cô đã dành nhiều tâm huyết, trách nhiệm của mình giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu để
em hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất
Tôi xin chân thành cảm ơn những người bệnh, gia đình người bệnh đã thông cảm tạo điều kiện cho tôi được thăm khám tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm túc những lời khuyên dành cho họ
Tôi xin được cảm ơn các bạn trong lớp Chuyên khoa I khóa 9 đã cùng vai sát cánh với tôi để hoàn thành tốt chuyên đề này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là báo cáo của riêng tôi Các kết quả trong chuyên đề là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, tháng 10 năm 2022
HỌC VIÊN
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Khái niệm rối loạn Tâm thần thực tổn 3
1.1.2 Dịch tễ học 4
1.1.3 Nguyên nhân gây Rối loạn tâm thần thực tổn 4
1.1.4 Đặc điểm lâm sàng của Rối loạn tâm thần thực tổn [12] 6
1.1.5 Triệu chứng và các hình thái lâm sàng 8
1.1.6 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần thực tổn 12
1.1.7 Nguyên tắc Điều trị 12
1.1.8 Phòng bệnh 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 13
1.3 Các quy định hiện hành về công tác chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần thực tổn 14
CHƯƠNG 2: MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH 16
2.1 Giới thiệu khái quát Viện sức khỏe tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai 16
2.2 Nghiên cứu một trường hợp cụ thể: 18
2.2.1 Quá trình bệnh lý 18
2.2.2 Khám bệnh 19
2.2.3 Tiền sử: 20
2.2.4 Hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hóa: 21
2.2.5 Chăm sóc 21
2.3 Một số ưu điểm và tồn tại 25
2.3.1 Ưu điểm 25
2.3.2 Tồn tại 25
Trang 6CHƯƠNG 3: BÀN LUẬN 26
3.1 Bàn luận kết quả chăm sóc người bệnh 26
3.2 Nguyên nhân của các tồn tại 27
KẾT LUẬN 28
ĐỀ XUẤT 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn tâm thần thực tổn (organic mental disorders – RLTTTT) là các bệnh tâm thần hay các trạng thái rối loạn tâm thần có liên quan trực tiếp đến tổn thương thực thể ở
tổ chức não do nhiều nguyên nhân khác nhau Đó có thể là các bệnh của não (u não, viêm não, tai biến mạch máu não,…) nhưng phần nhiều là các bệnh ngoài não (nhiễm khuẩn huyết, nhiễm độc, chấn thương sọ não, các bệnh tim mạch các bệnh gan, thận, nội tiết,…) [14] Trong những năm gần đây chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, các bệnh về não ngày càng nhiều Ở nước ta theo kết quả thống kê tại một số địa phương, hội chứng sau chấn động não được ghi nhận như sau:0,64% (Hà Tây), 1% (Vĩnh Phúc),0,32% (Đà Nẵng), 0,9% (Thái Nguyên)[12]
Đi đôi với việc điều trị RLTT cần chú ý đến chăm sóc, dinh dưỡng, nâng cao thể trạng cơ thể bằng cách tập luyện thể thao, tăng cường sức đề kháng của cơ thể nhằm hỗ trợ cho người bệnh chóng hồi phục [8] Chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần thực tổn cần phải tùy thuộc vào từng giai đoạn của người bệnh (giai đoạn cấp tính, giai đoạn thuyên giảm, giai đoạn ổn định), nên người điều dưỡng cần phải theo dõi và chăm sóc người bệnh thật sát sao để nắm được diễn biến bệnh lý của người bệnh, đến một giai đoạn nào đó có thể sa sút và có cuộc sống bản năng
Công tác điều trị, chăm sóc và quản lý đối tượng này tại Viện sức khỏe Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai gặp nhiều khó khăn NB khi vào viện thường là các rối loạn tâm thần thực tổn giai đoạn muộn, nó được biểu hiện bằng nhiều hội chứng và triệu chứng khác nhau Các triệu chứng và hội chứng thường ít gắn bó, không đặc trưng vì nhiều triệu chứng đó cũng có ở các rối loạn tâm thần khác, nhân cách của NB cũng thay đổi
Để chăm sóc người bệnh mắc chứng rối loạn tâm thần, điều dưỡng viên cần nắm
rõ quy luật diễn biến của hội chứng rối loạn tâm thần, đặc điểm riêng, nhu cầu chăm sóc từng giai đoạn và cần xây dựng một kế hoạch chăm sóc chuyên biệt
Tại Viện sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai, công tác chăm sóc sức khoẻ người bệnh rối loạn tâm thần thực tổn đang được Ban Lãnh Đạo, Phòng Điều Dưỡng cùng toàn thể nhân viên trong Viện dần hoàn thiện đầy đủ và tốt hơn nữa, để hướng tới
sự hài lòng của người bệnh, lấy “người bệnh làm trung tâm” Theo thống kê hằng năm của Viện sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai người bệnh có RLTTTT là:
Trang 9190 - 210 NB Nhằm đáp ứng tốt những vấn đề nêu ở trên tôi tiến hành làm chuyên đề:
“Thực trạng chăm sóc NB rối loạn tâm thần thực tổn tại Viện sức khỏe Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai năm 2022” với hai mục tiêu sau:
1 Thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần thực tổn tại Viện sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần thực tổn tại Viện sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai
Trang 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm rối loạn Tâm thần thực tổn
Rối loạn tâm thần thực tổn (TTTT) liên quan trực tiếp đến những tổn thương não, mà nguyên nhân là bệnh của não (u não, viêm não, thoái hóa…) hay những bệnh ngoài não (bệnh nội khoa, nội tiết, nhiễm trùng, nhiễm độc, rối loạn chuyển hóa…) ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ [6]
Thuật ngữ thực tổn nhằm chỉ rối loạn chức năng não liên quan trực tiếp tổn thương tại não Thuật ngữ triệu chứng nhằm chỉ rối loạn chức năng não là thứ phát sau tổn thương thực thể ngoài não Rối loạn tâm thần thực tổn phát sinh và diễn biến phụ thuộc vào bệnh chính, bệnh cơ thể, phụ thuộc vào mức độ tổn thương nặng nhẹ và vị trí tổn thương não cục bộ hay lan tỏa
Những nét cơ bản của rối loạn tâm thần thực tổn, bao gồm: rối loạn chức năng hiểu biết (trí nhớ, trí tuệ), rối loạn chức năng nhận biết (rối loạn ý thức và chú ý) và các hội chứng thuộc về tri giác (ảo giác), tư duy (hoang tưởng), cảm xúc (trầm cảm, hưng cảm lo âu), cũng như rối loạn hành vi và nhân cách [1] Theo S.Burn, R Kappenberg (1994) trầm cảm được phát hiện có liên quan đáng kể đến di chứng chấn thương não [17]
Rối loạn tâm thần thực tổn liên quan đến tất cả các chuyên khoa lâm sàng khác thể hiện mối liên quan không thể chia cắt giữa cơ thể và tâm thần Đòi hỏi các thầy thuốc chuyên khoa tâm thần cần phải có kiến thức vững vàng về bệnh học cơ thể chung, kể cả các thầy thuốc đa khoa cũng cần có những kiến thức cơ bản về tâm thần học để trong thực hành chủ động phát hiện can thiệp sớm toàn diện có hiệu quả Đặc điểm tiến triển hay thoái triển của rối loạn tâm thần thực tổn tùy thuộc vào nhân tố nằm bên dưới (bệnh cơ thể, tổn thương não) [1]
Thực tế còn cho thấy có những trường hợp Rối loạn tâm thần thực tổn bị bỏ sót trong quá trình theo dõi, chuẩn đoán và điều trị ở các cơ sở tâm thần không phải do thầy thuốc tâm thần không đủ kiến thức y học nói chung mà do thăm khám không tỷ
mỷ hoặc “ám ảnh phân liệt hóa” nhiều loại bệnh tâm thần trong đó có Rối loạn tâm thần thực tổn Mặt khác trong thực hành lâm sàng người ta cũng nhận thấy rằng không
Trang 11phải bất cứ rối loạn tâm thần nào trên người bệnh bị bệnh cơ thể đều là Rối loạn tâm
thần thực tổn Nhiều trường hợp bệnh cơ thể chỉ là một trong những yếu tố thúc đẩy
quá trình rối loạn tâm thần nội sinh, vốn tiềm tàng nay được bộc lộ rõ
Tiến triển của Rối loạn tâm thần thực tổn cũng như các bệnh cơ thể khác là cấp
tính trong mãn tính tùy thuộc khả năng phục hồi của các triệu chứng rối loạn tâm thần,
vào phương thức khởi bệnh từ từ hay đột ngột và vào thời gian kéo dài của bệnh
Khái niệm cấp tính hay mạn tính cũng rất tương đối bởi vì chúng có thể chuyển từ
loại này sang loại kia trong quá trình tiến triển của bệnh chính 1.1.2 Dịch tễ học
Một số nghiên cứu chuyên biệt cho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm trong bệnh
Alzheimer 15-40%, trong đột quỵ 50%, trong các bệnh lý cơ thể 20-80% (Phạm Khuê,
2000) Nghiên cứu của Almeida OP và Xiao.J (2007) tỷ lệ sa sút trí tuệ sau 3 tháng
nhồi máu não là 13,6-31,8% Sau 5 năm 32% theo dõi trên 1129 người bệnh tai biến
mạch máu não sau 10 năm, cho thấy mất trí 12%, sảng 7,6%, loạn thần 6,7%, trầm
cảm 5,5% Các rối loạn tâm thần phần lớn, xuất hiện trong vòng 6 tháng sau tai biến
mạch máu não Ngoài ra, các rối loạn tâm thần cũng thường gặp trong các bệnh lý
viêm não, u não, chấn thương não [13]
1.1.3 Nguyên nhân gây Rối loạn tâm thần thực tổn
Có nhiều nguyên nhân gây ra Rối loạn tâm thần thực tổn Tùy thuộc vào
phương thức tiến triển, vào biểu hiện lâm sàng mà người ta thường chú ý đến các
nguyên nhân sau đây [13]:
* Các nguyên nhân tổn thương ở não
- Chấn thương sọ não
- U não, áp xe não
- Viêm não, viêm màng não
- Giang mai não
- Thoái hóa não như các bệnh (Alzheimer, Pick, bệnh Wilson, Creutzfedt- Jacob
)
- Ngộ độc Cabon Monoxide, ngộ độc Chì, Thủy Ngân
Trang 12- Nhiễm độc rượu mãn tính (Nghiện rượu mãn tính, sảng rượu, ảo giác, hoang tưởng do rượu, Korsakoff do rượu )
- Người nghiện ma túy
- Viêm phổi do siêu vi trùng
- Viêm, sơ gan
- Bệnh lao nặng
- Nhiễm trùng hậu sản
- Nhiễm HIV/AIDS
* Các bệnh chuyển hóa, nội tiết
- Bệnh Basedow (Cường giáp)
- Bệnh đường tiêu hóa: Loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng mãn tính
- Bệnh gan: Xơ gan thoái hóa
- Bệnh thận: Suy thận, tăng Ure huyết
- Bệnh tim: Suy tim, nhồi máu cơ tim
- Bệnh máu: Thiếu máu nặng
- Bệnh suy dinh dưỡng, thiếu vitamin PP, B12
Trang 131.1.4 Đặc điểm lâm sàng của Rối loạn tâm thần thực tổn [12]
Tùy thuộc vào mức độ tổn thương và các giai đoạn phát triển của bệnh chính (tại não hoặc ngoài não), biểu hiện lâm sàng thường chia làm 2 loại cấp và muộn (hoặc kéo dài)
1.1.4.1 Rối loạn tâm thần thực tổn cấp
Rối loạn tâm thần thực tổn cấp thường được biểu hiện bằng các hội chứng tâm thần sau:
* Các hội chứng rối loạn ý thức
Rối loạn tâm thần thực tổn cấp thường diễn ra với tình trạng rối loạn ý thức u
ám, mê sảng, mê mộng, lú lẫn, hoàng hôn hoặc bán hôn mê Người bệnh rối loạn các năng lực định hướng, hoạt động tâm thần bị chậm lại, ý thức bị trống rỗng, tri giác sự vật và hiện tượng xung quanh không rõ ràng, khó đầy đủ
Nét mặt thờ ơ, bàng quan, lờ đờ Trong những trường hợp nặng, người bệnh mất khả năng phản ứng với môi trường xung quanh, giảm hoặc mất các phản xạ thần kinh, xuất hiện nhiều rối loạn thần kinh thực vật nội tạng trầm trọng
* Kích động giống động kinh
Thường trong trạng thái mù mờ ý thức người bệnh có kích động, giống động kinh Kích động mãnh liệt mang tính chất xung động, vùng bỏ chạy chốn người truy hại mình, kèm theo người bệnh sợ hãi, la hét, vẻ mặt hoảng hốt lo âu
Trạng thái này diễn ra trong một thời gian ngắn, rồi đột nhiên chấm dứt
* Rối loạn trí nhớ (hội chứng Korsakop nhất thời)
Rối loạn trí nhớ trong rối loạn tâm thần thực tổn, thường xuất hiện, sau chấn thương sọ não biểu hiện rối loạn trí nhớ về những sự việc mới xảy ra (rối loạn trí nhớ gần) do ghi nhận kém và dẫn đến mất định hướng do quên Thay vào chỗ quên có thể
có bịa chuyện Rối loạn trí nhớ chỉ xuất hiện nhất thời và có khả năng hồi phục được
* Suy giảm nhận thức
Người bệnh khó tập trung chú ý, định hướng xung quanh không đầy đủ dẫn đến khó khăn để lĩnh hội kiến thức mới Sự suy yếu về tư duy và năng lực phán đoán suy luận giảm sút nên khả năng tính toán học tập sút kém
Trang 14Trong một số trường hợp người bệnh có sự suy thoái về tính kiềm chế, cảm xúc, không ổn định hoặc kích thích giận dữ hoặc bàng quan vô cảm Người bệnh không thể giải quyết những công việc trong cuộc sống hằng ngày của cá nhân
1.1.4.2 Rối loạn tâm thần thực tổn muộn (hoặc kéo dài)
Khi có sự kết hợp với các hoàn cảnh bất lợi, một số bệnh cơ thể có thể trở nên mạn tính hoặc tùy theo mức độ, hội chứng rối loạn ý thức được thay thế bằng các hội chứng quá độ diễn biến không có rối loạn ý thức Trong những trường hợp như vậy gọi
là rối loạn tâm thần thực tổn muộn hoặc kéo dài Biểu hiện lâm sàng bằng các triệu chứng, hội chứng như ảo giác hoang tưởng, trầm cảm hoang tưởng, hưng cảm, lo âu và trong trạng thái cuối có hội chứng tâm thần thực tổn với sự biến đổi nhân cách đáng
kể
* Hội chứng ảo giác – hoang tưởng
Trong rối loạn tâm thần thực tổn kéo dài thường gặp các hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng liên hệ hoặc bị hại, kèm theo ảo giác và ảo tưởng lời nói Trong một
số trường hợp, trạng thái này có thể phát triển thành hiện tượng tâm thần tự động, hoặc
có thể mất đi khi thay đổi hoàn cảnh Một số trường hợp khác có thể chuyển thành trạng thái vô cảm
* Hội chứng trầm cảm
Hội chứng trầm cảm trong Rối loạn tâm thần thực tổn kéo dài mang tính chất không điển hình Người bệnh trầm cảm kèm theo kích thích vật vã, lo âu, rối bời lặp đi lặp lại một vài lời, vài câu
Khi bệnh cơ bản nặng lên, trạng thái trầm cảm chuyển thành trầm cảm hoang tưởng
* Hội chứng hưng cảm
Người bệnh vui vẻ, tăng hưng phấn vận động kèm theo trạng thái kích thích, suy nhược Trong một số trường hợp, khi hưng cảm phát triển với đỉnh cao có thể chuyển sang hưng cảm lú lẫn
* Hội chứng tâm thần thực thể
Hội chứng này được hình thành ở giai đoạn cuối của Rối loạn tâm thần thực tổn, sự xuất hiện từ từ và ngày một nặng Đây là trạng thái cuối cùng, có tác giả gọi là
Trang 15hội chứng não tổn thương vĩnh viễn – biểu hiện sự suy yếu chung về mặt tâm thần: trí nhớ rối loạn, hoạt động tư duy và nhận thức suy yếu, cảm xúc không ổn định
- Trí nhớ khả năng ghi nhớ và chú ý giảm sút, đãng trí, hồi ức, kém các sự kiện quá khứ gần, các biểu hiện cũ bị mất dần
- Nhận thức suy yếu: Người bệnh rối loạn các năng lực định hướng, tư duy nghèo nàn, ngây độn, khó lĩnh hội, giảm khả năng phán đoán và suy luận, liên tưởng chậm
- Cảm xúc không ổn định và dễ thay đổi, nôn nóng, giận dữ, mất hứng thú với những công việc trước đây, ăn mặc trở nên cẩu thả, không chú ý đến vệ sinh thân thể Cuối cùng khi hội chứng tâm thần thực tổn nặng hơn người bệnh biến đổi nhân cách trầm trọng và trở nên sa sút tâm thần [14]
1.1.5 Triệu chứng và các hình thái lâm sàng
1.1.5.1 Triệu chứng lâm sàng
Sự đa dạng về mức độ tiến triển các triệu chứng lâm sàng Rối loạn tâm thần thực tổn phụ thuộc không chỉ vào vị trí, mức độ tổn thương của não nặng hay nhẹ, lan tỏa hay khu trú, mà còn cả vào thể, các yêu tố tác động của môi trường xung quanh đến từng cá thể trước khi bị bệnh
Bệnh cảnh lâm sàng của các trạng thái rối loạn tâm thần trong tổn thương thực
tế não phụ thuộc không chỉ vào sự tiến triển của bệnh chính, vào mức độ phá hủy của
tổ chức thần kinh não bộ mà còn vào nhiều yếu tố tác động tâm lý, môi trường khác nữa Sức đề kháng của cơ thể yếu, môi trường tâm lý không thuận lợi, nhân cách của người bệnh không bền vững, suy đồi, yếu ớt… Đều là các nhân tố thúc đẩy quá trình bệnh lý, làm cho các triệu chứng lâm sàng chủ yếu có thể bị che lấp hoặc bị cường điệu quá mức
Một số bệnh tâm thần và cơ thể khác vốn tiềm tàng, nay được dịp thuận lợi bùng phát, làm cho bệnh cảnh lâm sàng phức tạp hơn, gây nhiều trở ngại cho công tác theo dõi chuẩn đoán và điều trị
Trên cơ sở tiêu chuẩn phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) 1992 về các rối loạn tâm thần thực tổn thì Rối loạn tâm thần thực tổn do tổn thương não có những hình thái lâm sàng sau [17]:
Trang 161.1.5.2 Các rối loạn tâm thần khác do tổn thương não và rối loạn chức năng não và bệnh cơ thể:
* Ảo giác thực tổn (F06.0)
Trạng thái ảo giác dai dẳng hoặc tái diễn, thường là ảo thanh hoặc ảo thị, xảy ra trong trạng thái ý thức sáng sủa mà người bệnh có thể hay không thừa nhận Hoang tưởng có thể hình thành từ các ảo giác, nhưng thường sự thấu hiểu vẫn được duy trì [17]
* Căng trương lực thực tổn (F06.1)
Trạng thái sững sờ hoặc kích động tâm thần vận động kết hợp với các triệu chứng căng trương lực, các cực của Rối loạn tâm thần thực tổn vận động có thể xen kẽ nhau [17]
* Rối loạn hoang tưởng thực tổn (F06.2)
Nổi bật là các hoang tưởng dai dẳng hoặc tái diễn chiếm ưu thế trong bệnh cảnh lâm sàng; xuất hiện với sự liên quan đến bệnh thực tổn não, bệnh cơ thể [17]
* Các rối loạn khí sắc thực tổn (F06.3)
Nổi bật là rối loạn cảm xúc (trầm cảm, hưng cảm, lưỡng cực, hỗn hợp) phải xuất hiện với sự liên quan đến bệnh thực tổn não, bệnh cơ thể
Phần này được mã hóa với các biểu hiện lâm sàng sau [17]:
+ F06.30: Rối loạn hưng cảm thực tổn
+ F06.31: Rối loạn lưỡng cực thực tổn
+ F06.32: Rối loạn trầm cảm thực tổn
+ F06.33: Rối loạn cảm xúc hỗn hợp thực tổn
* Rối loạn lo âu thực tổn (F06.4)
Nét chính là các cơn tái diễn lo âu trầm trọng (hoảng sợ) hoặc lo âu lan tỏa và dai dẳng nhưng không khu trú vào hoặc hơn nữa không trội lên mạnh mẽ trong bất kỳ hoàn cảnh môi trường đặc biệt nào (nghĩa là lo âu tự do – lơ lửng) Như trong các rối loạn lo âu khác, các triệu chứng ưu thế rất thay đổi, nhưng phổ biến bệnh nhân, phàn nàn luôn cảm thấy lo lắng, run rẩy Căng thẳng cơ bắp, ra mồ hôi, đầu óc trống rỗng, đánh trống ngực, chóng mặt, khó chịu vùng thượng vị Sợ bản thân hoặc người thân thích sẽ sớm mắc bệnh hoặc bị tai nạn thường biểu hiện đồng thời với các loại lo âu và
Trang 17linh tinh điềm gở Nhưng những đặc điểm trên phải là hậu quả của một bệnh thực tổn
có khả năng gây loạn chức năng não [17]
* Rối loạn phân ly thực tổn (F06.5)
Nổi bật sự rối loạn chuyển di xuất hiện với sự liên quan đến bệnh thực tổn não, bệnh cơ thể [17]
* Suy nhược thực tổn (F06.6)
Rối loạn được đặc trưng bởi cảm xúc không kiềm chế hoặc cảm xúc không ổn định rõ rệt và dai dẳng, sự mệt mỏi và một số cảm giác cơ thể khó chịu và các chứng đau được coi là do các bệnh lý thực tổn Rối loạn này thường được cho là xuất hiện có liên quan với bệnh lý mạch máu não hoặc cao huyết áp hơn là do các nguyên nhân khác [17]
* Rối loạn nhận thức nhẹ thực tổn (F06.7)
Rối loạn này có thể xảy ra trước, đồng thời hoặc tiếp theo nhiều bệnh lý nhiễm trùng và bệnh cơ thể, cả bệnh não lẫn bệnh hệ thống Biểu hiện thần kinh trực tiếp của rối loạn nào không nhất thiết phải có, tuy nhiên có thể gây đau buồn và gây trở ngại cho các hoạt động thông thường Ranh giới của loại rối loạn này còn phải xác định một cách chặt chẽ, khi bệnh cơ thể kết hợp đã hồi phục, rối loạn nhận thức nhẹ không kéo dài thêm hơn vài tuần [17]
* Các rối loạn tâm thần biệt định khác do tổn thương và rối loạn chức năng não và bệnh cơ thể
* Rối loạn tâm thần không biệt định do tổn thương não và rối loạn chức năng não và bệnh cơ thể
1.1.5.3 Các rối loạn hành vi và nhân cách do bệnh lý não, tổn thương não và rối loạn chức năng não
Biến đổi nhân cách và hành vi có thể là một rối loạn di chứng hoặc đồng thời xảy ra với bệnh não, tổn thương hoặc rối loạn chức năng não Trong một số trường hợp, sự khác nhau trong biểu hiện của các hội chứng nhân cách và hành vi di chứng hoặc đồng thời ấy có thể gợi ý về một thể loại hoặc khu trú của bệnh lý trong não
* Rối loạn nhân cách thực tổn
Trang 18Rối loạn này được đặc trưng bởi các biến đổi đáng kể các mô hình, hành vi quen thuộc đối với người bệnh trước khi bị bệnh Sự thể hiện của cảm xúc, nhu cầu và xung đột đặc biệt bị tổn thương
Các chức năng nhận thức có thể bị thiếu sót phần lớn hoặc chỉ riêng trong lĩnh vực xây dựng kế hoạch cho các hoạt động của mình và không tiên đoán được những hậu quả cho cá nhân và xã hội [17]
* Hội chứng sau viêm não
Hội chứng bao gồm sự biến đổi hành vi di chứng sau hồi phục khỏi bệnh viêm não do vi rút hoặc do vi khuẩn Các triệu chứng đều không đặc hiệu và thay đổi tùy theo từng người, tùy tác nhân nhiễm khuẩn và nhất là tùy độ tuổi của người bệnh ở thời điểm, nhiễm khuẩn Sự khác biệt chính giữa rối loạn này và rối loạn nhân cách thực tổn là nó thường có khả năng hồi phục [17]
* Hội chứng sau chấn động não
Hội chứng xảy ra sau chấn thương ở đầu (mức độ trầm trọng đủ gây trạng thái mất ý thức) và một số triệu chứng tản mạn như đau đầu, choáng váng, mệt mỏi dễ cáu kỉnh, khó tập trung tư tưởng và khó hoạt động trí não, suy giảm trí nhớ mất ngủ, và giảm sự chịu đựng và stress, kích thích cảm xúc hoặc rượu Những triệu chứng này có thể kèm thêm các cảm xúc trầm cảm hoặc lo âu hậu quả của sự mất tự tin, và sự tổn thương não vĩnh viễn [17]
* Các rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn khác do bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não
Bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não có thể gây ra một loạt các rối loạn về nhận thức, cảm xúc, nhân cách và hành vi nhưng không phải tất cả các bệnh lý ấy đều có thể xếp theo các mục trên Tuy nhiên vì các quy ước về đặc điểm bệnh học của các hội chứng có thể xếp trong phần này là không chắc chắn, chúng phải được ghi mã khác [17]
* Rối loạn hành vi và nhân cách thực tổn
Không biệt định do bệnh não, tổn thương não, hoặc rối loạn chức năng não [17]
Trang 191.1.6 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần thực tổn
Có bằng chứng khách quan (từ khám cơ thể, khám thần kinh và các xét nghiệm) hoặc có tiền sử bệnh não, tổn thương hoặc rối loạn chức năng não hoặc có tiền sử bệnh
hệ thống được biết là gây ra các rối loạn chức năng não, bao gồm các rối loạn hormone (không phải là các rối loạn liên quan đến rượu hoặc các chất tác động tâm thần) và các tác dụng của thuốc không gây tác động tâm thần [13]
Có một sự liên quan được thừa nhận giữa sự tiến triển, sự trầm trọng đáng kể của bệnh
lý tiềm ẩn, các thương tổn, rối loạn chức năng và rối loạn tâm thần, các triệu chứng của nó có thể có sự khởi phát tức thời hoặc bị trì hoãn
Có sự hồi phục hoặc cải thiện đáng kể của rối loạn tâm thần sau khi nguyên nhân gây bệnh tiềm ẩn được loại bỏ hoặc cải thiện
Không có đủ bằng chứng của một nguyên nhân khác gây rối loạn tâm thần
Tiêu chuẩn ICD 10 (1992) [17]: F06 - F07
- F06.4: Rối loạn lo âu thực tổn
- F06.5: Rối loạn phân ly thực tổn
- F06.6: Suy nhược thực tổn
- F06.7: Rối loạn nhận thức nhẹ thực tổn
*F07:
- F07.0: Rối loạn nhân cách thực tổn
- F07.1: Hội chứng sau viêm não
- F07.2: Hội chứng sau chấn động não
1.1.7 Nguyên tắc Điều trị
Điều trị rối loạn tâm thần thực tổn chủ yếu là điều trị nguyên nhân Song song với việc điều trị bệnh chính cần điều trị các triệu chứng tâm thần và tăng cường sức đề kháng của cơ thể người bệnh Cả ba mặt này đều có liên quan chặt chẽ và có tác dụng
Trang 20hỗ trợ lẫn nhau giúp cho người bệnh chóng hồi phục Cần phải kiểm tra và theo dõi chặt chẽ các tác dụng phụ của thuốc an thần kinh nhất là khi phải dùng liều cao [6]
NB rối loạn tâm thần thực tổn khả năng dung nạp thuốc kém nên khi sử dụng các thuốc hướng thần để điều trị cần lưu ý:
+ Chọn thuốc ít gây tác dụng phụ và biến chứng về cơ thể đặc biệt chú ý đến hội chứng tim mạch gan thận…
+ Liều lượng phải tăng dần từ thấp đến liều có hiệu quả phù hợp với từng cá thể
Vì NB loại thần thực tổn khả năng dung nạp thuốc kém hơn một cách đáng kể
so với các bệnh loạn thần nội sinh khác
+ Cần phải theo dõi thường xuyên chặt chẽ về cơ thể, thể dịch theo dõi tác dụng phụ, tuân thủ chỉ định, chống chỉ định
1.1.8 Phòng bệnh
Phòng bệnh loạn thần thực tổn chủ yếu là phòng các bệnh cơ thể vì vậy chủ yếu
là phải sinh hoạt điều độ, tuân thủ phép vệ sinh trong lao động, dinh dưỡng, luyện tập thể dục thể thao, cải thiện môi trường sống, loại trừ các sang chấn tâm lý, rèn luyện nhân cách, tăng cường sức đề kháng tâm thần Nếu bị bệnh cơ thể phải đi khám và điều trị ngay, nếu có các rối loạn tâm thần thì cần được khám chuyên khoa để điều trị kịp thời
1.2 Cơ sở thực tiễn
Từ năm 1973, Kielholz mô tả một hình thái trầm cảm phát sinh sau một bệnh cơ thể mạn tính, ông gọi là trầm cảm thực tổn Trầm cảm thứ phát sau một bệnh cơ thể chiếm 20-80% các trường hợp trầm cảm trên lâm sàng Trầm cảm do nguyên nhân thực tổn phần lớn gặp ở các bệnh cơ thể mạn tính Tỷ lệ trầm cảm ở người bệnh Alzheimer là 15-40%, khoảng 50% người bệnh đột quỵ cấp có dấu hiệu trầm cảm Năm 1992 WHO đưa ra Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10, bao gồm các rối loạn tâm thần trong đó có rối loạn trầm cảm xuất hiện thứ phát sau bệnh lý của não hoặc bệnh cơ thể, gọi là “Trầm cảm thực tổn"[17]