1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thực trạng chăm sóc người bệnh có hội chứng cai rượu tại viện sức khỏe tâm thần bệnh viện bạch mai năm 2022

72 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc người bệnh có hội chứng cai rượu tại viện sức khỏe tâm thần bệnh viện bạch mai năm 2022
Tác giả Nguyễn Thị Lương
Người hướng dẫn Ths. Lê Văn Cường
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Chăm sóc sức khỏe tâm thần
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 765,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (0)
    • 1. Đặc điểm chung về lạm dụng rượu và nghiện rượu (10)
      • 1.1. Lạm dụng rượu (10)
      • 1.2. Nghiện rượu (11)
      • 1.3. Mức độ phổ biến của lạm dụng rượu và nghiện rượu (12)
      • 1.4. Hậu quả của lạm dụng rượu và nghiện rượu (12)
    • 2. Dịch tễ của nghiện rượu (13)
    • 3. Biểu hiện lâm sàng của nghiện rượu (15)
    • 4. Hội chứng cai rượu (20)
    • 5. Loạn thần do rượu (22)
    • 6. Điều trị nghiện rượu (28)
    • 7. Chăm sóc người bệnh có hội chứng cai rượu (0)
    • 8. Các quy định liên quan tới chăm sóc người bệnh cai rượu (32)
  • Chương 2 (0)
    • 2.1. Giới thiệu tóm tắt về Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai (34)
    • 2.3. Một số ưu điểm và tồn tại (48)
      • 2.3.1. Ưu điểm (49)
      • 2.3.2. Tồn tại (49)
  • Chương 3 (0)
    • 3.1. Bàn luận kết quả chăm sóc người bệnh (51)
    • 3.2. Ưu điểm (52)
    • 3.3. Tồn tại (52)
    • 3.4. Nguyên nhân của các tồn tại (53)
    • 3.5. Đề xuất giải pháp (53)
      • 3.5.1. Giải pháp về quản lý (53)
      • 3.5.2. Giải pháp về kỹ thuật (53)
      • 3.5.3. Đối với gia đình người bệnh (54)
  • KẾT LUẬN (56)
    • 1. Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh có hội chứng cai rượu (56)
    • 2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh có hội chứng (56)
    • 1. Đối với Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai (58)
    • 2. Đối với nhân viên y tế (58)
    • 3. Các ưu và nhược điểm (62)
    • 4. Nguyên nhân của các việc đã làm được và chưa làm được (63)
    • 1. Đối với nhân viên y tế (65)
    • 2. Đối với gia đình người bệnh (66)
    • 3. Đối với mạng lưới y tế cấp cơ sở (66)
    • 4. Đối với Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai (67)

Nội dung

Microsoft Word Nguyá»–n Thỉ Lương N G U Y Ễ N T H Ị L Ư Ơ N G B Á O C Á O C H U Y Ê N Đ Ề T Ố T N G H IỆ P N A M Đ ỊN H 2022 BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ LƯƠNG THỰC TRẠNG[.]

Đặc điểm chung về lạm dụng rượu và nghiện rượu

Uống rượu là một tập quán xã hội lâu đời, được ghi nhận trong nhiều nền văn hóa khác nhau Khi tiêu thụ ở mức độ vừa phải, rượu có thể mang lại cảm giác sảng khoái và vui vẻ trong giao tiếp Tuy nhiên, việc uống rượu với liều lượng lớn có thể dẫn đến trạng thái say xỉn, mất kiểm soát và nguy cơ ngộ độc, gây hại cho sức khỏe Lạm dụng rượu, mặc dù khó xác định ranh giới với việc sử dụng thông thường, có thể dẫn đến phụ thuộc và nghiện rượu.

1.1.2 Tiêu chuẩn lạm dụng rượu theo DSM-IV(1994)

Theo hội tâm thần học Hoa Kỳ trong tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, thống kê DSM-IV(1994) tiêu chuẩn lạm dụng rượu ghi nhận như sau:

Hình thức sử dụng rượu không tương thích có thể dẫn đến sự biến đổi chức năng hoặc sự chịu đựng lâm sàng, được đặc trưng bởi sự xuất hiện của ít nhất một trong các biểu hiện sau trong vòng một năm.

+ Sử dụng nhắc lại rượu dẫn đến làm mất khả năng thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu trong công việc, ở nhà hoặc ở trường

+ Sử dụng nhắc laiị rượu trong những tình huống gây hại về thể chất + Lập lại những vấn đề về tư pháp liên quan đến việc sử dụng rượu

Sử dụng rượu có thể dẫn đến những vấn đề dai dẳng hoặc tái diễn trong mối quan hệ cá nhân và xã hội, gây ra những tác động tiêu cực đáng kể.

+ Không có biểu hiện của sự phụ thuộc rượu

1.2.1 Một số khái niệm về nghiện rượu

Vào năm 1894, Huss M (Thụy Sĩ) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “nghiện rượu” để chỉ những cá nhân uống rượu thường xuyên và thái quá, dẫn đến các vấn đề về sức khỏe thể chất và tâm thần Hiện nay, nghiện rượu đã được xác định là một loại bệnh lý do rượu, với nhiều tác nhân và nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên, việc định nghĩa chính xác về nghiện rượu vẫn còn là một thách thức, với nhiều định nghĩa khác nhau đề cập đến các khía cạnh đa dạng của tình trạng này.

+ Năm 1951 Pougyet định nghĩa: Gọi là nghiện rượu khi một cá nhân đã sử dụng rượu mà bị mất tự do vì rượu

+ Năm 1994, Hardy O và Keureis O định nghĩa nghiện rượu như sau

Nghiện rượu được định nghĩa là việc tiêu thụ rượu hàng ngày vượt quá 1ml cho mỗi kg trọng lượng cơ thể, hoặc uống hơn 10% cồn trong rượu vang cho một người trưởng thành nặng 70kg.

- Về mặt xã hội: Nghiện rượu là tất cả những hình thái uống rượu vượt quá việc sử dụng thông thường và truyền thống

1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu

* Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD-10(1992) được xác định như sau:

+ Thèm muốn mạnh liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu

+ Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng rượu về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng

+ Xuất hiện hội chứng cai rượu khi việc sử dụng rượu bị ngừng lại hoặc bị giảm bớt

+ Cho những bằng chứng vè sự dung nạp như tăng liều

+ Dần dần xao nhẵng những thú vui hoặc những thích thú trước đây

+ Tiếp tục sử dụng mặc dù có những hậu quả tác hại

Chỉ được chẩn đoán nghiện rượu khi có từ 3 điểm trở lên đã được trải nghiệm hoặc biểu hiện trong vòng 1 năm trở lại đây

1.3 Mức độ phổ biến của lạm dụng rượu và nghiện rượu

Trong những thập kỷ qua, việc tiêu thụ rượu và bia đã có xu hướng gia tăng Theo nghiên cứu của Godard J, có sự tương đồng trong thói quen tiêu dùng rượu giữa các quốc gia, thể hiện qua sự gia tăng sử dụng bia ở nhiều nước.

Sự gia tăng tiêu thụ rượu vang ở các nước Anglo-Saxon và rượu mạnh ở nhiều nơi đã dẫn đến tỷ lệ người nghiện rượu tăng cao tại các quốc gia này.

Nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới tại 15 quốc gia công nghiệp phát triển cho thấy tỷ lệ nghiện rượu đã tăng đáng kể từ 0,03% vào năm 1929 lên 1,23% vào năm 1975 Tại các nước phương Tây, tỷ lệ này đã tăng gấp 2-3 lần so với thời kỳ chiến tranh Tại Việt Nam, báo cáo tại "Hội nghị sơ kết nghiên cứu dịch tễ, lâm sàng lạm dụng rượu" năm 1994 cho biết tỷ lệ lạm dụng rượu ở khu vực thành phố chiếm 5-10,4% dân số, trong khi khu vực nông thôn chỉ chiếm 0,57-1,2% Tỷ lệ nghiện rượu ở thành phố dao động từ 1,16-3,61%, miền núi là 2,34%, và nông thôn từ 0,14-0,42%.

Theo Lâm Xuân Điền, vào năm 2005, tỷ lệ nghiện rượu tại thành phố Hồ Chí Minh là 3%, trong khi tỷ lệ chung cho cả nước dao động từ 0,31% đến 3% dân số Hiện nay, con số này có thể đã tăng lên đáng kể.

1.4 Hậu quả của lạm dụng rượu và nghiện rượu

Nghiện rượu và lạm dụng rượu gây ra những hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho người sử dụng mà còn ảnh hưởng xấu đến kinh tế và an ninh xã hội.

1.4.1 Hậu quả đối với cá nhân

Rượu khi vào cơ thể sẽ phân bố đến các cơ quan nội tạng, và việc nghiện rượu lâu dài sẽ dần dần ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan này Hậu quả là, sự lạm dụng rượu có thể dẫn đến rối loạn chức năng và phát sinh nhiều bệnh lý khác nhau.

Năm 1996, Lâm Xuân Điền và cộng sự đã tiến hành điều tra tại 5 bệnh viện đa khoa ở Thành Phố Hồ Chí Minh, cho thấy 17,1% người bệnh có sử dụng rượu Trong số đó, tỷ lệ mắc các bệnh về tiêu hóa là 20,9%, bệnh xương khớp cơ là 19,2%, bệnh hô hấp là 11,6%, bệnh nhiễm khuẩn là 8,1%, và bệnh tim mạch là 7,0%.

1.4.2 Hậu quả về kinh tế- xã hội

Theo nghiên cứu của Ades J năm 1990 tại Pháp, nghiện rượu và lạm dụng rượu là nguyên nhân gây ra 60% số tử vong do tai nạn giao thông, 10-20% số tử vong do tai nạn lao động và 25% số tử vong do tự sát Tại Bắc Mỹ và Châu Âu, tỷ lệ tử vong tăng từ 1,6-4,7 lần ở những người lạm dụng rượu Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp các bệnh lý do rượu đứng thứ 3 trong nguyên nhân gây tử vong, chỉ sau bệnh tim mạch và ung thư Tại Việt Nam, báo cáo từ "Hội nghị sơ kết nghiên cứu dịch tễ, lâm sàng lạm dụng rượu" cho thấy 31% người lạm dụng rượu mất việc làm, 8-18% gia đình tan vỡ, 5-20% gây tai nạn cho người khác, 5-34% bị thương do tai nạn và 5-25% phạm pháp bị bắt giữ Ngoài ra, 45-69% người lạm dụng rượu và nghiện rượu gặp khó khăn về kinh tế.

Dịch tễ của nghiện rượu

Nghiện rượu thường xuất hiện ở người từ 30 tuổi trở lên, nhưng tỷ lệ này đang gia tăng nhanh chóng Khoảng 70% dân số nghiện rượu là người dưới 40 tuổi, 90% là người dưới 50 tuổi và 94% là người dưới 60 tuổi.

Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam như Nguyễn Viết Thiêm, Trần Viết Nghị và Quách Văn Ngư cho thấy 27-50% người nghiện rượu nằm trong độ tuổi 30-40, đây là độ tuổi lao động quan trọng Tuổi trung bình của người nghiện rượu ở Việt Nam được xác định là 42 tuổi.

Tỷ lệ nam/ nữ nghiện rượu nói chung dao động từ 4/1 đến 8/1 Trong các nghiên cứu lâm sàng ngày nay hầu hết người bệnh là nam giới

Theo tác giả Starova L.V, tỷ lệ nghiện rượu ở nữ giới chỉ chiếm 10% tổng số người mắc bệnh nghiện rượu Tại Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy hầu hết người bệnh là nam giới, trong khi số lượng nữ giới mắc bệnh rất ít, gần như không có Nguyên nhân có thể do phong tục tập quán của Việt Nam khác với các nước phương Tây, khi mà phụ nữ Việt Nam rất ít khi uống rượu, dẫn đến tình trạng nghiện rượu ở nữ giới gần như không tồn tại.

Nghề nghiệp có tác động đáng kể đến lạm dụng rượu và nghiện rượu Ba loại nghề nghiệp đặc biệt liên quan đến vấn đề này bao gồm nông dân sống ở môi trường nông thôn, công nhân lao động chân tay nặng nhọc, và những người làm việc trong các ngành nghề tiếp xúc nhiều với công chúng như bồi bàn, nhân viên chuyển hàng và giới kinh doanh.

Nghiên cứu của tác giả Lý Trần Tình cho thấy công nhân chiếm tỷ lệ 34,4%, nông dân chiếm 32,3%; viên chức 6,3% và 21,7% làm nghề tự do

Nghiên cứu cho thấy một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân có trình độ học vấn thấp, với 64,2% chỉ đạt trình độ học vấn phổ thông trung học và 13,2% có học vấn tiểu học, theo Soayka M (1990).

Tác giả Trần Viết Nghị ( 1996) cho thấy có tới 80,6% số người nghiện rượu chưa tốt nghiệp phổ thông trung học

2.5 Lượng rượu uống hàng ngày

Nghiên cứu về lượng rượu tiêu thụ hàng ngày của người nghiện rượu cho thấy sự khác biệt tùy thuộc vào vùng miền và tập quán địa phương Thông thường, để trở thành nghiện rượu, người bệnh cần uống hơn 300ml rượu 40 độ mỗi ngày trong vòng 10 năm Đây chỉ là mức tối thiểu để xác định nghiện rượu, trong khi thực tế, lượng rượu mà người nghiện tiêu thụ có thể lên tới 1000ml rượu 40 độ trong một ngày.

2.6 Thời gian uống rượu của người bệnh nghiện rượu Đa số các tác giả đều cho rằng thời gian uống rượu phải trên 10 năm trở lên thành nghiện rượu Chỉ một số rất ít các người bệnh rượu trên 5 năm đã trở thành nghiện rượu Nói chung, tỷ lệ người nghiện rượu có thời gian uống dưới 5 năm chỉ chiếm khoảng 10% số trường hợp, tỷ lệ cao nhất gặp trong nhóm uống rượu từ 10-15 năm chiếm 60% các người bệnh ở các nhóm thời gian uống rượu 10-20 năm chiếm 30%

2.7 Tiền sử gia đình của người bệnh nghiện rượu

Những người con của bệnh nhân nghiện rượu có nguy cơ nghiện rượu cao gấp 4-5 lần so với những người con của những người không nghiện Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nghiện rượu có tính di truyền, với ảnh hưởng từ lối sống và sinh hoạt của cha mẹ, cũng như yếu tố di truyền được xác nhận qua các nghiên cứu về cặp sinh đôi Khoảng 60% trường hợp người nghiện rượu có bố mẹ hoặc anh em cũng là người nghiện.

Biểu hiện lâm sàng của nghiện rượu

3.1 Giai đoạn 1( Giai đoạn giống suy nhược thần kinh) Đây là giai đoạn khởi đầu của nghiện rượu Thật ra lúc này người bệnh chưa trở thành nghiện rượu và khi bỏ rượu họ không có hội chứng cai rượu Tuy nhiên đây là bước đầu tiên quan trọng mà người nghiện rượu nào cũng phải trải qua Người bệnh thích uống rượu và lượng rượu cũng tăng dần Nếu không uống rượu thì người bệnh cảm thấy thèm và nhớ rượu Vì thế người bệnh tận dụng mọi cơ hội để uống rượu Đôi khi có thể ghi nhận các cơn say rượu bệnh lý của người bệnh Đó là tình trạng rối loạn ý thức trầm trọng, xuất hiện đột ngột sau khi uống một lượng rượu nhỏ Trong cơn say bệnh lý, người bệnh có thể có các rắc rối loạn hành vi rất trầm trọng nhhư đánh người, đập phá, Cơn say rượu bệnh lý thường kết thúc đột ngột bằng một giấc ngủ Khi thức dậy người bệnh không nhớ những gì đã xảy ra trong cơn Cơn say rượu bệnh lý tuy hiếm những rất đặc trưng cho giai đoạn I của nghiện rượu

Cơn say bệnh lý có thể tái phát ngày càng trầm trọng và mật độ cơn ngày càng nhiều nếu người bệnh vẫn tiếp tục uống rượu

Các bệnh nhân này thường có sự thay đổi rõ rệt về tính cách, trở nên độc ác và dễ nổi cáu mà không có lý do Họ thường quấy rối và đa nghi, với nạn nhân chủ yếu là vợ con và các thành viên trong gia đình Ngoài ra, người bệnh còn gặp khó khăn trong việc nhớ, mất ngủ, và có sự chú ý kém, dẫn đến tình trạng mệt mỏi và giảm sút khả năng lao động nghiêm trọng.

Vì vậy giai đoạn này còn gọi là giai đoạn giống suy nhược thần kinh

Trong giai đoạn này, khi người bệnh ngừng uống rượu, các triệu chứng sẽ dần biến mất Tuy nhiên, nếu người bệnh tiếp tục tiêu thụ rượu, họ sẽ chuyển sang giai đoạn II của nghiện rượu.

3.2 Giai đoạn II( Giai đoạn có hội chứng cai)

Trong giai đoạn này, người bệnh đã trở thành nghiện rượu, luôn cảm thấy thèm rượu một cách không thể kiềm chế Họ có thể uống rượu bất cứ lúc nào và nếu bị cấm, sẽ tìm mọi cách để có được rượu.

Người bệnh thường xuyên phải uống rượu để giảm cơn thèm, và khoảng thời gian giữa các lần uống ngày càng ngắn lại Do đó, không có gì ngạc nhiên khi họ luôn trong trạng thái say rượu.

Nếu không uống rượu, người bệnh sẽ trải qua hội chứng cai rượu, xảy ra khi nồng độ cồn trong máu giảm Hội chứng này thường xuất hiện vào buổi sáng, sau một đêm không uống rượu Để ngăn chặn hội chứng cai, bệnh nhân cần uống rượu ngay sau khi thức dậy Do đó, hành vi uống rượu vào buổi sáng thường được coi là biểu hiện của nghiện rượu trong nhiều nền văn hóa trên thế giới.

Trong giai đoạn này, tình trạng phụ thuộc vào rượu trở nên rõ rệt, với sự gia tăng của chứng say rượu bệnh lý và cơn thèm rượu cưỡng bức Người bệnh có thể cảm thấy đủ nghị lực để chống lại cơn thèm, nhưng các triệu chứng ở giai đoạn I không chỉ không giảm mà còn phát triển mạnh mẽ hơn Một đặc điểm nổi bật là hội chứng cai xuất hiện khi người bệnh không uống rượu trong vài giờ hoặc vài ngày, với các triệu chứng rối loạn tâm thần, thần kinh và cơ thể Những triệu chứng này chỉ giảm khi người bệnh uống lại Rối loạn tâm thần thể hiện rõ qua tâm trạng buồn rầu, dễ bực tức, giận dữ, và cảm giác sợ hãi vô cớ, cùng với những ý tưởng tự buộc tội Người bệnh có thể trải qua ảo giác thị giác và thính giác, giấc ngủ không sâu và nhiều ác mộng, dẫn đến cảm giác không thoải mái khi thức dậy.

Hội chứng cai có thể gây ra rối loạn thần kinh và thần kinh thực vật, bao gồm các triệu chứng như nhịp tim nhanh, huyết áp tăng, run ở đầu chi, khô miệng, chóng mặt, chán ăn, buồn nôn, tiêu chảy, và tăng tiết mồ hôi Ngoài ra, người bệnh có thể gặp phải tình trạng run nhẹ ở các cơ mặt.

Trong giai đoạn này, rối loạn tâm thần thường tiến triển một cách cấp tính và kéo dài, với triệu chứng đa dạng và ngày càng rõ rệt hơn Thời gian của giai đoạn phụ thuộc vào thực thể này có thể kéo dài từ 3 đến 5 năm.

Hội chứng cai rất hay gặp ở người nghiện rượu, nặng nề nhất la sảng rượu:

Sảng rượu khởi phát đột ngột và cấp tính trong khoảng thời gian từ một đến vài ngày sau khi ngừng uống rượu Biểu hiện ban đầu bao gồm mất ngủ, chếnh choáng, run lẩy bẩy, và rối loạn thần kinh thực vật như đỏ da, mạch nhanh, ra nhiều mồ hôi, đánh trống ngực, lo lắng và sợ hãi Thời gian từ khi ngừng rượu đến khi xuất hiện sảng rượu thường từ 1-2 ngày, nhưng có thể kéo dài đến 3-4 ngày trong một số trường hợp Sảng rượu thường bắt đầu bằng cơn co giật kiểu động kinh, do đó, bệnh nhân cai rượu có cơn co giật cần được theo dõi chặt chẽ để phòng ngừa sảng rượu.

Giai đoạn toàn phát của sảng rượu thường xuất hiện sau 3-5 ngày cai rượu, với các triệu chứng đa dạng và phong phú Sảng rượu bao gồm ba triệu chứng chính.

– Mất ngủ hoàn toàn: Bệnh nhân mất ngủ trầm trọng, họ không ngủ được một tí gì trongvòng 24 giờ qua

Rối loạn ý thức là tình trạng mà bệnh nhân gặp khó khăn trong việc định hướng không gian và thời gian, dẫn đến việc không nhận biết được vị trí hiện tại hoặc thời gian trong ngày Ngoài ra, rối loạn định hướng bản thân, mặc dù ít gặp hơn, cũng có thể xảy ra, khiến bệnh nhân không nhận ra chính mình.

Hoang tưởng và ảo giác là những triệu chứng nổi bật ở bệnh nhân, với các ảo thanh và ảo thị rõ rệt, cùng với cảm giác bị hại mạnh mẽ Những biểu hiện này có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong ngày, ảnh hưởng đến hành vi của họ, dẫn đến những hành động bất ngờ như chạy trốn hoặc tấn công các kẻ thù vô hình Hệ quả có thể là những tai nạn nghiêm trọng, như ngã, chạm vào ổ điện, hoặc tự gây thương tích, thậm chí dẫn đến tử vong Triệu chứng của sảng rượu thường gia tăng vào buổi tối và giảm dần vào buổi sáng.

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng rượu theo DSM 5[1]

A Rối loạn ý thức cùng với giảm sự tập trung chú ý.Sự chú ý luôn xê dịch

B Rối loạn nhận thức: Giảm trí nhớ, rối loạn định hướng, rối loạn ngôn ngữ hoặc rối loạn khả năng quan sát

C Các rối loạn này xuất hiện cấp tính (trong vài giờ đến vài ngày) và tiến triển có khuynh hướng dao động trong ngày

D Có bằng chứng về một hội chứng cai rượu

3.3 Giai đoạn III( Giai đoạn bệnh não thực tổn thương do rượu)

Giai đoạn này đặc trưng bởi sự biến đổi từ từ, dẫn đến triệu chứng ở giai đoạn II trở nên nặng nề hơn và xuất hiện thêm triệu chứng mới Cảm giác thèm rượu có xu hướng giảm, ít lè nhè và quấy rối hơn trước, nhưng lại có sự thèm bắt buộc đối với rượu do các yếu tố loạn tâm thần nội sinh Khả năng dung nạp rượu giảm sút, khiến trạng thái say xảy ra với liều lượng nhỏ hơn so với giai đoạn I và II.

Hội chứng ở giai đoạn này kéo dài hơn và có biểu hiện rối loạn thần kinh vận mạch, rối loạn cơ thể và rối loạn kinh nặng nề hơn so với giai đoạn I và II Người bệnh thường có trạng thái mạch chậm và xẹp mạch.

Hội chứng cai rượu

Hội chứng cai rượu cần được chẩn đoán lâm sàng cẩn thận, đặc biệt khi có thay đổi ý thức và sốt, để loại trừ các nguyên nhân khác như nhiễm trùng thần kinh trung ương, chấn thương, rối loạn chuyển hóa, quá liều ma túy, suy gan và xuất huyết tiêu hóa Việc thực hiện chọc dò tủy sống và chụp cắt lớp vi tính sọ não có thể giúp xác định các chẩn đoán khác Chẩn đoán sớm hội chứng cai rượu rất quan trọng, vì nếu không, có thể dẫn đến việc sử dụng thuốc an thần không phù hợp và trì hoãn các chẩn đoán cần thiết khác.

Người bệnh thường cảm thấy mệt mỏi và uể oải, nhưng không có hiện tượng ngáp hay chảy nước dãi như trong cai nghiện ma túy Họ chán ăn, chỉ uống rượu và nhiều người không ăn uống gì Tình trạng buồn nôn và nôn xuất hiện, nhưng khi uống rượu, triệu chứng này sẽ biến mất ngay lập tức Chúng ta có thể tận dụng hiện tượng này để bù nước và điện giải cho người bệnh bằng cách cho họ uống nước pha với một chút rượu.

Triệu chứng mất ngủ thường gặp ở người bệnh cai rượu, xuất hiện ngay trong đêm đầu tiên Người bệnh gặp khó khăn trong việc vào giấc, ngủ không sâu, dễ tỉnh dậy sớm và thường xuyên mơ ác mộng Sau khi thức dậy, họ không cảm thấy thoải mái mà còn rất mệt mỏi Tình trạng mất ngủ sẽ trở nên nghiêm trọng hơn trong những ngày tiếp theo, đạt đỉnh vào ngày thứ 3 và thứ 5.

Người bệnh có biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật nặng, với nhịp mạch thường trên 100 lần/phút, huyết áp cao và ra mồ hôi nhiều, khiến quần áo ướt đẫm Thân nhiệt tăng do run cơ có thể dẫn đến sốt cao, làm tình trạng rối loạn nước giải nặng hơn Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh có thể tử vong do rối loạn điện giải trầm trọng Ngoài ra, đa số người bệnh còn có biểu hiện kích động tâm thần, la hét, chửi bới và có hành vi bạo lực.

Hoang tưởng và ảo giác do cai rượu thường xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi ngừng uống rượu Khi cả hoang tưởng và ảo giác xảy ra đồng thời ở một người bệnh, tình trạng này được gọi là hội chứng Paranoid do cai rượu.

Khoảng 85% người bệnh có hội chứng cai rượu sẽ có ảo giác Ảo giác hay gặp nhất trong cai rượu là ảo thanh thật

Hoang tưởng là triệu chứng phổ biến, xuất hiện ở khoảng 65% người bệnh cai rượu, trong đó hoang tưởng ghen tuông là dạng thường gặp Nhiều người bệnh còn có hoang tưởng bị hại, tin rằng ma quỷ đang hại mình.

Triệu chứng trầm trọng nhất trong hội chứng cai rượu đó là chính là cơn co giật kiểu động kinh

Cơn co giật kiểu động kinh là triệu chứng nghiêm trọng, thường xuất hiện khi hội chứng cai rượu đạt đến mức độ trầm trọng Đây cũng là dấu hiệu cho thấy người bệnh sắp bước vào giai đoạn sảng rượu.

Sảng rượu là một tình trạng cấp cứu tâm thần nghiêm trọng, đòi hỏi phải được điều trị kịp thời để giảm nguy cơ tử vong cao Tình trạng này thường xảy ra trong bối cảnh hội chứng cai rượu nặng, và khi người bệnh rơi vào sảng rượu, việc điều trị trở nên khó khăn và tiên lượng sức khỏe rất xấu.

4.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo DSM-IV

Chẩn đoán hội chứng cai rượu theo Tiêu chí chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-5):

A Ngừng hoặc giảm đáng kể lượng rượu uống khi đang sử dụng rượu liều cao và kéo dài

B Có ít nhất 2 tiêu chuẩn dưới đây xảy ra sau tiêu chuẩn A vài giờ đến vài ngày

Tăng hoạt động tự động

Kích động tâm thần vận động Ảo thị giác, ảo thanh, hoặc hoang tưởng

Cơn co giật kiểu động kinh

C Các triệu chứng ở tiêu chuẩn B gây suy giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác

D Các triệu chứng này không do một bệnh thực tổn và một bệnh rối loạn tâm thần khác gây ra.

Loạn thần do rượu

5.1 Ảo giác do rượu Ảo giác: thường là những ảo giác thật, có thể có nhiều ảo giác trên một bệnh nhân, có thể có ảo thanh, ảo thị, ảo giác xúc giác, ảo khứu,…

Ảo thanh là hiện tượng phổ biến ở bệnh nhân, thường phát triển trên nền tảng các rối loạn khác Đôi khi, ảo thanh xuất hiện vào ngày cuối cùng của cơn thèm rượu, thường xảy ra vào buổi chiều tối hoặc khi thiếp ngủ Ảo thanh có thể là dạng thô sơ hoặc là lời nói.

Giọng nói có thể giao tiếp với bệnh nhân hoặc giữa các cá nhân Cường độ của ảo thanh có thể thay đổi từ tiếng kêu đến tiếng thì thầm, thường xoay quanh những chủ đề liên quan Ảo thanh thường nặng nề hơn vào buổi tối và có thể thoái triển đột ngột sau một giấc ngủ sâu, hoặc giảm dần về cường độ và tần số Khi ảo thanh biến mất hoàn toàn, bệnh nhân có khả năng phê phán trạng thái loạn thần mà họ đã trải qua.

Ảo thị thường xuất hiện sau ảo thanh, với nội dung phù hợp với ảo thanh và hoang tưởng Khi có sảng, bệnh nhân có thể thấy những côn trùng hoặc động vật nhỏ Ngược lại, khi ảo giác đi kèm với ý thức u ám, bệnh nhân sẽ trải nghiệm những cảnh giống như mộng, nhưng chủ đề thường không hoàn chỉnh và thiếu tính thứ tự.

Ảo xúc, mặc dù ít gặp hơn so với ảo thanh và ảo thị, thường xuất hiện đồng thời với ảo thị Bệnh nhân có thể cảm nhận những côn trùng bò trên da hoặc cảm giác chuột gặm nhấm chân tay, gây ra sự khó chịu Đôi khi, ảo xúc còn biểu hiện qua cảm giác có vật lạ trong miệng và họng.

- Ảo khứu và ảo vị chỉ gặp ở 9% bệnh nhân loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế

* Điều trị ảo thanh do rượu:

- Phải cai rượu cho người bệnh ở cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần

Sau khi kết thúc hội chứng cai rượu, bệnh nhân cần tiếp tục sử dụng thuốc an thần để điều trị các triệu chứng ảo thanh do rượu gây ra Thường áp dụng một trong các phác đồ điều trị sau đây.

Uống sỏng ẵ liều, tối ẵ liều

Olanzapin 10mg x 1 viên/ ngày uống buổi tối

Riperidon 2mg x 3 viên/ ngày, sáng uống 1,5 viên, tối uống 1,5 viên Thời gian điều trị 3-6 tháng

Chống tỏi nghiện rượu cho người bệnh bằng Esperal 500mg x ẵ viờn/ ngày vào buổi sáng Thời gian uống thuốc tái nghiện tối thiểu 2 năm

Hoang tưởng do rượu thường biểu hiện dưới dạng hoang tưởng ghen tuông, phát triển trên nền tảng nhân cách suy thoái do rượu Ban đầu, những ý tưởng ghen tuông chỉ xuất hiện khi say, nhưng theo thời gian, chúng trở nên bền vững và xuất hiện ngay cả khi bệnh nhân không uống rượu Bệnh nhân bắt đầu từ sự nghi ngờ và dần khẳng định vợ mình không chung thủy, dẫn đến hành vi rình mò, tra khảo và ép buộc vợ phải nhận lỗi Thường thì, người mà bệnh nhân cho là tình nhân của vợ mình là những người quen biết.

- Sự phức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo 2 hướng:

+ Hoang tưởng ghen tuông là chủ đề duy nhất không thay đổi

Ý tưởng hoang tưởng không chỉ liên quan đến sự thiệt hại vật chất, như việc vợ lấy tiền cho người yêu hay đầu độc bệnh nhân để có tự do với người yêu Nghiên cứu cho thấy hoang tưởng ghen tuông thường xuất hiện sau loạn thần do rượu cấp tính, đặc biệt ở độ tuổi trung niên Thống kê cho thấy khoảng 40% bệnh nhân loạn thần do rượu gặp phải hoang tưởng ghen tuông, với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế.

- Paranoid do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị hại và các hoang tưởng cảm thụ có tính hình tượng cao

- Hoang tưởng bị theo dõi chi phối mãnh liệt hành vi, cảm xúc của bệnh nhân

- Thường có ảo tưởng lời nói, ảo tưởng cảm xúc và ảo thanh với nội dung đe dọa

Hành vi xung động có thể gây nguy hiểm cho bản thân và người xung quanh, với bệnh nhân thường có xu hướng bỏ chạy, phòng thủ hoặc thậm chí tự sát Trong những trường hợp kéo dài, hành vi này thường ít nguy hiểm hơn và hiếm khi xuất hiện các hoang tưởng bị theo dõi hay bị chi phối vật lý như trong tâm thần phân liệt Theo nghiên cứu của Soayka H (1990), hoang tưởng bị theo dõi chiếm 32% trong số bệnh nhân ảo giác do rượu.

Hoang tưởng bị hại thường xuất hiện cùng với hoang tưởng bị theo dõi hoặc hoang tưởng ghen tuông trong trường hợp paranoid cấp do rượu Theo thống kê, 71% bệnh nhân loạn thần do rượu có hoang tưởng bị hại, cho thấy đây là một triệu chứng phổ biến Tuy nhiên, hoang tưởng bị hại có tỉ lệ cao nhưng không đặc hiệu cho loạn thần do rượu.

Bệnh nhân loạn thần do rượu có thể trải qua một số loại hoang tưởng khác như hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng tự cao và hoang tưởng nghi bệnh, tuy nhiên, những loại hoang tưởng này xuất hiện với tỉ lệ thấp.

Hoang tưởng và ảo giác thường xuất hiện đồng thời trong bệnh cảnh lâm sàng của loạn thần do rượu Theo thống kê của Soayle M (1990), chỉ có 13% bệnh nhân loạn thần do rượu trải qua ảo giác đơn thuần Việc điều trị hoang tưởng do rượu là rất cần thiết để cải thiện tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

- Phải cai rượu cho người bệnh tại các cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần

- Sau khi hết mọi hội chứng cai rượu, người bệnh cần tiếp tục dùng thuốc an thần để điều trị hoang tưởng, thường sử dụng phác đồ sau:

Uống sỏng ẵ liều, tối ẵ liều

Thời gian điều trị 3-6 tháng

Chống tỏi nghiện rượu cho người bệnh bằng Esperal 500mg x ẵ viờn/ ngày vào buổi sáng Thời gian uống thuốc tái nghiện tối thiểu 2 năm

Cảm xúc và hành vi:

Hoang tưởng và ảo giác do rượu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi và cảm xúc của bệnh nhân loạn thần trong các cơn cấp tính Bệnh nhân thường trải qua lo âu, sợ hãi và căng thẳng cao độ, đôi khi cảm thấy khoái cảm Hành vi của họ thường là né tránh, chạy trốn hoặc phản ứng tấn công đối với những người xung quanh.

Trong những trường hợp kéo dài mãn tính, cảm xúc của bệnh nhân thường bị ức chế, dẫn đến sự cau có và giận dữ Họ có thể thể hiện hành vi thẫn thờ hoặc sững sờ, cảm thấy không lối thoát, nhưng cũng có thể trở nên độc ác và thô bạo với người thân.

Các bệnh cơ thể phối hợp:

Bệnh nhân loạn thần thường đi kèm với các bệnh lý cơ thể như viêm loét dạ dày, xơ gan, và rối loạn huyết áp cùng thần kinh thực vật Nhiều trường hợp còn xuất hiện tình trạng suy kiệt do nhiễm độc rượu kéo dài.

Điều trị nghiện rượu

- Sử dụng liệu pháp tâm lý kết hợp với liệu pháp môi trường

- Sử dụng các liệu pháp học tổng hợp

- Các phương pháp giải độc bằng thuốc

- Các phương pháp làm dịu cơn thèm rượu bắt buộc bằng các thuốc hướng tâm thần

- Các phương pháp phục hồi chức năng sinh lý các cơ quan trong cơ thể

- Điều trị chống tái phát

- Điều trị các rối loạn cơ thể khác

6.2 Điều trị hội chứng phụ thuộc vào rượu

- Người bệnh phải tự nguyện hoặc bị gia đình cưỡng ép vào điều trị nội trú tại cơ sở y tế

- Khắc phục hội chứng cai bằng thuốc bình thần nhóm Cacbamazepin Có thể dùng phác đồ sau:

+ Seduxen 10mg x 2 ống/ ngày, tiêm bắp sáng 1 ống, tối 1 ống dùng trong 7 ngày

6.2.2 Điều trị hoang tưởng, ảo giác trong hội chứng cai rượu

Nếu người bệnh có hoang tưởng áo giác liên tục và mạnh mẽ, ảnh hưởng đến hành vi của họ, có thể xem xét sử dụng thuốc an thần.

6.2.3 Sử dụng VTM B1 trong điều trị hội chứng cai rượu

Vitamin B1 0,1g x 2 ống/ ngày tiêm bắp vào sáng và tối

6.2.4 Bù nước và điện giải cho người bệnh có hội chứng cai rượu

- Ringer lactac 500ml x 2 chai truyền tĩnh mạch chậm 60 giọt/ phút

6.2.5 Dự phòng tái phát nghiện rượu Điều trị cắt cơn cai rượu đã khó nhưng giữ cho bệnh nhân không tái nghiện còn khó gấp bội

Hiện nay cỏc bỏc sỹ hay sử dụng Disulfiram 500mg uống mỗi sỏng ẵ viên Thời gian uóng tối thiểu 24 tháng

Để điều trị thành công chống tái nghiện rượu, việc đảm bảo người bệnh uống đúng thuốc là rất quan trọng Do đó, người bệnh không thể tự quản lý và uống thuốc một mình Người nhà cần phải trực tiếp hỗ trợ bệnh nhân uống thuốc hàng ngày, điều này đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực từ tất cả các thành viên trong gia đình.

7 CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CAI RƯỢU

Các chương trình can thiệp có mục tiêu đa dạng, bao gồm mục tiêu trước mắt, ngắn hạn và dài hạn Mục tiêu trước mắt tập trung vào việc giải quyết các nhu cầu cấp bách liên quan đến rượu, như cai nghiện và điều trị các biến chứng sức khỏe cấp tính Trong khi đó, mục tiêu ngắn hạn hướng đến việc điều trị các bệnh mạn tính và tâm thần, duy trì thói quen không uống rượu, cũng như hỗ trợ tái hòa nhập gia đình và cộng đồng.

Các mục đích và mục tiêu lâu dài bao gồm việc chống tái nghiện, hỗ trợ tái hòa nhập nghề nghiệp và xã hội, khuyến khích lối sống lành mạnh, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống.

Quá trình điều trị được chia thành 4 giai đoạn dựa trên các mục tiêu đã đề ra: tiền điều trị, giai đoạn cai nghiện, giai đoạn điều trị tích cực và giai đoạn hậu chăm sóc.

Giai đoạn tiền điều trị là thời điểm quan trọng để xác định những người có vấn đề liên quan đến rượu và thực hiện phỏng vấn khích lệ, giúp họ nhận thức về vấn đề và cần sự hỗ trợ Các bác sĩ tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe, tổ chức phi chính phủ, bạn bè và gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị tâm lý cho bệnh nhân Giai đoạn này có thể kéo dài từ vài ngày đến vài tháng, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình điều trị tiếp theo.

Cai nghiện (giai đoạn cắt cơn)

Giai đoạn cai nghiện kéo dài từ 1 tuần đến 2 tháng, tùy thuộc vào loại chất nghiện, lượng sử dụng và thời gian nghiện Quá trình này thường sử dụng benzodiazepines để kiểm soát triệu chứng cai nghiện khi ngừng uống rượu hoặc thay thế bằng các hình thức khác Vitamin B và các loại vitamin B hỗn hợp cũng rất quan trọng trong giai đoạn này Thời kỳ cai nghiện còn được dùng để đánh giá tác động sức khỏe và các vấn đề khác trong đời sống của bệnh nhân, cũng như xác định điểm mạnh và điểm yếu của họ.

Giai đoạn điều trị kéo dài từ 3 đến 12 tháng hoặc lâu hơn, tập trung vào việc lựa chọn các phương thức điều trị như thuốc, liệu pháp tâm lý hoặc tâm lý xã hội Dựa trên đánh giá, các phương pháp điều trị sẽ được chọn lựa, bao gồm liệu pháp tâm lý nhóm hoặc cá nhân, can thiệp gia đình và kế hoạch tái hòa nhập Những biện pháp này được thực hiện một cách có tổ chức nhưng vẫn mang tính cá nhân cao, nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của từng bệnh nhân.

Liệu pháp tâm lý cá nhân cho bệnh nhân có vấn đề về rượu trước năm 1960 không đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, vào những năm 1980, liệu pháp này được khôi phục nhờ vào những cải tiến trong phương pháp điều trị tâm lý và sự phát triển của nhiều liệu pháp khác như liệu pháp hỗ trợ thể hiện, giao tiếp và hành vi nhận thức, cùng với việc áp dụng các quy định hạn chế về dược phẩm.

Hậu cai (giai đoạn chống tái nghiện)

Giai đoạn hậu điều trị và hậu chăm sóc tập trung vào các mục tiêu dài hạn có thể kéo dài từ 3 đến 5 năm hoặc lâu hơn Trong giai đoạn này, vai trò của gia đình và các tổ chức xã hội trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Đối với bệnh nhân, việc duy trì mối quan hệ điều trị là yếu tố then chốt Ngoài ra, nhận thức về hiện tượng tái nghiện cũng rất quan trọng, và việc chống tái nghiện thường được thực hiện thông qua các kỹ năng phù hợp, tái hòa nhập nghề nghiệp và mối quan hệ với các thành viên trong gia đình.

Phục hồi từ nghiện không chỉ đơn thuần là từ bỏ các chất gây nghiện mà còn bao gồm việc cải thiện chất lượng cuộc sống Quá trình này thường gặp nhiều khó khăn và thách thức.

Uống rượu trong giai đoạn hậu chăm sóc có thể được xem là tái nghiện, và việc nhận diện hiện tượng này là rất quan trọng cho quá trình phục hồi Xử lý tái nghiện một cách hợp lý có thể ngăn chặn cảm giác chán nản và vô dụng cho bệnh nhân, gia đình và nhóm điều trị, tránh việc bị coi là thất bại trong điều trị Sự chấp nhận hiện tượng tái nghiện từ tất cả mọi người sẽ góp phần cải thiện quá trình phục hồi và tiếp tục hỗ trợ trong việc chống tái nghiện.

Các chiến dịch chống tái nghiện tập trung vào việc xác định các yếu tố nguy cơ và áp dụng các biện pháp can thiệp cùng phương pháp điều trị để giảm thiểu những yếu tố này Mục tiêu chính là hỗ trợ bệnh nhân nhận diện các biện pháp phòng ngừa tái nghiện và phát triển kỹ năng xử lý hiệu quả.

8 Các quy định liên quan tới chăm sóc người bệnh cai rượu

Quyết định số 4946/QĐ-BYT ban hành tài liệu “Hướng dẫn sàng lọc và can thiệp giảm tác hại cho người có nguy cơ sức khỏe do uống rượu, bia tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và tại cộng đồng.” Tài liệu này nhằm cung cấp hướng dẫn cho các cơ sở y tế trong việc phát hiện và can thiệp kịp thời đối với những người có nguy cơ sức khỏe liên quan đến việc tiêu thụ rượu, bia.

Bệnh nhân cần được đặt trong môi trường an toàn và yên tĩnh Hạn chế cơ học có thể cần thiết tạm thời cho bệnh nhân bị sảng rượu nhằm bảo vệ cả bệnh nhân và người chăm sóc Tuy nhiên, khi đã đạt được liều an thần đầy đủ, cần phải loại bỏ các biện pháp hạn chế vật lý, vì sức đề kháng chống lại những biện pháp này có thể dẫn đến tăng nhiệt độ, gây ra chứng tiêu cơ vân và gây thương tích.

Các quy định liên quan tới chăm sóc người bệnh cai rượu

Quyết định số 4946/QĐ-BYT ban hành tài liệu “Hướng dẫn sàng lọc và can thiệp giảm tác hại cho người có nguy cơ sức khỏe do uống rượu, bia tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và tại cộng đồng.” Tài liệu này nhằm cung cấp hướng dẫn cụ thể cho các cơ sở y tế trong việc phát hiện và can thiệp kịp thời đối với những người có nguy cơ sức khỏe liên quan đến việc tiêu thụ rượu, bia.

Bệnh nhân cần được đặt trong môi trường an toàn và yên tĩnh Hạn chế cơ học có thể cần thiết tạm thời cho bệnh nhân bị sảng rượu nhằm bảo vệ cả bệnh nhân và người chăm sóc Tuy nhiên, khi đã đạt được liều an thần đầy đủ, cần loại bỏ các biện pháp hạn chế vật lý, vì sức đề kháng chống lại các biện pháp này có thể dẫn đến tăng nhiệt độ, gây ra chứng tiêu cơ vân và thương tích.

Dịch truyền tĩnh mạch là cần thiết cho bệnh nhân cai nghiện nặng do mất nước nhiều từ tăng thân nhiệt, đổ mồ hôi và nôn mửa Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân cai nghiện ít nghiêm trọng hơn, việc truyền dịch tĩnh mạch thường xuyên không nên thực hiện vì có nguy cơ gây quá tải dịch.

Trong giai đoạn đầu cai rượu mức độ trung bình đến nặng, bệnh nhân nghiện rượu thường nhịn ăn để tránh nguy cơ hít sặc Tuy nhiên, việc hỗ trợ dinh dưỡng là rất quan trọng vì họ thường bị suy dinh dưỡng và có nhu cầu trao đổi chất cao do trạng thái hưng phấn Ban đầu, việc bổ sung glucose qua đường tĩnh mạch là đủ, nhưng cần thiết phải cung cấp dinh dưỡng cho những bệnh nhân không thể ăn trong hơn một hoặc hai ngày.

Thiếu hụt thiamine (Vitamin B1) là vấn đề phổ biến ở 80% người nghiện rượu mãn tính, do chế độ ăn uống không đủ, giảm hấp thu qua đường tiêu hóa hoặc giảm dự trữ Tình trạng này có thể dẫn đến các bệnh nghiêm trọng như bệnh thần kinh ngoại biên, bệnh cơ tim và hội chứng Wernicke-Korsakoff Bệnh não Wernicke được nhận diện qua ba triệu chứng chính: rối loạn tâm thần kinh, bất thường vận động nhãn cầu và mất điều hòa dáng đi Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh não Wernicke có thể tiến triển thành hội chứng Korsakoff, gây tổn thương não vĩnh viễn.

Trong trường hợp nghiện rượu, những người có dinh dưỡng kém do kém hấp thu, chế độ ăn uống không đầy đủ, hoặc tăng nhu cầu trao đổi chất có nguy cơ cao mắc bệnh não Wernicke và cần được bổ sung thiamine Liều lượng và tần suất sử dụng thiamine nên dựa trên thực hành lâm sàng tiêu chuẩn, vì có rất ít bằng chứng kiểm soát để hỗ trợ các khuyến nghị Đối với bệnh nhân nghiện rượu, liều thiamine khuyến nghị là từ 100 đến 250 mg mỗi ngày, tùy thuộc vào tình trạng dinh dưỡng và nguy cơ mắc bệnh não Wernicke của họ.

Giới thiệu tóm tắt về Viện Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai

Viện Sức khỏe Tâm thần, thuộc Bệnh viện Bạch Mai, được thành lập từ Khoa Tâm thần của bệnh viện này Với lịch sử lâu dài, Viện Sức khỏe Tâm thần đã trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển.

Vào năm 1969, do nhu cầu và chức năng nhiệm vụ riêng biệt của từng chuyên ngành, Khoa Tâm – Thần kinh tại Bệnh viện Bạch Mai đã được chia thành hai khoa độc lập: Khoa Tâm thần và Khoa Thần kinh.

Từ năm 1969 đến năm 1991, Khoa Tâm thần hoạt động độc lập như các khoa khác trong Bệnh viện Bạch Mai

Vào ngày 08 tháng 08 năm 1991, Viện Sức khỏe Tâm thần được thành lập theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Tâm thần học tại Việt Nam và thế giới Viện được hình thành từ sự kết hợp giữa Khoa Tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai và các cán bộ biệt phái từ Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y.

Hà Nội và Bệnh viện Tâm thần Trung ương I Viện Sức khỏe Tâm thần là một Viện trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai

Viện được thành lập theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ Y tế, ký ngày

08/08/1991 Đây là một Viện đầu ngành về Tâm thần học với các chức năng và nhiệm vụ sau:

Chúng tôi tiếp nhận tất cả bệnh nhân mắc rối loạn tâm thần, bao gồm cả những người đến trực tiếp và những bệnh nhân được chuyển từ các bệnh viện khác, để thực hiện cấp cứu, khám bệnh, và điều trị nội trú cũng như ngoại trú.

 Nghiên cứu và chỉ đạo các cơ sở chuyên khoa nghiên cứu những vấn đề về Tâm thần học và tâm lý xã hội cấp bách hiện nay

Đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ chuyên khoa Tâm thần ở bậc đại học và sau đại học nhằm phục vụ hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng.

 Kết hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương trong công tác chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật chuyên khoa Tâm thần học trong cả nước

 Cùng với Viện Giám định Pháp y Tâm thần Trung ương thực hiện nhiệm vụ giám định pháp y tâm thần

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật về Tâm thần học là cần thiết để phát triển và nâng cao hoạt động chuyên ngành Tâm thần tại Việt Nam.

Phối hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương và các cơ quan liên quan để tuyên truyền và giáo dục kiến thức về chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng.

Viện Sức khỏe Tâm thần hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế, tập trung vào kế hoạch, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế Các hoạt động khác của viện được thực hiện theo quy chế của Viện nghiên cứu trong Bệnh viện Bạch Mai.

Những thành tựu nổi bật:

Công tác khám, chữa bệnh

Viện hiện có 258 giường bệnh nội trú với trung bình 250-280 người bệnh nội trú/ngày Số người bệnh đến khám ngoại trú từ 300-350 lượt/ngày

Các dịch vụ, kỹ thuật đang được thực hiện tại Viện bao gồm:

- Khám, tư vấn & điều trị ngoại trú;

- Khám và điều trị nội trú;

- Điện não đồ vi tính;

- Kích thích từ xuyên sọ;

- Tư vấn/Trị liệu tâm lý;

- Liệu pháp thư giãn luyện tập

Viện Sức khỏe Tâm thần là trung tâm hàng đầu về Tâm thần học, quy tụ các nhà khoa học uy tín và đóng vai trò quan trọng trong đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành này trên toàn quốc Viện cũng hợp tác chặt chẽ với Bộ môn Tâm thần, Đại học Y Hà Nội để nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu trong lĩnh vực tâm thần học.

- Liên tục đào tạo đại học cho sinh viên Y5 Đại học Y Hà Nội

- Tham gia đào tạo hệ cử nhân điều dưỡng của Đại học Y Hà Nội, Đại học Thăng Long, Đại học Tokyo

Hợp tác với Khoa Tâm lý của Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Công đoàn và Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn nhằm tạo cơ hội cho sinh viên Khoa Tâm lý thực tập và kiến tập tại Viện.

- Kết hợp với Bệnh viện tổ chức đào tạo cho các học viên của Trường Cao đẳng Y Bạch Mai đi luân khoa

Bệnh viện Bạch Mai phối hợp với Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến tổ chức các lớp đào tạo và đào tạo lại cho điều dưỡng tâm thần tại Viện Sức khỏe Tâm thần.

Chúng tôi liên tục tổ chức đào tạo và chuyển giao kỹ thuật về các xét nghiệm cận lâm sàng như điện não, lưu huyết não và trắc nghiệm tâm lý cho các bệnh viện tuyến tỉnh.

Tổ chức các hoạt động khoa học hàng tuần, bao gồm báo cáo chuyên đề và hội chẩn lâm sàng với sự tham gia của các Giáo sư, Phó Giáo sư chuyên ngành, nhằm nâng cao kiến thức về sức khỏe tâm thần cho cán bộ nhân viên của Viện.

Chương trình đào tạo sau đại học bao gồm các khóa nghiên cứu sinh, nội trú, cao học, và chuyên khoa cấp I, II về tâm thần, cả chính quy và không tập trung Ngoài ra, còn có các khóa đào tạo chứng chỉ hỗ trợ tâm thần cho các chuyên khoa khác, phục vụ cho nghiên cứu sinh, nội trú, cao học thần kinh và cao học y tế cộng đồng.

Viện xác định hợp tác quốc tế là nhiệm vụ chiến lược được Bộ Y tế giao phó Trong nhiều thập kỷ qua, Viện đã xuất sắc hoàn thành vai trò cầu nối giữa ngành Tâm thần học Việt Nam và thế giới Viện đã tổ chức thành công nhiều hội thảo khoa học quốc tế về Sức khỏe tâm thần, hợp tác với các tổ chức như WHO, Hội Tâm thần học Australia và Pháp.

Một số ưu điểm và tồn tại

Người bệnh được điều dưỡng theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị, và đã có những tiến triển tích cực trong việc chăm sóc và quản lý tại bệnh viện.

Nghiêm túc thực hiện quy chế quản lý buồng bệnh và buồng thủ thuật, điều dưỡng đã hướng dẫn bệnh nhân và người nhà về các nội quy của khoa phòng và bệnh viện một cách cụ thể.

Điều dưỡng thực hiện chăm sóc bệnh nhân theo đúng phân cấp, đảm bảo phân công chăm sóc cụ thể Họ cũng có trách nhiệm báo cáo kịp thời những diễn biến bất thường cho bác sĩ điều trị để có biện pháp xử lý kịp thời.

- Ghi chép các triệu chứng bất thường của NB và cách xử lý và phiếu theo dõi chăm sóc theo đúng quy định

- Nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ y lệnh của thầy thuốc

- Thực hiện chăm sóc NB theo đúng quy trình kỹ thuật

- Tham gia thường trực theo đúng quy chế thường trực dưới sự phân công của Điều dưỡng trưởng

Trong quá trình bàn giao bệnh nhân (NB) giữa giờ hành chính và giờ trực, điều dưỡng cần ghi chép lại những y lệnh còn lại trong ngày cùng với các yêu cầu theo dõi và chăm sóc cho từng bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân nặng.

- Đã hướng dẫn cho NB thực hiện chế độ dinh dưỡng phù hợp với tình trạng bệnh, tạo không khí vui vẻ thân thiện trong bữa ăn

- Tham gia công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe và hướng dẫn thực hành về công tác chăm sóc NB khi được điều dưỡng trưởng khoa phân công

- Động viên NB yên tâm điều trị, bản thân thực hiện tốt quy định y đức và chuẩn đạo đức nghề nghiệp

* Đối với nhân viên y tế:

- Điều dưỡng thời gian tiếp xúc nói chuyện với NB còn ít nên công tác tâm lý chưa đạt hiệu quả tối ưu

Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe của điều dưỡng chưa được thực hiện một cách toàn diện, chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn bệnh nhân về cách chăm sóc, ăn uống, vệ sinh, cũng như giải thích về bệnh và nguyên nhân gây bệnh.

- Việc tổ chức các hoạt động tập thể tại khoa như thể dục thể thao …còn ít và không thường xuyên.

Ngày đăng: 24/04/2023, 10:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w