1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NỮ BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1 NĂM 2022

43 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại khoa Bán cấp tính nữ Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 năm 2022
Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh
Người hướng dẫn ThS. Lê Thị Vân
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng Tâm thần
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp điều dưỡng chuyên khoa cấp I
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 916,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 (10)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (10)
      • 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm lâm sàng, triệu chứng của trầm cảm (10)
      • 1.1.2. Phân loại trầm cảm (13)
      • 1.1.3. Nguyên nhân và một số thói quen dẫn đến trầm cảm (13)
      • 1.1.4. Một số nguyên nhân trầm cảm thường gặp ở Việt nam (15)
      • 1.1.5. Tiêu chẩn chẩn đoán trầm cảm (18)
      • 1.1.6. Điều trị người bệnh trầm cảm (19)
      • 1.1.7. Chăm sóc người bệnh trầm cảm (23)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (25)
      • 1.2.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu bệnh trầm cảm (25)
      • 1.2.2. Một số nghiên cứu ở các nước trên thế giới (25)
      • 1.2.3. Một số nghiên cứu ở trong nước (26)
  • CHƯƠNG 2 (28)
    • 2.1. Giới thiệu Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 (28)
      • 2.2.1. Quá trình bệnh lý (29)
      • 2.2.2. Nhận định (30)
      • 2.2.3. Chẩn đoán chăm sóc (31)
      • 2.2.4. Lập kế hoạch chăm sóc (31)
      • 2.2.5. Thực hiện kế hoạch chăm sóc (32)
  • CHƯƠNG 3 (37)
    • 3.1. Thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại bệnh viện Tâm thần (37)
      • 3.1.2. Đối với người nhà người bệnh (37)
  • CHƯƠNG 4: (39)
    • 4.1. Đối với bệnh viện tâm thần trung ương 1 (39)
    • 4.2. Đối với nhân viên y tế (39)
    • 4.3. Với mạng lưới y tế cấp cơ sở (40)
    • 4.4. Đối với gia đình người bệnh (40)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (42)

Nội dung

Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố di truyền của bệnh rối loạn trầm cảm, và người ta thấy có sự liên quan giữa trầm cảm với nhiễm sắc thể X, và một số nghiên cứu cũ

Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm lâm sàng, triệu chứng của trầm cảm

Trầm cảm là một rối loạn y tế ảnh hưởng đến cả tâm trí và cơ thể, còn được gọi là rối loạn trầm cảm chính hoặc trầm cảm lâm sàng Tình trạng này tác động đến cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của người bệnh, dẫn đến nhiều vấn đề tình cảm và thể chất Người mắc trầm cảm thường gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày và có thể cảm thấy cuộc sống trở nên không đáng sống.

Trầm cảm là rối loạn tâm thần phổ biến nhất, với triệu chứng chính là buồn bã sâu sắc và sự thiếu quan tâm đến cuộc sống xung quanh Người mắc bệnh thường cảm thấy mệt mỏi, mất hy vọng vào tương lai và nhìn nhận thế giới như một nơi u ám.

Rối loạn trầm cảm có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào nhưng thường gặp nhất là ở lứa tuổi từ 18 – 44, nữ dễ bị trầm cảm gấp đôi nam

Hình 1.1: Trầm cảm (Nguồn: https://giadinhmoi.vn/) Đặc điểm lâm sàng

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần với các triệu chứng như mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn, và mất hứng thú trong cuộc sống Ở nam giới, trầm cảm thường xảy ra do áp lực công việc, khó khăn tài chính, hoặc mất mát trong cuộc sống Họ thường chịu đựng nỗi buồn một cách lặng lẽ, dẫn đến stress và cơn giận dữ không kiểm soát Trong khi đó, nữ giới thường biểu hiện qua cảm giác buồn bã, khóc, và thiếu hứng thú với các hoạt động hàng ngày, bao gồm cả tình dục Họ có thể ngủ quá nhiều hoặc không ngủ được, ăn uống không điều độ, và cảm thấy mệt mỏi, đau đớn mà không có sự cải thiện.

Các triệu chứng của rối loạn trầm cảm điển hình

Khí sắc trầm cảm thường biểu hiện qua cảm giác buồn rầu, uể oải, và mệt mỏi Người bệnh thường cảm thấy khó chịu, bất an, và thiếu sức sống, với nét mặt ủ rũ hoặc rơm rớm nước mắt Họ nhìn nhận quá khứ, hiện tại và tương lai một cách u ám, cảm thấy đau khổ và thất bại, tự đánh giá bản thân thấp kém và bất lực, như đang ở trong một ngõ cụt.

Rối loạn nhận thức ở bệnh nhân thường biểu hiện qua quá trình liên tưởng chậm chạp, khó khăn trong việc hồi tưởng, và dòng tư duy bị ngưng trệ Họ gặp khó khăn trong việc diễn đạt ý nghĩ thành lời nói, thậm chí có thể ít hoặc không nói Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể trải qua những ý nghĩ tự ti, cảm giác hèn kém, và những phẩm chất tiêu cực, cùng với cảm giác phạm tội và bị thiệt hại hoặc truy hại.

Rối loạn tâm thần vận động thường gặp ở những bệnh nhân rối loạn tâm thần nặng, khi họ có xu hướng ngồi im hàng giờ, ít di chuyển hoặc nằm yên trong những không gian yên tĩnh và kín đáo như buồng hoặc phòng tối, đồng thời tránh tiếp xúc với người khác.

Các biểu hiện lo âu thường gặp ở bệnh nhân bao gồm cảm giác lo lắng và sợ hãi về tương lai Họ trải qua căng thẳng và cảm giác nguy hiểm, luôn chờ đợi những điều không mong muốn xảy ra Điều này có thể dẫn đến phản ứng tấn công người khác, hành vi xung động, lo âu, và trong một số trường hợp, có thể xuất hiện ý định tự sát.

Các triệu chứng cơ thể của rối loạn thường xuyên thay đổi trong ngày, với mệt mỏi tăng lên vào buổi sáng Giảm cân có thể xảy ra, đặc biệt ở nữ giới, với mức giảm lên tới 10kg trong vài tháng, liên quan đến chán ăn, lo âu, tức ngực, chóng mặt, và đau vùng trước tim Ngoài ra, người bệnh có thể trải qua cảm giác kiến bò, giảm ham muốn tình dục, rối loạn kinh nguyệt, và dễ bị kích thích căng thẳng Trong trường hợp trầm cảm nặng, bệnh nhân có thể từ chối ăn hoặc ngược lại, ăn vô độ dẫn đến tăng cân.

Hành vi tự sát ở người bệnh trầm cảm nặng là một vấn đề nghiêm trọng, với khoảng 80% bệnh nhân có ý định tự sát Nguy cơ này thường gia tăng trong quá trình tiến triển của bệnh, đặc biệt khi điều trị chưa mang lại hiệu quả Việc xác định nguy cơ tự sát không hề đơn giản, vì bệnh nhân có thể che giấu ý định của mình, khiến cho việc phát hiện những suy nghĩ và hành vi này trở nên khó khăn Mức độ nguy hiểm của tự sát thường liên quan chặt chẽ đến cường độ lo âu và mức độ nghiêm trọng của trầm cảm.

- Trầm cảm đôi: Là trầm cảm điển hình xuất hiện ở người bệnh loạn khí sắc [5]

Hình 1.2: Dấu hiệu bệnh trầm cảm (Nguồn: https://shopduoc.vn/tt-benh-tram-cam-nguyen-nhan-dau-hieu-va-trieu-chung)

Trầm cảm nhìn chung có 3 loại chính:

Thường gặp nhất là cường độ trung bình và những trầm cảm này có thể gây ra loạn thần, thường là những hành vi tự sát hoặc muốn chết

Trầm cảm nội sinh là loại trầm cảm có tính chất hệ thống đối lập với trầm cảm tâm căn và đáp ứng tốt với điều trị hóa dược

Thường do các bệnh nội tiết, nhiễm trùng, chấn thương sọ não Trầm cảm thứ phát do nguyên nhân bệnh cơ thể, nhất là các bệnh cơ thể nặng

Tất cả các loại trầm cảm đều có thể dẫn đến ý định tự sát hoặc hành vi tàn bạo không tự chủ Để đánh giá năng lực chịu trách nhiệm, cần xem xét mức độ nghiêm trọng của trầm cảm và các cơn trầm cảm trong quá khứ.

1.1.3 Nguyên nhân và một số thói quen dẫn đến trầm cảm

Rối loạn khí sắc thường gặp ở trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn trong gia đình Nếu một trong hai cha mẹ mắc trầm cảm, nguy cơ con cái cũng bị trầm cảm sẽ tăng gấp đôi so với những trẻ có cha mẹ không có tiền sử bệnh Đặc biệt, nếu cả hai cha mẹ đều bị trầm cảm, xác suất trẻ em dưới 18 tuổi phát triển rối loạn khí sắc sẽ tăng gấp bốn lần.

Có ít bằng chứng cho thấy rằng các vấn đề hôn nhân của cha mẹ, như ly thân hay ly hôn, cũng như cấu trúc gia đình và các yếu tố kinh tế - xã hội, có thể là nguyên nhân gây ra trầm cảm ở trẻ em Thực tế, những vấn đề này dường như chỉ phát sinh sau khi trẻ đã trải qua trầm cảm, và sẽ cải thiện khi tình trạng trầm cảm được hồi phục bền vững.

Trẻ em trước tuổi dậy thì có thể trải qua giai đoạn trầm cảm, trong đó hormone tăng trưởng trong giấc ngủ tăng cao hơn so với trẻ em bình thường và trẻ em bị rối loạn cảm xúc không trầm cảm Những trẻ em này cũng tiết ra ít hormone tăng trưởng hơn khi phản ứng với sự giảm đường huyết do insulin gây ra, và hai bất thường này có thể kéo dài từ ba đến bốn tháng sau khi tình trạng lâm sàng ổn định và không sử dụng thuốc.

Một số thói quen dẫn đến bệnh trầm cảm

Người bị trầm cảm không thể tìm thấy hứng thú trong bất kỳ công việc gì

Trầm cảm có thể do nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả yếu tố thể chất và tâm lý Dưới đây là một số thói quen có thể dễ dàng dẫn đến tình trạng trầm cảm.

Lười vận động có thể gây ra trầm cảm, khi con người ở trong nhà suốt cả ngày mà không tham gia hoạt động thể chất nào Tình trạng này dẫn đến lười biếng và tăng cân, từ đó làm giảm khả năng vận động và sự tự tin Việc duy trì hoạt động thể chất là rất quan trọng để tránh rơi vào trạng thái trầm uất.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu bệnh trầm cảm

Thuật ngữ "trầm cảm" hay "sầu uất" (Melancholie) được Hippocrate (460 – 377 trước công nguyên) sử dụng để mô tả các rối loạn tâm thần có biểu hiện rối loạn khí sắc Vào năm 1686, Bonet đã mô tả một bệnh tâm thần mà ông gọi là bệnh hưng cảm – sầu uất.

E Esquirol identified a type of depression known as "melancholic mania," which he categorized as a form of partial insanity (Folies partielles) characterized by a state of sad delusion.

Năm 1882, K Kahlbaum đã giới thiệu thuật ngữ “Cyclothymia” để mô tả các giai đoạn hưng cảm và trầm cảm như là phần của một bệnh duy nhất E Kraepelin vào năm 1899 đã tổng hợp các biểu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển của bệnh từ các nhà tâm thần học Pháp và Đức, đặt tên cho nó là bệnh loạn thần hưng - trầm cảm Trước những năm 80 của thế kỷ XX, rối loạn trầm cảm được xem như một giai đoạn của bệnh loạn thần hưng - trầm cảm Trong 30 năm qua, những tiến bộ trong việc mô tả và phân loại rối loạn trầm cảm đã thúc đẩy nghiên cứu về dịch tễ, bệnh nguyên và bệnh sinh của các rối loạn này một cách chi tiết và hợp lý.

1.2.2.Một số nghiên cứu ở các nước trên Thế giới

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cảnh báo rằng số người mắc bệnh trầm cảm đã tăng nhanh chóng, với hơn 350 triệu người hiện đang sống với căn bệnh này Mỗi năm, trầm cảm cướp đi khoảng 1 triệu mạng sống, tương đương với 2900 ca tự tử mỗi ngày Bệnh trầm cảm hiện đứng thứ hai trong số các bệnh phổ biến toàn cầu, cho thấy sự gia tăng đáng lo ngại về sức khỏe tâm thần trên toàn thế giới.

Theo The Huffing Post, ngày 27/7/2011, tỷ lệ dân số mắc bệnh trầm cảm ở các nước giàu trung bình là 15%, trong khi ở các nước nghèo là 11% Pháp có tỷ lệ cao nhất với 21%, tức là 1 trong 5 người Pháp sẽ mắc bệnh trầm cảm trong đời Tiếp theo là Mỹ với 19,2%, Brazil 18,4%, Hà Lan 17,9%, New Zealand 17,8%, Ukraine 14,6%, Bỉ 14,1%, Colombia 13,3%, Lebanon 10,9%, Tây Ban Nha 10,6%, Israel 10,2%, Đức 9,9%, Ý 9,9%, Hàn Quốc 9,8%, Ấn Độ 9%, Mexico 8%, Nhật Bản 6,6% và Trung Quốc 6,5%.

Tại Mỹ, hiện có khoảng 27 triệu người mắc bệnh trầm cảm, con số này đã tăng gấp ba lần trong 20 năm qua Mỗi năm, hơn 300.000 người tự tử, trong đó 60% là những người đang sống chung với bệnh trầm cảm.

Tại Châu Âu, khủng hoảng đã dẫn đến sự gia tăng đột biến trong số người mắc bệnh trầm cảm và tự tử, với 215 triệu người dự kiến sẽ bị rối loạn tâm lý do cuộc sống khó khăn Tại Anh, số lượng yêu cầu điều trị chống trầm cảm đã tăng 28%, từ 34 triệu người vào năm 2007 lên 43,4 triệu người vào năm 2011.

1.2.3 Một số nghiên cứu ở trong nước

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Siêm về trầm cảm tại xã Quất Động, Thường Tín, Hà Nội năm 2010 cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm ở người trên 15 tuổi là 8,35%, với tỷ lệ nữ/nam là 5/1 Đặc biệt, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở độ tuổi 30 – 59 chiếm 58,21%, trong khi đó tỷ lệ ở người từ 60 tuổi trở lên là 36,9% Tỷ lệ mắc mới là 0,48%, và phần lớn người bệnh (94,24%) đã mắc bệnh trên 1 năm, trong đó 70,3% có thời gian mắc bệnh trên 4 năm Tính chất tiến triển của bệnh rất rõ rệt, với 93,6% trường hợp là trầm cảm tái diễn.

Nghiên cứu của Trần Văn Cường và cộng sự (2011) cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tâm thần tại 8 địa điểm khác nhau là 12,5%, trong đó rối loạn trầm cảm F32 chiếm 2,4% dân số Tỷ lệ người bệnh khám tại cơ sở y tế nhà nước là 31,9%, trong khi tại cơ sở y tế tư nhân là 21,9%, và 68,5% người bệnh chưa bao giờ đi khám Đặc biệt, thái độ của gia đình và cộng đồng đối với người bệnh vẫn còn xa lánh và hắt hủi, chiếm 68,5%.

Nghiên cứu của Phạm Tú Dương và cộng sự vào năm 2000 tại Hải Phòng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc trầm cảm là 5,8%, với tỷ lệ mắc ở nữ cao hơn nam, đạt tỷ lệ 2,1/1.

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Cao tại thị xã Sông Cầu, Bắc Cạn cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 4,3%.

Giới thiệu Bệnh viện Tâm thần trung ương 1

Bệnh viện Tâm thần trung ương I, thành lập tháng 6 năm 1963, ban đầu là trạm chăm sóc cán bộ Miền Nam, hiện nay đã trở thành Bệnh viện Tâm thần trung ương với quy mô 600 giường bệnh Bệnh viện đã phát triển thành cơ sở chuyên khoa Tâm thần hàng đầu cả nước, sở hữu cơ sở hạ tầng khang trang và trang thiết bị y tế hiện đại Đội ngũ thầy thuốc tại đây có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao, góp phần vào những thành tựu lớn trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, được cộng đồng và bạn bè quốc tế đánh giá cao.

Trong 5 năm vừa qua bệnh viện đã triển khai một số kỹ thuật mới phục vụ công tác chẩn đôán, phục vụ người bệnh như: máy Dopler siêu âm suyên sọ, máy siêu âm màu 3 chiều, máy khí sắc, máy điện não vi tính và các trang thiết bị hiện đại khác Trình độ cán bộ viên chức cũng được nâng cao, tỉ lệ bác sỹ, điều dưỡng và trình độ của các cán bộ chủ chốt của bệnh viện đều đạt và vượt mức quy định của bệnh viện chuyên khoa hạng 1 So với thời kỳ đầu thành lập bệnh viện mới có 3 bác sỹ, 10 y sỹ thì nay đội ngũ cán bộ bệnh viện đã nâng cao rất nhiều: có 1 phó giáo sư, 5 tiến sỹ, 10 bác sỹ chuyên khoa II, 18 thạc sỹ, 35 bác sỹ chuyên khoa I, trên 20 điều dưỡng có trình độ sau đại học trên tổng số 567 nhân viên Với 11 khoa lâm sàng, 5 khoa cận lâm sàng và các phòng ban chức năng để bảo đảm chức năng nhiệm vụ sau:

- Khám chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần ở tuyến cao nhất

- Là cở sở tham gia đào tạo cán bộ chuyên ngành tâm thần và chỉ đạo tuyến

Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ hiện đại là cần thiết để nâng cao sức khỏe cộng đồng, đồng thời đảm bảo sự phát triển ngang tầm với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Quy trình điều trị, chăm sóc và quản lý bệnh nhân nội trú được thực hiện theo quyết định số 19, ký và ban hành bởi giám đốc bệnh viện vào ngày 04 tháng 6 năm 2008.

Hình 2.1: Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 2.2 Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể:

1 Họ và tên người bệnh: TRẦN THỊ HƯƠNG

5 Nghề nghiệp: Cô giáo mầm non

6 Địa chỉ: Thôn Lộc Dư – Xã Tân Minh –Thường Tín– Hà Nội

8 Lý do vào viện: Mất ngủ, buồn chán

Người bệnh là con thứ hai trong gia đình, có sự phát triển thể chất và tinh thần bình thường từ nhỏ đến lớn Sau khi hoàn thành lớp 12, người bệnh học sư phạm mầm non, kết hôn và sinh hai con, trong đó con lớn 5 tuổi và con nhỏ 3 tuổi.

Khoảng 2 năm trước, người bệnh gặp phải tình trạng ngủ không đều, lo lắng về việc mất ngủ, dẫn đến khó khăn trong việc vào giấc và cảm thấy mệt mỏi vào buổi sáng Họ cũng không có cảm giác thèm ăn, thường xuyên cáu gắt với chồng và người thân, cảm thấy buồn chán và sợ tiếng động, không thể chăm sóc gia đình và không muốn tham gia vào các hoạt động vui chơi Sau khi được gia đình đưa đi khám bác sĩ chuyên khoa, mặc dù không rõ chẩn đoán và thuốc điều trị, tình trạng bệnh đã ổn định và người bệnh có thể tự mình buôn bán và chăm sóc gia đình.

Khoảng 2 tháng nay bệnh tái phát trở lại, đêm mất ngủ, có đêm thức trắng, lo lắng nhiều về bệnh, có cơn tức ngực khó thở, mệt nhiều chủ yếu vào buổi sáng sớm, ăn không ngon miệng, sút cân, đau đầu, chóng mặt, đi đứng hay ngã, không quan tâm đến sở thích trước đây, nằm nhiều Thấy vậy, gia đình đã đưa người bệnh đến Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, xin khám và điều trị

- Tuần hoàn: Nhịp tim đều, nghe tiếng T1, T2 rõ

- Hô hấp : Lồng ngực hai bên cân đối, nhịp thở đều

- Tiêu hóa : Bụng mềm, không chướng, gan lách không sờ thấy

- Thận, tiết niệu, sinh dục : Bình thường

- Cơ – Xương - Khớp : Bình thường

- Tai, mũi, họng : Bình thường

- Răng, hàm, mặt : Bình thường

- Các bệnh lý khác : Chưa thấy có biểu hiện bệnh lý

- Không có tổn thương liệt khu trú

- Vận động tứ chi : Bình thường

- Trương lực cơ : Bình thường

- Cảm giác (nông, sâu) : Không rối loạn

- Phản xạ : Phản xạ gân xương đáp ứng đều hai bên

- Biểu hiện chung : Ăn mặc lôi thôi

- Ý thức định hướng : Không gian, thời gian, bản thân : Xác định đúng

- Tình cảm, cảm xúc : Khí sắc trầm buồn, lo lắng nhiều, đang nói lại khóc

- Tri giác : Không có ảo tưởng, ảo giác

+ Hình thức : Nhịp chậm rời rạc

+ Nội dung : Không có hoang tưởng

+ Hành động ý trí : Chậm chạp, nằm nhiều, giảm quan tâm thích thú

+ Hoạt động bản năng : Ăn ngủ kém

- Chú ý : Độ tập trung giảm

Các thuốc đang dùng cho người bệnh :

- Nufotin 20mg × 2 viên (uống 1 viên 10h và 1 viên 20h)

- Sulpiride 50mg × 3 viên (uống 1 viên 10h và 2 viên 20h)

- Aulakas × 4 viên (uống 2 viên 10h và 2 viên 20h)

Người bệnh buồn chán, không có động lực sống do ảnh hưởng của bệnh lý trầm cảm

Người bệnh rối loạn giấc ngủ

Nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng do người bệnh từ chối ăn

Người bệnh lười vệ sinh cá nhân

Người bệnh giảm vận động, tiếp xúc xã hội do ảnh hưởng của bệnh lý

Gia đình lo lắng, thiếu kiến thức về bệnh

2.2.4 Lập kế hoạch chăm sóc

Cải thiện, chăm sóc tâm lý cho người bệnh

Giảm triệu chứng rối laonj giấc ngủ cho người bệnh

Bổ sung dinh dưỡng cho người bệnh

Hướng dẫn người bệnh chăm sóc vệ sinh cá nhân

Tăng cường vận động và tiếp xúc xã hội cho người bệnh

Tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh

2.2.5 Thực hiện kế hoạch chăm sóc

Giai đoạn 1: từ ngày 9/7/2022 đến 05/8/2022

- Theo dõi sát diễn biến bệnh

Hiện tại, người bệnh tỉnh táo và có thể trả lời, nhưng chưa tham gia vào các hoạt động trong khoa như thể dục, vệ sinh buồng bệnh và các liệu pháp khác Các dấu hiệu bệnh lý khác vẫn ổn định và không có vấn đề gì đặc biệt.

- Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho người bệnh

+ Động viên người bệnh ăn hết khẩu phần, điều dưỡng tạo không khí vui vẻ thoải mái khi người bệnh ăn trong bếp ăn tập thể

Người bệnh nên ăn thức ăn mềm, dễ tiêu và giàu chất xơ, đảm bảo bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng, cân đối về thành phần và cung cấp đủ năng lượng Ngoài ra, cần uống đủ nước trong ngày và khuyến khích người bệnh ăn hết xuất cơm.

- Nhắc nhở người bệnh vệ sinh cá nhân hàng ngày

+ Đưa người bệnh lên phòng tắm; gội đầu và tắm, thay quần áo sạch cho người bệnh

+ Hướng dẫn người bệnh vệ sinh cá nhân, đánh răng ngày 2 lần buổi sáng dậy và trước khi đi ngủ

+ Sắp xếp người bệnh trầm cảm vào buồng bệnh cùng với người bệnh ổn định để theo dõi

+ Loại bỏ vật dụng nguy hại đến đến tính mạng người bệnh như (dao kéo, dây, vật sắc nhọn…)

Thường xuyên giám sát và theo dõi người bệnh trong quá trình giao ca, đặc biệt vào ban đêm và khi người bệnh tỉnh táo, là rất quan trọng để ngăn chặn hành vi tự sát.

+ Đi tua buồng bệnh 15 phút/ lần

+ Thông báo kịp thời cho bác sĩ và nhân viên trong khoa về diễn biến của người bệnh để cùng phối hợp

Giai đoạn 2: Từ ngày 06/8/2022 đến 06/9/2022

- Theo dõi sát diễn biến bệnh

Hiện tại, bệnh nhân tỉnh táo và có thể giao tiếp, nhưng chưa tham gia vào các hoạt động trong khoa như thể dục, vệ sinh buồng bệnh và các liệu pháp khác Các dấu hiệu bệnh lý khác vẫn ổn định và không có vấn đề gì đặc biệt.

- Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho người bệnh

+ Động viên người bệnh ăn hết khẩu phần, điều dưỡng tạo không khí vui vẻ thoải mái khi người bệnh ăn trong bếp ăn tập thể

Người bệnh nên ăn thức ăn mềm, dễ tiêu và giàu chất xơ, đảm bảo bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng, cân đối về thành phần và cung cấp đủ năng lượng Họ cũng cần uống đủ nước trong suốt cả ngày và ăn hết xuất cơm.

- Nhắc nhở người bệnh vệ sinh cá nhân hàng ngày

+ Đưa người bệnh lên phòng tắm; gội đầu và tắm, thay quần áo sạch cho người bệnh

+ Hướng dẫn người bệnh vê sinh cá nhân, đánh răng ngày 2 lần buổi sáng dậy và trước khi đi ngủ

+ Sắp xếp người bệnh trầm cảm vào buồng bệnh cùng với người bệnh ổn định để theo dõi

+ Loại bỏ vật dụng nguy hại đến đến tính mạng người bệnh như (dao kéo, dây, vật sắc nhọn…)

Thường xuyên giám sát người bệnh trong quá trình giao ca, đặc biệt vào ban đêm và khi bệnh nhân tỉnh táo, là rất quan trọng để ngăn chặn hành vi tự sát.

+ Đi tua buồng bệnh 15 phút/ lần

+ Thông báo kịp thời cho bác sĩ và nhân viên trong khoa về diễn biến của người bệnh để cùng phối hợp

Giáo dục sức khỏe cho người bệnh: [4]

Hình 2.2: Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh (Nguồn: Bệnh viện Tâm thần Trung ương)

Tư vấn và hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe trong bệnh trầm cảm

- Gia đình thường xuyên gần gũi, động viên an ủi người bệnh

- Biết động viên khuyên giải người bệnh yên tâm, tin tưởng vào điều trị

- Biết tạo không khí vui tươi, tránh sang chấn tâm lý người bệnh

Tăng cường hoạt động như đi dạo, xem ti vi, hay xem đá bóng giúp người bệnh quên đi những buồn phiền và ý nghĩ tiêu cực, đồng thời cải thiện nhận thức về bệnh tật.

- Thường xuyên gần gũi theo dõi người bệnh để phát hiện kịp thời những ý tưởng và hành vi tự sát (nếu có)

Loại bỏ các vật dụng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng và kiểm tra kỹ lưỡng việc sử dụng thuốc của bệnh nhân để ngăn ngừa hành vi tự sát.

- Biết chăm sóc vệ sinh cho người bệnh nếu người bệnh không tự làm

Thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại bệnh viện Tâm thần

3.1 Thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại bệnh viện Tâm thần Trung ương 1

3.1.1 Đối với nhân viên y tế

- Điều dưỡng lập kế hoạch chăm sóc cho người bệnh còn sơ sài, chưa đáp ứng hết nhu cầu chăm sóc của người bệnh

- Điều dưỡng chưa thực sự lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người bệnh để giúp đỡ họ về mặt tâm lý

Điều dưỡng cần cải thiện việc giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, đặc biệt là cung cấp đầy đủ kiến thức về bệnh trầm cảm cho cả bệnh nhân và người nhà của họ.

- Nhân viên y tế chưa phát huy hết các liệu pháp tâm lý dùng cho người bệnh

Điều dưỡng làm việc theo mô hình nhóm/ca, phụ trách từ 2 đến 3 buồng bệnh, dẫn đến việc họ không có nhiều thời gian dành cho bệnh nhân Do đó, các hoạt động tập thể tại khoa như thể dục thể thao hay lao động làm vườn gần như không được tổ chức.

Nhân viên y tế chưa khai thác tối đa khả năng và trách nhiệm của mình, thường chỉ thực hiện các nhiệm vụ như cho bệnh nhân uống thuốc, tiêm truyền theo y lệnh, và nhắc nhở bệnh nhân cũng như người nhà về việc vệ sinh cá nhân.

Sau khi sử dụng thuốc, nhân viên y tế không theo dõi đầy đủ và kịp thời các tác dụng phụ, chủ yếu dựa vào thông tin từ người nhà bệnh nhân Họ chỉ nhận biết được tình trạng khi có báo cáo từ người nhà hoặc bệnh nhân.

3.1.2 Đối với người nhà người bệnh

Nhiều gia đình của người bệnh thường cảm thấy chán nản và mệt mỏi, dẫn đến việc thiếu sự quan tâm cần thiết đối với người bệnh Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, họ thường bỏ mặc người bệnh, không đưa đi viện hoặc nếu có đưa đi thì lại bỏ rơi tại bệnh viện mà không chăm sóc.

Gia đình người bệnh thường thiếu kiến thức về bệnh tật và cách chăm sóc, dẫn đến việc họ tin rằng bệnh là do ma quỷ gây ra Họ thường đưa người bệnh đi cúng bái tại các phủ, đền, chùa, và chỉ khi tình hình kinh tế kiệt quệ mà bệnh tình không thuyên giảm, họ mới quyết định đưa người bệnh đến bệnh viện để khám và điều trị.

Chế độ lao động, làm việc và dinh dưỡng của người bệnh trầm cảm thường chưa được gia đình chú trọng đúng mức Cần đảm bảo người bệnh ăn những thực phẩm dễ tiêu, giàu năng lượng và nhiều rau xanh, phù hợp với khẩu vị của họ Ngoài ra, khuyến khích người bệnh ngồi dậy, đứng lên, đi lại nhẹ nhàng trong phòng, tham gia vào các hoạt động như nhặt rau, nấu cơm, quét nhà và chơi các môn thể thao mà họ từng yêu thích.

Việc không động viên và giao cho người bệnh những công việc nhẹ nhàng phù hợp với khả năng của họ có thể dẫn đến áp lực quá mức Khi người bệnh bị áp đặt công việc quá sức, họ có thể không hoàn thành nhiệm vụ, từ đó gây ra cảm giác tự ti, bi quan và chán nản.

3.2 Những vấn đề còn tồn tại

Hầu hết bệnh nhân điều trị tại viện không có người thân ở lại chăm sóc, dẫn đến tình trạng một số người bệnh bị bỏ lại khi đã ổn định mà không có ai đón về Điều này tạo ra áp lực lớn cho đội ngũ y bác sĩ.

Nhiều bệnh nhân không nhận thức được tình trạng bệnh tật của mình, dẫn đến việc họ không hợp tác trong quá trình điều trị, có thể bỏ thuốc hoặc thậm chí trốn viện.

Chế độ đặc thù của ngành hiện nay còn thấp, gây khó khăn cho đời sống của nhân viên Điều này dẫn đến tình trạng nhân viên không yên tâm công tác và thiếu sự yêu mến đối với ngành nghề của mình.

Đối với bệnh viện tâm thần trung ương 1

Cần tăng cường công tác truyền thông qua loa đài, tờ rơi và áp phích tại các địa phương để người dân hiểu rõ tác hại của bệnh trầm cảm Việc nâng cao nhận thức về bệnh sẽ giúp họ sớm đưa người bệnh đi khám bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Đào tạo liên tục và đào tạo lại hàng năm cho bác sĩ trẻ và điều dưỡng viên tại các bệnh viện tâm thần là cần thiết để họ cập nhật kiến thức mới và phương pháp điều trị hiện đại, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

Các bệnh viện tâm thần trung ương và tuyến tỉnh cần thành lập khoa điều trị trầm cảm để nâng cao chuyên môn và cải thiện hiệu quả điều trị cho người bệnh.

Đối với nhân viên y tế

Khi người bệnh nằm điều trị tại Bệnh viện thì:

- Động viên, quan tâm và giúp đỡ người bệnh bị trầm cảm

- Giáo dục sức khỏe, hướng dẫn giải thích cho người bệnh người nhà người bệnh hiểu rõ thế nào là bệnh trầm cảm

- Khi người bệnh chống đối dùng thuốc thì phải giải thích tại sao phải uống thuốc, và cách uống thuốc như thế nào

- Sau khi dùng thuốc, hướng dẫn tác dụng phụ của thuốc

- Giải thích cho người nhà biết cách ứng xử với những biểu hiện bất thường của bệnh cũng như tác dụng phụ của thuốc

Phục hồi chức năng là bước quan trọng sau khi người bệnh đã điều trị ổn định Người bệnh cần được hướng dẫn cách tự chăm sóc bản thân, bao gồm việc tự tắm giặt và vệ sinh cá nhân trước khi đi ngủ cũng như sau khi thức dậy Bên cạnh đó, việc sắp xếp không gian sống gọn gàng, ngăn nắp và sạch sẽ cũng rất cần thiết để hỗ trợ quá trình hồi phục.

Các liệu pháp tâm lý – xã hội tập trung vào việc cải thiện trạng thái tâm lý của bệnh nhân, giúp họ cảm thấy thoải mái và vui vẻ hơn Những liệu pháp này không chỉ nâng cao sự tự tin mà còn hình thành niềm lạc quan và tin tưởng vào quá trình điều trị.

Nhân viên y tế hướng dẫn người bệnh các kỹ năng cộng đồng cần thiết, bao gồm việc tránh các khu vực đông đúc khi đi du lịch, sử dụng các dịch vụ công cộng như xe buýt, điện thoại, và tiếp cận các dịch vụ trong bệnh viện.

Giáo dục giúp người bệnh nhận thức rõ quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, bao gồm việc yêu cầu hỗ trợ khi cần thiết và tham gia tích cực vào các hoạt động cộng đồng.

Với mạng lưới y tế cấp cơ sở

- Điều tra dịch tễ học trầm cảm cấp cơ sở

- Có lịch thăm khám bệnh cho người bệnh trầm cảm tại gia đình nhằm nắm rõ hoàn cảnh kinh tế và yếu tố ảnh hưởng đến bệnh trầm cảm

- Khám bệnh định kỳ hàng tháng, hàng quý cho người bệnh

- Tích cực vận động người bệnh tham gia bảo hiểm y tế và điều trị y tế

Liên hệ với các tổ chức địa phương để hỗ trợ người bệnh trầm cảm tái hòa nhập cộng đồng bằng cách mời họ tham gia vào các hoạt động hàng ngày của bạn và mọi người.

Liên lạc thường xuyên với người thân của bệnh nhân trầm cảm là rất quan trọng, giúp gia đình cùng nhau vượt qua những khó khăn mà người bệnh đang gặp phải.

Tổ chức lớp tập huấn cho gia đình người bệnh giúp họ nắm vững kiến thức về bệnh, bao gồm kỹ năng chăm sóc và phát hiện triệu chứng cấp cứu, từ đó có thể kịp thời đưa người bệnh đi điều trị.

- Đối tượng học viên trong lớp là các thành viên trong gia đình người bệnh bị trầm cảm

- Thời gian đào tạo bố trí phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ, tốt nhất là bố trí thời gian ngoài giờ.

Đối với gia đình người bệnh

Gia đình người bệnh cần nhận thức rằng việc chăm sóc người bệnh trầm cảm không chỉ dựa vào thuốc mà còn cần sự quan tâm và chăm sóc tâm lý từ phía gia đình Điều này rất quan trọng để giúp người bệnh tái hòa nhập với cuộc sống và xã hội.

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và động viên người bệnh, giúp họ vượt qua những mặc cảm Sự gần gũi và cảm thông từ gia đình khuyến khích người bệnh tham gia vào các hoạt động lao động tập thể, học nghề và thực hiện các công việc nội trợ như nấu ăn và dọn dẹp nhà cửa.

- Gia đình người bệnh cần nắm rõ được những nguy cơ làm cho bệnh ngày càng nặng lên như tâm trạng lo lắng,buồn chán, phiền muộn…

- Khi người bệnh rơi vào trạng thái trầm buồn, sa sút thì gia đình cần vệ sinh cho người bệnh khi họ không thể tự làm được

Khi người bệnh đã ổn định và trở về cộng đồng, gia đình cần khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động nhẹ nhàng phù hợp với khả năng của mình Việc này giúp người bệnh tránh rơi vào trạng thái thụ động và duy trì sự tích cực, nhưng cần lưu ý không ép buộc họ làm việc quá sức.

- Bố trí thời gian tham gia đầy đủ các lớp tập huấn kiến thức về bệnh và chăm sóc người bệnh trầm cảm

- Quản lý thuốc chặt chẽ và cho người bệnh uống thuốc đều hàng ngày theo đơn và hướng dẫn của thầy thuốc

- Phát hiện kịp thời các triệu chứng của bệnh hay tác dụng phụ của thuốc, để kịp thời báo cáo ngay cho bác sĩ chuyên khoa tâm thần

- Tuyệt đối gia đình không tỏ thái độ lạnh nhạt, thờ ơ, hành hạ, ngược đãi, khinh rẻ, mạt sát người bệnh

Gia đình không nên theo đuổi mê tín dị đoan hay cúng bái cho người bệnh Khi phát hiện các triệu chứng của bệnh, cần nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế chuyên khoa tâm thần để được khám và điều trị kịp thời.

Ngày đăng: 08/05/2023, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Quỳnh Anh, Tạ Đỡnh Cao và Cao Văn Tuõn (2018), ô Rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành xó Chiềng Đen thành phố Sơn La tỉnh Sơn La năm 2017 ằ. Tạp chớ nghiên cứu y học. 113(4), tr 123 – 130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ô Rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành xó Chiềng Đen thành phố Sơn La tỉnh Sơn La năm 2017 ằ
Tác giả: Trần Quỳnh Anh, Tạ Đỡnh Cao, Cao Văn Tuõn
Nhà XB: Tạp chớ nghiên cứu y học
Năm: 2018
2. Bộ Y tế (2020). Quyết định số 2058/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn ô Hướng dẫn chẩn đoỏn và điều trị một số rối laonj tõm thần thường gặp ằ ban hành ngày 14/5/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 2058/QĐ-BYT về việc ban hành tài liệu chuyên môn ô Hướng dẫn chẩn đoỏn và điều trị một số rối laonj tõm thần thường gặp
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2020
3. Bệnh viện Tâm thần Trung Ương 1 (2018), Tài liệu đào tọa liên tục cập nhật kiến thức mới trong công tác chăm sóc, quản lý người bệnh tâm thần, tr 36-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tọa liên tục cập nhật kiến thức mới trong công tác chăm sóc, quản lý người bệnh tâm thần
Tác giả: Bệnh viện Tâm thần Trung Ương 1
Năm: 2018
4. La Đức Cương và Trần Trung hà (2013), ô Điều tra dịch tễ lõm sàng 10 rối loạn tõm thần thường gặp ở cộng đồng thuộc 8 vựng kinh tế xó hội khỏc nhau trờn cả nước ằ, Tạp chí Tâm thần học, số 4, tr 23 – 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ô Điều tra dịch tễ lõm sàng 10 rối loạn tõm thần thường gặp ở cộng đồng thuộc 8 vựng kinh tế xó hội khỏc nhau trờn cả nước ằ
Tác giả: La Đức Cương, Trần Trung hà
Nhà XB: Tạp chí Tâm thần học
Năm: 2013
5. Nguyễn Thanh Cao (2011), Thực trạng trầm cảm và một số yếu tố nguy cơ đến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu thị xã Bắc Cạn năm 2011 và đề xuất một số giải pháp, Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, trường Đại học Y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng trầm cảm và một số yếu tố nguy cơ đến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu thị xã Bắc Cạn năm 2011 và đề xuất một số giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thanh Cao
Nhà XB: trường Đại học Y dược Thái Nguyên
Năm: 2011
6. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Siêm ( 1991 ), Rối loạn trầm cảm, Bách khoa thư bệnh học, Hà nội, tr. 215 – 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Siêm
Nhà XB: Bách khoa thư bệnh học
Năm: 1991
7. Trần Văn Long. ( 2009 ), " Bài giảng GDSK dành cho đối tượng cao đẳng, đại học &#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng GDSK dành cho đối tượng cao đẳng, đại học
Tác giả: Trần Văn Long
Năm: 2009
8. Tô Thanh Phương. ( 2006 ). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm nặng và điều trị bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần. Luận án Tiến sĩ y học. Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm nặng và điều trị bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần
Tác giả: Tô Thanh Phương
Nhà XB: Học viện Quân Y
Năm: 2006
9. Nguyễn Văn Siêm và cộng sự. Kết quả xây dựng mô hình chăm sóc người bệnh trầm cảm tại cộng đồng, Nội san tâm thần học, Thường Tín 1. 2002, tr. 17.* Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xây dựng mô hình chăm sóc người bệnh trầm cảm tại cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Văn Siêm, cộng sự
Nhà XB: Nội san tâm thần học
Năm: 2002
10. Chantra R. and et al (2019). Effect of Nursing Interventions on Depression Treatment in Depressive Patients : A Meta Analysis. International Journal of Public Health and Health Sciences, 1 (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of Nursing Interventions on Depression Treatment in Depressive Patients : A Meta Analysis
Tác giả: Chantra R., et al
Nhà XB: International Journal of Public Health and Health Sciences
Năm: 2019
11. Elizabeth G.Adams (2019). Treatment of Depression in Integrated Care : Implemetation of the Nurse Care Manager. SAGE Open Nursing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment of Depression in Integrated Care : Implemetation of the Nurse Care Manager
Tác giả: Elizabeth G. Adams
Nhà XB: SAGE Open Nursing
Năm: 2019

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN