Khái niệm về rối loạn sử dụng rượu, lạm dụng rượu và nghiện rượu 1.1 Rối loạn Sử dụng Rượualcohol use disorder- AUD Theo DSM-V, rối loạn sử dụng rượu là “một dạng có vấn đề của việc sử d
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TỪ HUYỀN THOẠI
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN TÂM THẦN
DO RƯỢU TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1 NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TỪ HUYỀN THOẠI
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH RỐI LOẠN TÂM THẦN
DO RƯỢU TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1 NĂM 2022
Chuyên ngành: Điều dưỡng tâm thần
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN ThS Lê Thị Vân
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
A- CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1 Khái niệm về rối loạn sử dụng rượu, lạm dụng rượu và nghiện rượu 3
1.1 Rối loạn Sử dụng Rượu(alcohol use disorder- AUD) 3
1.2.Lạm dụng rượu 4
3 Biểu hiện lâm sàng của nghiện rượu 9
4.Hội chứng cai rượu 12
5 Loạn tâm thần do rượu 15
7 Điều trị nghiện rượu 18
B- CƠ SỞ THỰC TIỄN 20
Chương 2 23
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 23
2.1 Vài nét về khoa bán cấp tính nam bệnh viện tâm thần trung ương I 23
2.2.Thực trạng chăm sóc bệnh nhân rối loạn tâm thần do rượu tại khoa bán cấp tính nam Bệnh viện tâm thần trung ương 1 25
Bảng 2.1 Số liệu người bệnh điều trị rối loạn tâm thần liên quan đến rượu 9 tháng đầu năm 2022 25
Bảng 2.4: Đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhân rối loạn tâm thần do rượu trong nghiên cứu 27
Chương 3 BÀN LUẬN 32
3.1 Thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần do rượu 32
Trang 43.2 Một số trực trạng còn tồn tại trong chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần
do rượu , cai rượu 35
3.3 Nguyên nhân của các tồn tại 37
3.3.1 Đối với Bệnh viện Tâm thần Trung ương1 37
3.3.2 Đối với điều dưỡng 37
3.3.3 Đối với gia đình 37
Chương 4 40
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 40
4.1 Đối với nhân viên y tế tại khoa : 40
4.2 Đối với gia đình người bệnh 41
4.3 Đối với mạng lưới y tế cấp cơ sở 41
4.4 Đối với bệnh viện Tâm Thần trung ương I 42
KẾT LUẬN 43
PHỤ LỤC 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa I Tôi xin bày
tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
Đảng ủy,ban giám hiệu phòng đào tạo sau đại học Cùng toàn thể các thầy cô giáo bộ môn tâm thần kinh trường Đại học điều dưỡng Nam Định đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập vừa qua
Giáo viên hướng dẫn: THS LÊ THỊ VÂN trường đại học điều dưỡng Nam Định đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi rất tận tình trong suốt thời gian tôi học tập và hoàn thành chuyên đề này
Ban giám đốc, các khoa, phòng của bệnh viên Tâm thần trung ương I
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi công tác học tập tại bệnh viện
Các bạn trong lớp chuyên khoa I - khóa 9 đã cùng kề vai sát cánh với tôi hoàn thành chuyên đề này
Những người bệnh - gia đình người bệnh đã cảm thông và tạo điều kiện cho tôi thăm khám -tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm túc những lời khuyên dành cho họ
Xin chân thành cảm ơn mọi người
Hà Nội Ngày….tháng ….năm 2022
Học viên
TỪ HUYỀN THOẠI
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DSM: Diagnostig and stantical Manual of Mental Disorder
(sách hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần) ICD: The International Classification of Diseases and Related Health (Bảng phân loại bệnh quốc tế )
NB: Người bệnh
AUD: Alcohol use disorder
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu người bệnh điều trị rối loạn tâm thần liên quan
đến rượu 9 tháng đầu năm 2022
Bảng 2.5 Thực trạng chẩn đoán điều dưỡng đối với bệnh nhân rối
loạn tâm thần do rượu
38
Bảng 2.6 Thực trạng chăm sóc điều dưỡng đối với bệnh nhân rối
loạn tâm thần do rượu
40
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Hoang tưởng, ảo giác là triệu chứng hay gặp ở bệnh nhân rối loạn
tâm thần do rượu
22
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đã từ lâu rượu được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới, tỉ lệ sử dụng rượu,
nghiện rượu trong cộng đồng ngày càng gia tăng Hiện nay nghiện rượu đang trở thành một vấn nạn trên thế giới Các rối loạn liên quan đến rượu thực sự là mối quan tâm của
Tổ chức Y tế thế giới Những hậu quả nặng nề do rượu gây ra cũng là vấn đề nghành y
tế quan tâm Nó ảnh hưởng nặng nề trực tiếp đến sức khỏe người nghiện rượu , kinh tế, gia đình, trật tự xã hội
Hiện nay, rượu được biết đến như một vấn đề nan giải trong xã hội hiện đại Nhiều người vẫn lầm tưởng rượu là một chất kích thích Nhưng trên thực tế nó là chất
ức chế thần kinh trung ương, ảnh hưởng mạnh đến tâm tính s3ự phán đoán, cử chỉ, tính tập chung và ý thức của người sử dụng Với số lượng vừa phải rượu làm cho người uống cảm giác khoan khoái dễ chịu vui vẻ, giải khuây, giúp quên đi những khó khăn nhọc nhằn trong cuộc sống Nhưng nếu lạm dụng rượu: uống rượu lượng nhiều và đều đặn mỗi ngày trong thời gian dài sẽ dẫn đến chứng nghiện rượu Nó sẽ ăn mòn sức khỏe và nhân cách, gây nhiều tác hại nặng nề, có thể làm băng hoại đạo đức xã hội và
đổ vỡ hạnh phúc gia đình
Số người sử dụng rượu trên thế giới có xu hướng ngày càng tăng, tuổi bắt đầu uống ngày trẻ, bệnh lý do rượu ngày càng trầm trọng.Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới(WHO -2001) có khoảng 2 tỉ người có sử dụng rượu Trong đó có khoảng 140 triệu người nghiện rượu (chiếm 2,4% dân số ) Nhiều bệnh viện tâm thần ở các nước phát triển đã phải dành 30% giường nội trú cho các bệnh lý do rượu
Theo ông Trần Quốc Bảo – Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế, so sánh giữa năm 2010 – 2015 đã thấy lượng người sử dụng bia rượu ở mức độ có hại tăng mạnh Tỷ lệ nam giới dung bia rượu ở mức độ có hại năm 2015 là 40% thì đến năm 2020 tỷ lệ này trên 60%
Theo thống kê của Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương I Trong 6 tháng đầu năm
2020 số người bệnh phải nhập viện điều trị liên quan đến rượu lên đến 12-16%/ tổng số người bệnh điều trị nội trú của bệnh viện
Đi kèm với số người bệnh phải nằm điều trị ngày càng tăng thì công tác chăm sóc cho người bệnh cũng phải được quan tâm đúng mực để tăng cường hiệu quả của điều trị Để bảo đảm cho việc chăm sóc người bệnh cai rượu được tốt hơn và nhằm hạn chế tỉ lệ tử vong góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế xã hội Do vậy tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần
do rượu tại khoa bán cấp tính nam Bệnh Viện Tâm Thần TWI năm 2022 ” với 2 mục tiêu:
1, Mô tả Thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần do rượu tại khoa bán cấp tính nam Bệnh Viện Tâm Thần TWI năm 2022
Trang 102, Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh rối loạn thần
do rượu tại khoa bán cấp tính nam Bệnh Viện Tâm Thần TWI
Trang 11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN A- CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm về rối loạn sử dụng rượu, lạm dụng rượu và nghiện rượu
1.1 Rối loạn Sử dụng Rượu(alcohol use disorder- AUD)
Theo DSM-V, rối loạn sử dụng rượu là “một dạng có vấn đề của việc sử dụng rượu dẫn đến suy giảm hoặc đau khổ nghiêm trọng về mặt lâm sàng, được biểu hiện bằng ít nhất hai trong số [tiêu chí] sau đây, xảy ra trong khoảng thời gian 12 tháng.” Nói cách khác, nếu một người gặp phải bất kỳ hai triệu chứng nào từ các tiêu chí / bảng câu hỏi sau đây trong năm qua, họ có thể được chẩn đoán là bị rối loạn sử dụng rượu(alcohol use disorder- AUD):
1.Bệnh nhân thường uống với lượng lớn hơn hoặc trong một thời gian dài hơn dự định [Bạn có uống nhiều hơn mức bạn muốn không?]
2.Có mong muốn dai dẳng hoặc nỗ lực nhưng không thành công trong việc cắt giảm hoặc kiểm soát việc sử dụng rượu [Bạn muốn dừng uống rượu, nhưng không thể?]
3.Phần lớn thời gian được dành cho các hoạt động cần thiết để giải rượu, sử dụng rượu hoặc phục hồi sau các tác động của nó [Uống rượu có đang chiếm lấy cuộc sống của bạn không?]
4.Thèm, hoặc ham muốn mạnh mẽ hoặc thôi thúc sử dụng rượu [Nếu bạn không thể uống, bạn có đang nghĩ đến việc uống rượu không?]
5.Sử dụng rượu liên tục dẫn đến không thể hoàn thành các nghĩa vụ chính ở cơ quan, trường học hoặc gia đình [Việc uống rượu của bạn có cản trở các hoạt động hàng ngày không?]
6.Tiếp tục sử dụng rượu mặc dù có các vấn đề xã hội hoặc làm trầm trọng các mối quan hệ, diễn ra dai dẳng hoặc tái diễn do tác động của rượu gây ra [Uống rượu
có cản trở các mối quan hệ của bạn không?]
7.Các hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc giải trí quan trọng bị từ bỏ hoặc giảm
do sử dụng rượu [Mọi thứ bị ngưng trệ vì rượu?]
8.Sử dụng rượu nhiều lần trong các tình huống nguy hiểm về thể chất [Bạn có uống rượu trong môi trường nguy hiểm hay làm những việc mạo hiểm trong khi uống rượu?]
Trang 129.Việc sử dụng rượu vẫn được tiếp tục mặc dù đã biết về việc bạn có vấn đề thể chất hoặc tâm lý dai dẳng hoặc tái phát hoặc trầm trọng thêm có khả năng là do rượu gây ra [Bạn biết uống rượu không tốt cho bạn, nhưng bạn vẫn làm điều đó?]
10 Sự dung nạp, được định nghĩa bởi một trong hai điều sau: cần lượng rượu tăng lên rõ rệt để đạt được trạng thái say hoặc hiệu quả mong muốn, hoặc tác dụng giảm đi rõ rệt khi tiếp tục sử dụng cùng một lượng rượu [Bạn có cần uống nhiều hơn trước đây không?]
11 Khi bỏ rượu, bệnh nhân xuất hiện một trong những điều sau: hội chứng cai rượu đặc trưng, hoặc uống rượu (hoặc một chất có liên quan chặt chẽ, chẳng hạn như benzodiazepine) để làm giảm hoặc tránh các triệu chứng cai rượu [Bạn có cảm thấy các vấn đề đó khi bạn ngừng uống rượu không?]
DSM-5 phân loại thêm các AUD theo mức độ nghiêm trọng, được xác định bằng cách đáp ứng bao nhiêu trong số mười một tiêu chí chẩn đoán
Mức độ nhẹ - được định nghĩa là sự hiện diện của 2-3 tiêu chí
Mức độ trung bình - được định nghĩa là sự hiện diện của 4-5 tiêu chí
Mức độ nghiêm trọng - được định nghĩa là sự hiện diện của 6 tiêu chí trở lên
Để dễ dàng trong việc chẩn đoán AUD, hiện nay, nhiều bộ câu hỏi đã được thiết kế, tạo thuận tiện cho nhân viên y tế Bài test Nhận dạng Rối loạn Sử dụng Rượu (AUDIT) gồm 10 mục, là một công cụ sàng lọc do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phát triển để đánh giá mức tiêu thụ rượu, hành vi uống rượu và các vấn đề liên quan đến rượu Bộ câu hỏi này bao gồm cả phiên bản do bác sĩ lâm sàng quản lý (trang 1) và bản tự báo cáo phiên bản AUDIT (trang 2) Bệnh nhân nên được khuyến khích để trả lời các câu hỏi Trong đó có cả một biểu đồ minh họa số lượng đồ uống tiêu chuẩn gần đúng trong các loại rượu khác nhau Từ 8 điểm trở lên được coi là có sử dụng rượu nguy hiểm hoặc có hại AUDIT đã được xác thực đa giới tính và trong một loạt các nhóm chủng tộc / dân tộc và được khuyến khích sử dụng trong các cơ sở chăm sóc ban đầu Bộ câu hỏi được trình bày trong phụ lục 1 của chuyên đề này
1.2.Lạm dụng rượu
1.2.1.Khái niệm
Uống rượu là một tập quán của con người trong giao tiếp cộng đồng đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu trên thế giới, có tính xã hội rộng rãi được ghi nhận sâu sắc trong nhiều nền văn hóa của nhiều nền dân tộc Tuy nhiên rượu là một chất tác động tâm thần, uống rượu ở mức độ vừa phải đem lại cho người uống cảm giác sảng khoái vui vẻ, hoạt bát trong giao tiếp…Nhưng uống ở những liều lớn hơn người uống dễ lâm vào trạng thái say rượu không còn làm chủ được bản thân, thậm chí có thể hôn mê, ngộ
Trang 13độc cấp do rượu gây hại cho sức khỏe bản thân và được coi là lạm dụng rượu Lạm dụng rượu là một khái niệm đôi khi khó xác định ranh giới giữa việc sử dụng rượu thông thường và sử dụng gây hại dẫn đến phụ thuộc rượu, nghiện rượu[3]
1.2.2.Tiêu chuẩn lạm dụng rượu theo DSM- IV(1994 )
Theo hội tâm thần học hoa kỳ trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, thống kê (DMS-IV,1994) tiêu chuẩn lạm dụng rượu ghi nhận như sau: [3]
-Hình thức sử dụng rượu không tương thích gây ra một sự biến đổi về chức năng, hoặc một sự chịu đựng có ý nghĩa lâm sàng, đặc trưng bằng sự có mặt của ít nhất một trong những biểu hiện sau trong vòng một năm
+ Sử dụng nhắc lại rượu dẫn đến làm mất khả năng thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu trong công việc, ở nhà hoặc ở trường
+Sử dụng nhắc lại rượu trong những tình huống gây hại về thể chất
+Lập lại những vấn đề về tư pháp liên quan đến việc sử dụng rượu (ví dụ bị bắt giữ về những hành vi không bình thường do uống rượu)
+ Sử dụng rượu mặc dù biết có những vấn đề dai dẳng hoặc tái diễn giữa các cá nhân hoặc xã hội xảy ra hoặc kịch phát lên do những tác dụng của rượu
+Không có biểu hiện của sự phụ thuộc rượu
1.3.Nghiện rượu
1.3.1 Một số khái niệm về nghiện rượu
Năm 1849, Huss M (Thụy Sĩ) - Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “nghiện rượu” để chỉ những người uống rượu thường xuyên và thái quá có những vấn đề về sức khỏe cơ thể và tâm thần Cho đến nay, người ta đã xác định nghiện rượu là một loại bệnh lý do rượu, có các tác nhân thúc đẩy và nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, định nghĩa thế nào là nghiện rượu thì vẫn đang là một vấn đề còn khó xác định Đã có nhiều những định nghĩa khác nhau đề cập đến nhiều khía cạnh của nghiện rượu:[3]
+ Năm 1951, Pouqyet định nghĩa: gọi là nghiện rượu khi một cá nhân đã sử dụng rượu mà bị mất tự do vì rượu
+ Năm 1994, Hardy P và Keureis O định nghĩa nghiện rượu như sau:
-Về mặt số lượng: nghiện rượu là sử dụng hàng ngày vượt quá 1ml cho 1kg cân nặng hoặc 3/4 lít rượu vang 10% cồn cho một người đàn ông nặng 70kg
-Về mặt xã hội: nghiện rượu là tất cả những hình thái uống rượu vượt quá việc
sử dụng thông thường và truyền thống
Trang 141.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu
* Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD-10 (1992) được xác định như sau:
+ Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu
+ Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng
+ Xuất hiện hội chứng cai rượu khi việc sử dụng rượu bị ngừng lại hoặc bị giảm bớt
+ Có những bằng chứng về sự dung nạp như tăng liều
+ Dần dần xao nhãng những thú vui hoặc những thích thú trước đây
+ Tiếp tục sử dụng mặc dù có những hậu quả tai hại
Chỉ được chẩn đoán nghiện rượu khi có từ 3 điểm trở lên đã được trải nghiệm hay biểu hiện trong vòng 1 năm trở lại đây
Chẩn đoán nghiện rượu theo DSM-IV(28)
Nghiện rượu
(A) Hình thức uống không hợp lý, dẫn đến suy giảm hoặc suy nhược nghiêm trọng về mặt lâm sàng, được biểu hiện bằng ba hoặc nhiều hơn những điều sau đây xảy
ra vào bất kỳ thời điểm nào trong cùng khoảng thời gian 12 tháng:
1 Cần lượng rượu tăng lên rõ rệt để đạt được trạng thái say hoặc hiệu quả mong muốn; hoặc giảm tác dụng rõ rệt khi tiếp tục sử dụng cùng một lượng rượu
2.Hội chứng cai nghiện rượu đặc trưng; hoặc uống (hoặc sử dụng một chất có liên quan chặt chẽ) để làm giảm hoặc tránh các triệu chứng cai nghiện
3 Uống với số lượng lớn hơn hoặc trong một thời gian dài hơn dự định
4 Mong muốn dai dẳng hoặc một hoặc nhiều nỗ lực không thành công để cắt giảm hoặc kiểm soát việc uống rượu
5.Các hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc giải trí quan trọng bị từ bỏ hoặc giảm
đi vì uống rượu
6.Rất nhiều thời gian dành cho các hoạt động cần thiết để có được, sử dụng hoặc phục hồi sau các tác động của việc uống rượu
7.Tiếp tục uống rượu mặc dù biết rằng có vấn đề về thể chất hoặc tâm lý dai dẳng hoặc tái phát có khả năng gây ra hoặc làm trầm trọng thêm do uống rượu
Trang 15(B) Không có tiêu chí thời lượng được chỉ định riêng biệt, nhưng một số tiêu chí phụ thuộc phải xảy ra lặp đi lặp lại như được chỉ định bởi các định tính thời lượng kết hợp với tiêu chí (ví dụ: “liên tục”, “tiếp tục”)
1.3.3.Mức độ phổ biến của lạm dụng rượu và nghiện rượu
Người ta nhận thấy việc tiêu thụ rượu, bia có chiều hướng tăng lên trong những thập kỷ qua Theo Godard J.(1992) có sự tương đồng trong tiêu dùng rượu ở những quốc gia khác nhau, thể hiện bằng việc sử dụng bia tăng lên ở các nước La Tinh, tăng
sử dụng rượu vang ở các nước Anglo Xacxông và rượu mạnh được dùng ở nhiều nơi Chính vì thế mà tỷ lệ người nghiện rượu có xu hướng tăng ở các nước
Tài liệu nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới ở 15 nước công nghiệp phát triển cho thấy: năm 1929 chỉ có 0,03% dân số nghiện rượu, năm 1940 tăng lên 0,33% và năm 1975 tăng lên 1,23% dân số Tỷ lệ nghiện rượu trong dân chúng ở các nước
phương tây tăng lên so với trước chiến tranh khoảng 2-2,5 lần
Ở nước ta các báo cáo tại “ Hội nghị sơ kết nghiên cứu dịch tễ, lâm sàng lạm dụng rượu” năm 1994 cho thấy: Tỷ lệ lạm dụng rượu ở khu vực thành phố chiếm từ 5-10,4% dân số, khu vực nông thôn 0,57-1,2 % Tỷ lệ nghiên rượu ở thành phố là 1,16-3,61 % dân số, miền núi 2,34%, nông thôn 0,14-0,42 % Năm 2005, theo Lâm Xuân Điền tỷ lệ nghiện rượu riêng ở thành phố Hồ Chí Minh là 3% và chung cho cả nước là 0,31-3% dân số, ngày nay con số này có thể còn tăng cao hơn nữa[3]
1.4 Hậu quả của lạm dụng rượu và nghiện rượu
Nghiện rượu và lạm dụng rượu không những để lại hậu quả nghiêm trọng cho chính bản thân người sử dụng rượu mà còn để lại những hậu quả xấu về mặt kinh tế và
an ninh của toàn xã hội [3]
1.4.1 Hậu quả đối với cá nhân
Rượu sau khi vào cơ thể sẽ được phân bổ đến các cơ quan nội tạng, việc lạm dụng rượu và nghiện rượu lâu ngày sẽ từng bước ảnh hưởng đến chức năng các cơ quan nội tạng, lâu dần sẽ gây rối loạn chức năng các cơ quan nội tạng làm phát sinh các rối loạn, các bệnh lý khác nhau
Năm 1996, Lâm Xuân Điền và cộng sự điều tra tại 5 bệnh viện đa khoa ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 17,1% số người bệnh có sử dụng rượu Trong đó các bệnh
về tiêu hóa (20,9%), các bệnh về khớp và cơ (19,2%), các bệnh hô hấp (11,6%), các bệnh nhiễm khuẩn (8,1%), tim mạch (7,0%).[3]
1.4.2 Hậu quả về kinh tế - xã hội
Theo Ades.J (1990) tại Pháp lạm dụng rượu, nghiện rượu là nguyên nhân của 60% số tử vong do tai nạn giao thông, 10-20% số tử vong do tai nạn lao động, 25% số
Trang 16tử vong do tự sát Ở Bắc Mỹ và Châu Âu tỷ lệ chết tăng 1,6-4,7 lần ở những người lạm dụng rượu Chính vì vậy, từ lâu tổ chức y tế thế giới đã xếp các bệnh lý do rượu đứng hàng thứ 3 sau các bệnh tim mạch và ung thư về nguyên nhân gây tử vong
Ở Việt Nam, tổng hợp các báo cáo trong “ Hội nghị sơ kết nghiên cứu dịch tễ, lâm sàng lạm dụng rượu’’cho thấy: trong số những người lạm dụng rượu, nghiện rượu
có tới 31% mất việc làm; gia đình bị tan vỡ chiếm từ 8-18%; gây tai nạn cho người khác từ 5-20%; bị thương vì uống rượu gây tai nạn cho mình từ 5-34%; phạm pháp bị bắt giữ từ 5-25 % Số người lạm dụng rượu và nghiện rượu bị sa sút về kinh tế chiếm
Theo nghiên cứu của các tác giả Việt Nam như Nguyễn Viết Thiêm, Trần Viết Nghị, Quách Văn Ngư … thì có 27-50% số người nghiện rượu nằm trong độ tuổi 30-40 nghĩa là độ tuổi lao động quan trọng Một số tác giả đã tính ra tuổi trung bình của người nghiện rượu ở Việt nam là 42 tuổi [4]
2.3.Nghề nghiệp
Nghề nghiệp là môi trường có ảnh hưởng lớn đến lạm dụng rượu, từ đó phát sinh ra nghiện rượu Có 3 loại nghề nghiệp liên quan đặc biệt đến nghiện rượu là nông dân với môi trường nông thôn; tầng lớp công nhân lao động chân tay nặng nhọc; những nghề phải tiếp xúc với công chúng nhiều như bồi bàn, nhân viên chuyển hàng và giới kinh doanh
Trang 17Nghiên cứu của tác giả Lý Trần Tình (2006) cho thấy công nhân chiếm tỷ lệ 34,4%, nông dân 32,3%, viên chức 6,3%, và 21,7% làm nghề tự do [4]
2.4.Trình độ học vấn
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy có một tỷ lệ đáng kể người bệnh có trình độ học vấn thấp Theo Soayka M (1990) cho thấy 64,2% có học vấn phổ thông trung học và 13,2% có học vấn tiểu học
Tác giả Trần Viết Nghị (1996) cho thấy có tới 80,6% số người nghiện rượu chưa tốt nghiệp phổ thông trung học
2.5 Lượng rượu uống hàng ngày
Các nghiên cứu về lượng rượu uống hàng ngày của người bệnh nghiện rượu còn khác nhau, tùy thuộc vào tùng vùng miền và tập quán của nhân dân địa phương Nói chung lượng rượu uống trong ngày phải vượt quá 300ml rượu 40 độ thì người bệnh mới có thể trở thành nghiện rượu sau 10 năm uống liên tục Đây chỉ là giới hạn dưới của nghiện rượu.Người bệnh nghiện rượu thực tế uống rải rác trong ngày, tổng lượng rượu uống có thể lên tới 1000ml rượu 40 độ
2.6 Thời gian uống rượu của người bệnh nghiện rượu
Đa số các tác giả đều cho rằng thời gian uống rượu phải trên 10 năm mới trở thành nghiện rượu.Chỉ một số rất ít các người bệnh uống rượu trên 5 năm đã trở thành nghiện rượu Nói chung, tỷ lệ người nghiện rượu có thời gian uống dưới 5 năm chỉ chiếm khoảng 10% số trường hợp, tỷ lệ cao nhất gặp trong nhóm uống rượu từ 10-15 năm chiếm 60%, các người bệnh ở các nhóm thời gian uống rượu 15-20 năm chiếm 30%
2.7 Tiền sử gia đình của người bệnh nghiện rượu
Những người con của các người bệnh nghiện rượu có tỷ lệ nghiện rượu cao gấp 4-5 lần những người con của những người con không nghiện rượu Các nghiên cứu sau
đó đã cho thấy nghiện rượu là một bệnh di truyền Nghiện rượu ở những người con một phần do ảnh hưởng trực tiếp từ lối sống, sinh hoạt của bố mẹ; phần khác là do ảnh hưởng của tính di truyền đã được chứng minh qua nghiên cứu những cặp sinh đôi cùng trứng (gien di truyền giống nhau) và khác trứng (gien di truyền khác nhau) Khoảng 60% trường hợp người bệnh nghiện rượu có bố mẹ, anh, em là người nghiện rượu [4]
3 Biểu hiện lâm sàng của nghiện rượu
3.1 Giai đoạn I (giai đoạn giống suy nhược thần kinh)
Đây là giai đoạn khởi đầu của nghiện rượu Thật ra lúc này người bệnh chưa trở thành nghiện rượu vì khi bỏ rượu họ không có hội chứng cai rượu Tuy nhiên, đây là bước đầu tiên quan trọng mà người nghiện rượu nào cũng phải trải qua.Người bệnh
Trang 18thích uống rượu và lượng rượu cũng tăng dần Nếu không uống rượu thì người bệnh cảm thấy thèm và nhớ rượu.Vì thế người bệnh tận dụng mọi cơ hội để uống rượu
Đôi khi, có thể ghi nhận các cơn say rượu bệnh lý của người bệnh.Đó là tình trạng rối loạn ý thức trầm trọng, xuất hiện đột ngột sau khi uống một lượng rượu nhỏ Trong cơn say bệnh lý, người bệnh có thể có các rối loạn hành vi rất trầm trọng như đánh người, đập phá …Cơn say rượu bệnh lý thường kết thúc đột ngột bằng một giấc ngủ Khi thức dậy người bệnh không nhớ những gì đã xảy ra trong cơn (quên trong cơn ) Cơn say rượu bệnh lý tuy hiếm nhưng rất đặc trưng cho giai đoạn I của nghiện rượu
Cơn say rượu bệnh lý có thể tái phát ngày càng trầm trọng và mật độ cơn ngày càng nhiều nếu người bệnh vẫn tiếp tục uống rượu
Các người bệnh này dần dần thay đổi tính tình Họ dần trở lên độc ác, hay nổi cáu vô cớ, hay quấy nhiễu và đa nghi Những nạn nhân của họ thường là vợ con và các thành viên khác trong gia đình Người bệnh hay quên, mất ngủ, trí nhớ và chú ý rất kém, hay mệt mỏi … khả năng lao động giảm sút nghiên trọng (có hội chứng suy nhược thần kinh) Vì vậy giai đoạn này còn gọi là giai đoạn giống suy nhược thần kinh
Trong giai đoạn này, nếu người bệnh cai rượu thì các triệu chứng nêu trên dần biến mất Nếu người bệnh tiếp tục uống rượu thì bệnh nhận sẽ chuyển sang giai đoạn II của nghiện rượu [4]
3.2 Giai đoạn II( giai đoạn có hội chứng cai )
Trong giai đoạn này người bệnh đã thực sự trở thành nghiện rượu.Người bệnh luôn trong tình trạng thèm rượu bắt buộc, không thể kiềm chế.Vì thế họ có thể uống rượu bất cứ lúc nào.Nếu bị cấm uống họ sẽ tìm mọi cách để uống rượu
Bình thường, cứ sau một khoảng thời gian nhất định họ lại phải uống rượu để giảm cơn thèm rượu Quãng thời gian này càng ngày càng ngắn lại, vì thế không có gì phải ngạc nhiên nếu người bệnh luôn triền miên trong trạng thái say rượu
Nếu không được uống rượu, người bệnh sẽ có hội chứng cai rượu Hội chứng cai rượu xuất hiện khi nồng độ cồn trong máu người bệnh giảm xuống Vì thế hội chứng cai hay xuất hiện vào buổi sáng, sau một đêm không được uống rượu Để ngăn chặn hội chứng cai rượu, bệnh phải uống rượu ngay sau khi ngủ dậy Do vậy, hành vi uống rượu vào buổi sáng bị coi là nghiện rượu ở hầu hết các nền văn hóa trên thế giới
Trong giai đoạn này biểu hiện của trạng thái phụ thuộc thực thể chiếm ưu thế Tình trạng say rượu bệnh lý ngày càng gia tăng, không tự kiềm chế được và có tính chất cưỡng bức (thèm bắt buộc).Người bệnh có đủ nghị lực để đấu tranh chống lại cơn thèm rượu Các triệu chứng ở giai đoạn I không những không biến mất mà còn phát triển tăng lên.Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là hội chứng cai xảy ra khi người bệnh không uống rượu vài giờ hoặc vài ngày Hội chứng cai biểu hiện bằng các triệu
Trang 19chứng rối loạn tâm thần cũng như các triệu chứng rối loạn thần kinh và các rối loạn cơ thể Các triệu chứng này chỉ giảm hoặc mất đi khi người bệnh uống rượu trở lại Các triệu chứng rối loạn tâm thần ở đây rất rõ ràng Trên nền khí sắc giảm xuất hiện trạng thái buồn rầu, dễ bực tức, giận dữ, độc ác, đa nghi.Người bệnh cảm thấy sợ hãi vô duyên cớ và có các ý tưởng buộc tội mình, có thể có ảo thị giác và ảo thính giác thật; giấc ngủ không sâu, nhiều ác mộng, làm cho người bệnh có cảm giác không thoải mái sau khi ngủ dậy
Hội chứng cai còn biểu hiện ở rối loạn thần kinh và thần kinh thực vật: nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, run đầu chi, khô miệng, chóng mặt, chán ăn, buồn nôn, ỉa chảy, tăng tiết mồ hôi, có thể run nhẹ các cơ mặt [4]
Biểu hiện rối loạn tâm thần trong giai đoạn này thường là tiến triển cấp tính và kéo dài, triệu chứng đa dạng và ngày càng đậm nét hơn.Giai đoạn phụ thuộc thực thể này có thể kéo dài 3-5 năm
Hội chứng cai rất hay gặp ở người nghiện rượu, nặng nề nhất là sảng rượu Sảng rượu (còn gọi là sảng run) xảy ra ở người có tiền sử uống rượu quá nhiều trong nhiều năm Bệnh cảnh lâm sàng thây đổi rất nhanh chóng, rối loạn thần kinh mạnh mẽ, ý thức u ám rối loạn định hướng không gian và thời gian, rối loạn trí nhớ gần
là các triệu chứng hay gặp nhất Người bệnh kích động mạnh mẽ, mất thư giãn, sợ hãi
rõ ràng Người bệnh mất ngủ hoàn toàn trong vài ngày, run tay biên độ lớn, thất điều Các rối loạn thần kinh thực vật như ra mồ hôi như tắm, sốt, đánh trống ngực, huyết áp cao dao động Các xét nghiệm máu cho thấy tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu hạt), rối loạn chức năng gan, mất nước, rối loạn điện giải
Sảng rượu kéo dài vài ngày, các triệu chứng nặng lên vào ban đêm.Kết thúc sảng rượu, các triệu chứng trên giảm dần, người bệnh ngủ được, quên những gì xảy ra trong giai đoạn sảng [4]
3.3 Giai đoạn III (giai đoạn bệnh não thực tổn do rượu)
-Giai đoạn này có đặc điểm là biến đổi từ từ làm cho các triệu chứng ở giai đoạn
II nặng lên và xuất hiện thêm các triệu chứng mới Thèm rượu có khuynh hướng giảm
đi, bớt lè nhè và bớt quấy rầy hơn trước, thèm bắt buộc đối với rượu xảy ra do các yếu
tố loạn tâm thần nội sinh Khả năng dung nạp rượu kém, trạng thái say xảy ra với liều lượng nhỏ hơn giai đoạn I và giai đoạn II
- Hội chứng cai ở giai đoạn này diễn ra dài hơn, biểu hiện rối loạn thần kinh vận mạch, rối loạn cơ thể và rối loạn kinh cũng nặng nề hơn giai đoạn I và II Biểu hiện trạng thái nghiện ở người bệnh với mạch chậm và xẹp mạch
- Giai đoạn bệnh não thực tổn do rượu có đặc điểm là lạm dụng rượu ở đây tuy liều nhỏ nhưng thường xuyên hàng ngày hay gọi là nghiện rượu thực sự Nổi bật ở giai
Trang 20đoạn này là nhân cách của người bệnh suy đồi, bất chấp sự lên án của gia đình và xã hội, mọi suy nghĩ chỉ tập chung vào “rượu’’ Người bệnh xuất hiện các hoang tưởng ghen tuông, chống đối xã hội, hành vi thô bạo, cảm xúc căng thẳng hay nổi khùng, trí nhớ giảm sút Người bệnh có khuynh hướng chuyển sang rối loạn tâm thần
- Cácbệnh não thực tổn do rượu bao gồm: bệnh Korsakov, bệnh viêm não
Wernicke và mất trí do rượu
Trước đây, người ta còn nghi ngờ rằng rượu có thể gây mất trí, họ cũng nghi ngờ nghiện rượu có thể gây ra hội chứng Korsakov.Những bằng chứng gần đây đã chứng minh rằng nghiện rượu mạn tính chính là nguyên nhân gây ra mất trí
3.4.Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần do rượu
Theo ICD- 10 năm 1992, mục F10
-Thèm muốn mãnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu
- Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng về thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng rượu bị ngừng lại hoặc giảm bớt
-Có những bằng chứng về sự dung nạp như tăng liều
-Dần dần sao nhẵng những thú vui hoặc những thích thú trước đây
-Tiếp tục uống rượu, mặc dù biết hoặc đã có những hậu quả tai hại của nó Chỉ được chẩn đoán nghiện rượu khi có từ 3 triệu chứng trở lên và biểu hiện trong vòng một năm trở lại đây
4.Hội chứng cai rượu
4.1 Lâm sàng
Hội chứng cai rượu có nhiều triệu chứng rất phong phú, xất hiện lần lượt theo thời gian Vài giờ sau khi ngừng uống rượu, người bệnh sẽ cảm thấy rất thèm rượu, họ không thể cưỡng lại cơn thèm rượu Khi cơn thèm rượu tăng lên, người bệnh bắt đầu
có run tay Run tay biên độ trung bình, xuất hiện cả khi nghỉ và khi làm việc[4]
Người bệnh trong tình trạng mệt mỏi, uể oải… nhưng người bệnh không có hiện tượng ngáp và chảy nước dãi như trong cai nghiện ma túy nhóm opioid Họ chán ăn và
ăn được rất ít mà uống rượu là chủ yếu, nhiều người không chịu ăn uống gì Người bệnh hay buồn nôn và nôn, nhưng khi được uống rượu thì tình trạng này (cũng như các triệu chứng nêu trên) hết ngay lập tức Chúng ta có thể lợi dụng hiện tượng này để bù nước và điện giải cho người bệnh bằng cách cho người bệnh uống nước pha với một chút rượu
Trang 21Triệu chứng mất ngủ gặp ở hầu hết các người bệnh có hội chứng cai rượu Mất ngủ xuất hiện ngay tối đầu tiên sau khi cai rượu Người bệnh khó vào giấc ngủ, ngủ không sâu hay tỉnh giấc sớm và đầy ác mộng.Đặc biệt khi ngủ dậy người bệnh không cảm thấy thoải mái mà còn thấy rất mệt Mất ngủ sẽ nặng dần vào các ngày tiếp theo và đạt đỉnh ở ngày thứ 3 và ngày thứ 5
Người bệnh có các biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật nặng nề như: mạch nhanh, ra mồ hôi, huyết áp cao…Mạch của người bệnh thường trên 100 lần / phút Kèm theo mạch nhanh, người bệnh có huyết áp cao, giao động Bên cạnh đó, người bệnh ra mồ hôi rất nhiều (như tắm mặc dù thời tiết không nóng ) quần áo họ thường ướt đẫm mồ hôi, vì vậy chúng ta rất dễ nhận ra Thân nhiệt của người bệnh tăng do run
cơ, người bệnh có thể sốt 38- 39 độ sẽ làm tình trạng rối loạn nước điện giải nặng hơn Người bệnh có thể tử vong do rối loạn nước điện giải trầm trọng
Đa số người bệnhcó kích động tâm thần, vận động: họ la hét, chửi bới lung tung, đánh đập vợ con, đập phá đồ đạc
Hoang tưởng và ảo giác do cai rượu: thường xuất hiện ở ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi ngừng uống rượu Khi hoang tưởng và ảo giác kết hợp trên cùng một người bệnh, người ta gọi là hội chứng paranoid do cai rượu
Khoảng 85% người bệnh có hội chứng cai rượu sẽ có ảo giác Aỏ giác hay gặp nhất trong cai rượu là ảo thanh thật Người bệnh thường nghe thấy có tiếng người đàn ông hoặc đàn bà chửi rủa mình Tiếng nói từ bên ngoài môi trường vọng vào trong đầu người bệnh.Chúng sẽ hết nhanh chóng khi được điều trị hoặc uống một lượng rượu nhỏ
Trang 22Hình 1: Hoang tưởng, ảo giác là triệu chứng hay gặp ở bệnh nhân rối loạn tâm thần do rượu
Hoang tưởng cũng là triệu chứng hay gặp, khoảng 65% số người bệnh cai rượu
sẽ có hoang tưởng Hoang tưởng ở người bệnhcai rượu thường là hoang tưởng ghen tuông Một số người bệnh có hoang tưởng bị hại cho rằng ma quỷ hại mình
Triệu chứng trầm trọng nhất trong hội chứng cai rượu đó chính là cơn co giật kiểu động kinh Cơn co giật kiểu động kinh xuất hiện ở những người bệnh có hội chứng cai rượu nặng Cơn co giật xuất hiện đột ngột vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 5, diễn biến giống một cơn động kinh cơn lớn điển hình Người bệnh cũng có các giai đoạn co cứng trong vài giây, sau đó xuất hiện co giật trong 1-2 phút Tiếp theo là trạng thái doãi mềm, hôn mê ngắn và hồi phục Người bệnh quên trong cơn Tất cả các đặc điểm trên khiến chúng ta dễ nhầm với động kinh cơn lớn
Cơn co giật kiểu động kinh được coi là triệu chứng nặng vì nó xuất hiện khi hội chứng cai rượu đạt đỉnh về mức độ trầm trọng, hơn nữa nó là dấu hiệu cho thấy người bệnh sắp vào giai đoạn sảng rượu
Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần tối khẩn cấp, nếu không được điều trị kịp thời, đúng quy cách thì tỷ lệ tử vong rất cao Sảng rượu xuất hiện trên nền hội chứng cai rượu mức độ nặng Khi người bệnh đã có sảng rượu thì việc điều trị sẽ trở lên rất khó khăn, tiên lượng sẽ rất nặng [4]
4.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo DSM-IV
• Ngừng hoặc giảm sử dụng rượu khi sử dụng liều cao và kéo dài
• Có ít nhất 2 dấu hiệu dưới đây xảy ra do tiêu chuẩn A vài giờ đến vài ngày
-Tăng hoạt động tự động ( nhịp tim tăng > 100 lần / phút )
• Run tay
• Mất ngủ
• Buồn nôn và nôn
• Aỏ thị giác, ảo thính giác, ảo khứu giác hay hoang tưởng
• Kích động tâm thần vận động
• Có trạng thái lo âu mạnh mẽ
• Có cơn co giật kiểu động kinh cơn lớn
Trang 23• Các triệu chứng ở tiêu chuẩn B gây nguy kịch hoặc suy giảm chức năng
xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác
• Các triệu chứng này không do một bệnh lý thực tổn và một bệnh rối loạn tâm thần nào khác gây ra
5 Loạn tâm thần do rượu
5.1 Ảo giác do rượu
Đặc trưng của ảo giác do rượu là ảo thanh, thường là tiếng người nói xấu người bệnh hoặc đe dọa người bệnh, xảy ra khi ý thức của người bệnh hoàn toàn tỉnh táo Tiếng nói làm người bệnh rất khó chịu, lo âu và mất khả năng thư giãn [4]
Ảo giác do rượu nhìn chung rất bền vững điều trị ảo giác do rượu có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí đến 1 năm
• Điều trị ảo thanh do rượu:
+ Phải cai rượu cho người bệnh ở các cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần
+ Sau khi hết hội chứng cai rượu người bệnh cần tiếp tục dùng thuốc an thần để điều trị ảo thanh do rượu, thường sử dụng 1 trong các phác đồ sau:
Phác đồ 1: + haloperidol 1,5mg x 8 viên/ ngày
+ trihex 2mg x 4 viên/ ngày
uống sáng 1/2 liều, tối 1/2 liều
Phác đồ 2: olanzapin 10 mg x 1 viên/ ngày, uống buổi tối
Phác đồ 3: risperidon 2mg x 3 viên/ ngày, sáng uống 1,5 viên, tối uống 1,5 viên Thời gian điều trị từ 3-6 tháng
Chống tái nghiện rượu cho người bệnh bằng esperal 500mg x1/2 viên/ ngày, uống buổi sáng Thời gian uống thuốc chống tái nghiện tối thiểu là 2 năm
6.2.Hoang tưởng do rượu
Đặc trưng của hoang tưởng do rượu là các hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại, xảy ra khi ý thức của người bệnh vẫn hoàn toàn tỉnh táo Khi hoang tưởng
do rượu kết hợp với ảo thanh do rượu sẽ tạo nên hội chứng paranoid [2]
Cũng như ảo thanh do rượu, hoang tưởng do có thể hết nếu được điều trị bằng thuốc an thần và cai rượu co người bệnh Nhưng các triệu chứng này sẽ xuất hiện trở lại nhanh chóng nếu người bệnh tái nghiện rượu
Điều trị hoang tưởng do rượu
Trang 24-Phải cai rượu cho người bệnh tại các cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần
-Sau khi hết họi chứng cai rượu, người bệnh cần tiếp tục dùng thuốc an thần để điều trị hoang tưởng, thường sử dụng phác đồ sau:
+ Haloperdol 1,5mg x8 viên/ ngày
+Trihex 2mg x4 viên/ ngày
uống sáng 1/2liều , tối 1/2 lieu
thời gian điều trị từ 3-6 tháng
Chống tái nghiện rượu cho người bệnh bằng esperal 500mg x1/2 viên/ ngày, uống buổi sáng Thời gian uống thuốc chống tái nghiện tối thiểu là 2 năm
6.3.Sảng rượu
* Phân loại sảng rượu: Theo bảng phân loại của tổ chức Y tế thế giới lần thứ 10 ( ICD 10 ) năm 1992, sảng rượu được phân loại như sau:
-F10.03: Sảng do ngộ độc rượu cấp
-F10.1: trạng thái cai với mê sảng, trong đó có:
+ Trạng thái cai với mê sảng không có co giật
+ Tạng thái cai với mê sảng có co giật
*Các giai đoạn của sảng rượu
-Giai đoạn khởi phát
Sảng rượu có thể khởi phát đột ngột, cấp tính trong khoảng thời gian từ một đến vài ngày sau khi ngừng uống rượu Dấu hiêu báo trước cho những cơn sảng rượu xuất hiện lần đầu tiên là người bệnh lao vào uống rượu liên miên, mặc dù số lượng uống mỗi lần không lớn Người bệnh luôn trong tình trạng say rượu Biểu hiện ban đầu là rối loạn giấc ngủ, người bệnh thường mất ngủ và có ác mộng Ngoài ra, người bệnh luôn mệt mỏi, run lẩy bẩy, ra nhiều mồ hôi, đánh trống ngực, có cơn nóng bừng hoặc rét, sợ hãi lo lắng
Sảng rượu thường bắt đầu vào buổi chiều và nặng lên về đêm với những hồi ức,
ảo tưởng thị giác.Người bệnh không biết mình đang ở đâu, lúc này là buổi chiều hay buổi sáng…Nét mặt của người bệnh có phần kém linh hoạt, chú ý kém, khí sắc không
ổn định cảm xúc trái ngược [3]
Khoảng 10-15% số người bệnh ở giai đoạn khởi phát của sảng rượu có các cơn
co giật kiểu động kinh Trên nền hội chứng cai rượu mức độ nặng, người bệnh xuất
Trang 25hiện các cơn co giật kiểu động kinh một cách đột ngột Đây là dấu hiệu báo trước sảng rượu sẽ sớm xuất hiện
-Giai đoạn toàn phát
Các triệu chứng của giai đoạn này rất đa dạng và phong phú, biến đổi liên tục nhưng sảng rượu luôn có 3 triệu chứng sau: [4]
+Mất ngủ hoàn toàn: người bệnh không ngủ được lúc nào trong vài ngày liên tục +Rối loạn ý thức: người bệnh rối loạn định hướng không gian thời gian nặng hơn là không biết mình là ai Sau đó người bệnh sẽ có u ám ý thức rồi chuyển thành hôn mê
+Rối loạn nhận thức: người bệnh không có khả năng nhận thức các điều mới, có hoang tưởng ghen tuông bị hại, ảo giác rầm rộ
Sảng rượu còn kèm theo rất nhiều rối loạn thần kinh, đặc biệt là tình trạng run của người bệnh Người bệnh run ở đầu chi, run có biên độ nhỏ, tần số nhanh Vì vậy sảng rượu còn gọi là sảng run Tình trạng run này có nguyên nhân từ tình trạng mất nước của người bệnh
-Giai đoạn lui bệnh
Đa số các trường hợp sảng có kết thúc tốt, bệnh lui dần với các triệu chứng lúc tăng lúc giảm.sảng rượu cấp thường tiến triển trong 3-4 ngày, sau đó người bệnh đi vào giấc ngủ sâu và kéo dài Sau cơn sảng người bệnh chỉ có thể nhớ lại một cách đứt đoạn Người bệnh có thể nhớ rất rõ nội dung ảo thị, ảo thanh…nhưng nhớ rất kém những gì
đã xảy ra xung quanh [3]
*Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng rượu [4]
A Rối loạn ý thức: (có nghĩa là giảm rõ ràng trong nhận thức về môi trường ) cùng với giảm khả năng tập chung, sự chú ý luôn xê dịch
B Rối loạn nhận thức: giảm trí nhớ, rối loạn định hướng, rói loạn ngôn ngữ hoặc rối loạn khả năng quan sát mà những rối loạn này không do sa sút trí tuệ trước đây, đã được xác định hoặc đang tiến triển
C Các rối loạn này xuất hiện cấp tính (trong vài giờ đến vài ngày ) và tiến triển
có khuynh hướng dao động trong ngày
D Có bằng chứng về một bệnh nội khoa, một trạng thái nhiễm độc, một hội chứng cai
*Điều trị sảng rượu:
Trang 26Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần tối khẩn cấp, tỷ lệ tử vong rất cao (22-33%) nên cần phải khẩn trương bằng mọi cách làm giảm nhẹ mức độ của sảng rượu để tránh nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh [4]
-Tại tuyến cơ sở: làm giảm nhẹ tình trạng sảng rượu của người bệnh bằng cách cho người bệnh uống một chút rượu Sau khi được dùng rượu trở lại với liều thấp thì tình trạng ý thức của người bệnh sẽ khá lên, sảng rượu sẽ thuyên giảm người bệnh qua cơn nguy cấp Nên cho thêm các thuốc sau:
+ Seduxen 10mg x1 ống/ tiêm bắp
+ Vitamin B1 100mg x1 ống/ tiêm bắp
Sau đó chuyển người bệnh lên tuyến trên điều trị
-Tại khoa tâm thần: Sảng rượu cần được điều trị tại phòng cấp cứu có bình oxy,máy hút và các phương tiện cấp cứu cần thiết khác Bệnh nhân được sử trí như sau:
+Cố định người bệnh tại giường bằng dây chuyên dụng
+Cho ngửi bông cồn
+Chế độ hộ lý cấp I
+Hút đờm dãi nếu có
+Thở oxy nếu có khó thở
+Lấy máu xét nghiệm
+Dùng thuốc:- Seduxen 10mg x2-4 ống/ tiên bắp sáng 1/2 liều, tối 1/2 liều
+Các phương pháp giải độc bằng thuốc
+Các phương pháp làm dịu cơn thèm rượu bắt buộc bằng các thuốc hướng tâm thần
+Các phương pháp phục hồi chức năng sinh lý các cơ quan trong cơ thể
Trang 27+Điều trị chống tái phát
+Điều trị các rối loạn cơ thể khác
7.2.Điều trị hội chứng phụ thuộc rượu
7.2.1 Cắt cơn cai rượu [4]
-Người bệnh phải tự nguyện hoặc bị gia đình cưỡng ép vào điều trị nội trú tại các cơ sở y tế
-Khắc phục hội chứng cai bằng thuốc bình thần nhóm cacbamazepin Có thể dùng phác đồ sau:
+Seduxen 10mg x2 ống/ ngày, tiêm bắp sáng 1 ống, tối 1 ống, dùng trong 7 ngày
7.2.2 Điều trị hoang tưởng, ảo giác trong hội chứng cai rượu
Nếu người bệnh có hoang tưởng ảo giác rầm rộ, xuất hiện liên tục, chi phối hành
vi của người bệnh thì ta có thể cho thêm thuốc an thần sau:
+Haloperidol 5mg x 2 ống
7.2.3 Sử dụng vitamin B1 trong điều trị hội chứng cai rượu
-Vitamin B1 0,1g x2 ống/ ngày, tiêm bắp sáng và tối
7.2.4 Bù nước và điện giải cho người bệnh có hội chứng cai rượu
-Ringer lactac 500ml x2 chai, truyền tĩnh mạch chậm 60 giọt/ phút
7.2.5 Dự phòng tái phát nghiện rượu
Điều trị cắt cơn cai rượu đã khó, nhưng giữ cho người bệnh không tái nghiện còn khó hơn gấp bội
Hiện nay các bác sĩ hay sử dụng Disulfiram 500mg, uống mỗi sáng 1/2 viên Thời gian uống thuốc tối thiểu là 24 tháng
Mặt khác để người bệnh điều trị chống tái nghiện rượu thành công, thuốc phải được đảm bảo đến bụng người bệnh.Vì thế không thể để người bệnh tự quản lý thuốc
và uống thuốc được.Người nhà người bệnh phải trực tiếp cho người bệnh uống thuốc hàng ngày.Đây là công việc rất khó khăn, đòi hỏi sự kiên trì cao của mọi thành viên trong gia đình [4]
Trang 28B- CƠ SỞ THỰC TIỄN Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng người bệnh có hội chứng cai rượu là công việc hết sức nặng nhọc và vất vả, đòi hỏi có sự kết hợp và hỗ trợ lẫn nhau giữa các điều dưỡng viên và gia đình người bệnh
Khi tiếp nhận người nghiện rượu tại các cơ sở y tế, người điều dưỡng cần lượng giá người bệnh xem có các chấn thương đầu, các cơ quan khác trên cơ thể
không?Lượng đường huyết?Có giảm đường huyết?Và có những vấn đề sức khỏe khác hay không? Ngoài ra cũng cần nhận biết các kiểu thở không hiệu quả liên quan đến chèn ép hệ thần kinh trung ương và nguy cơ cao của các hành động bạo lực liên quan đến nguyên nhân ngộ độc nặng do rượu
Các giai đoạn điều trị cấp cứu người bệnh nhiễm độc rượu cấp tính bao gồm điều trị triệu chứng liên quan: giải độc rượu, ổn định, phục hồi [7]
*Chăm sóc người bệnh trong thời gian giải độc rượu:
1 Khi điều trị người bệnh, nhân viên y tế cần phải có ý nghĩ khách quan, không kết án, không chỉ trích hay trách mắng người nghiện rượu khi họ nhập viện
- Trong giai đoạn người nghiện rượu bị kích động có thể gây nguy hiểm cho chính bản thân và người khác nên nhân viên y tế cần tìm cách vừa bảo vệ an toàn cho người bệnh nhưng cũng giữ an toàn cho bản thân
- Cần đối xử với người nghiện rượu bằng thái độ: cảm thông, chấp nhận những hành vi không tự chủ của họ; không khinh thường hay chống đối lại hành vi hay lời nói không tự chủ của người nghiện rượu
- Nhân viên y tế cần nói chuyện nhẹ nhàng và chậm rãi thì người bệnh mới hiểu được, vì rượu sẽ ảnh hưởng đến tiến trình suy nghĩ của 1 người nghiện rượu
2 Cần lấy mẫu máu của người bệnh để thử nồng độ cồn
3 Cho người nghiện rượu được tiếp tục ngủ nếu họ ngủ gà cho đến khi họ tỉnh rượu Trong thời gian đó, nhân viên y tế phải:
- Theo dõi sát triệu chứng của tình trạng ức chế thần kinh trung ương
- Duy trì đường thở thông thoáng
- Nên nới rộng hoặc cởi quần áo và cho người bệnh đắp chăn
4 Tạo không gian êm dịu cho người bệnh nghỉ ngơi, tránh các âm thanh kích động Đối với những người bệnh bứt rứt, không chịu nằm yên cần:
- Theo dõi sát người bệnh, đặc biệt về tình trạng tim mạch: giảm huyết áp; hô hấp và tri giác