1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) thực trạng chăm sóc bệnh nhân trầm cảm tại khoa bán cấp tính nam bệnh viện tâm thần trung ương 1

43 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Chăm Sóc Bệnh Nhân Trầm Cảm Tại Khoa Bán Cấp Tính Nam Bệnh Viện Tâm Thần Trung Ương 1
Tác giả Bùi Ngân Hà
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Bá Tâm
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Chăm sóc sức khỏe tâm thần
Thể loại báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 512,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố di truyền của bệnh rối loạn trầm cảm, và người ta thấy có sự liên quan giữa trầm cảm với nhiễm sắc thể X và một số nghiên cứu cũn

Trang 1

TRƯỜNG Đ

THỰC TRẠ TRẦM CẢM T BỆNH VIỆN

BÁO CÁO CHUYÊN Đ

BỘ Y TẾ

NG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÙI NGÂN HÀ

ẠNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN

M TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM

N TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2018

P TÍNH NAM

Trang 2

TRƯỜNG Đ

THỰC TRẠ TRẦM CẢM BỆNH VIỆN

N TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1

Chuyên ngành: CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo của riêng tôi Các kết quả trong chuyên đề là trung thực

và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nam Định, tháng 9 năm 2018

Học viên Bùi Ngân Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt chuyên đề này Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn ThS Ngyễn Bá Tâm : Giảng viên khoa điều dưỡng – hộ sinh – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi rất tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện chuyên đề này

Xin được cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Tâm thần kinh – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, các cán bộ y tế trong 10 khoa lâm sàng của Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 đã giúp đỡ, chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong thời gian học tập và làm chuyên đề này

Xin được cảm ơn các bạn trong lớp Chuyên khoa 1- khóa V, đã cùng vai sát cánh với tôi để hoàn thành tốt chuyên đề này

Xin được cảm ơn những người bệnh, gia đình người bệnh đã thông cảm và tạo điều kiện cho tôi được thăm khám, tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm túc những lời khuyên dành cho họ

Xin chân thành cảm ơn !

Nam Định, tháng 9 năm 2018

Học viên

Bùi Ngân Hà

Trang 5

- ETP: (Ergothérapeute ) Cán bộ liệu pháp

- SSRI: Loại thuốc chống trầm cảm 3 vòng và loại thuốc tái hấp thu chọn lọc

Serotonin

- GDSK: Giáo dục sức khỏe

- PHCN: Phục hồi chức năng

Trang 6

3 THỰC TRẠNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TRẦM CẢM TẠI KHOA BÁN

4 GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM CẢI THIỆN CHĂM SÓC

NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM

34

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trầm cảm là trạng thái buồn rầu, chán nản, không còn hứng thú gì trong cuộc sống, ngủ không ngon, ăn uống nhạt miệng, làm việc không xong tới chót, mặc cảm thua kém, khi rầu rĩ lâu ngày hay nghĩ đến cái chết Ngoài ra, người bệnh hay kèm lo lắng, nặng đầu, đau mỏi vai gáy, ngực hồi hộp, tay chân lạnh

Rối loạn trầm cảm là một trạng thái bệnh lý hay gặp trong thực hành tâm thần học cũng như trong thực hành đa khoa Rối loạn trầm cảm có xu hướng gia tăng và chiếm khoảng 20 - 30% dân số, trong đó rối loạn trầm cảm chủ yếu chiếm 4,4% (Mỹ), 5,2% ( Italie ), 3,4% ( Nam ) và 6 % ( Nữ ) ở ( Pháp ), ( 2,85%) ở Việt Nam Hàng năm trên thế giới có tới hàng trăm triệu người được phát hiện là trầm cảm Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 18 – 44, tuổi khởi phát trung bình là 25,6, tỷ lệ nữ bị rối loạn trầm cảm cao gấp 3 lần nam Khoảng 45 – 70% những người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15 % người bệnh trầm cảm chết do tự sát Rối loạn trầm cảm có tỷ lệ tái phát cao [ 5 ]

Rối loạn trầm cảm do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhiều tác giả cho là có sự biến đổi của các chất trung gian hóa học trong hệ thống thần kinh trung ương như Noradrenaline và Dopamine Các thay đổi nồng độ một số Hormone thyroxin, Corticoid, một

số chất điện giải, hoặc một số thành phần miễn dịch đều có thể gây ra trầm cảm Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố di truyền của bệnh rối loạn trầm cảm,

và người ta thấy có sự liên quan giữa trầm cảm với nhiễm sắc thể X và một số nghiên cứu cũng cho thấy có những biến đổi 3 vùng là Hồi Hải Mã, Hạnh nhân và vỏ não ở những người bệnh trầm cảm điển hình

Bệnh trầm cảm để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội về sức lao động cũng như về kinh tế Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (OMS – 1996), Nakajima hơn 1,5 tỷ người

có những biểu hiện về rối loạn tâm thần trong đó có khoảng 340 triệu người bị rối loạn trầm cảm sẽ là nguyên nhân gây mất khả năng lao động đứng hàng thứ hai vào năm 2020 Kinh phí chi cho trầm cảm rất lớn, ở Mỹ chi cho trầm cảm là 45 tỷ đô la, cho tâm thần phân liệt là 65 tỷ

đô la và cho tim mạch là 120 tỷ đô la Không những thế nhiều người bệnh trầm cảm đã tìm đến cái chết để giải thoát mọi khổ cực và bi quan về cuộc đời do bệnh gây ra Do vậy nhiều nước đã đưa chương trình phòng và chống bệnh trầm cảm vào chương trình quốc gia trong đó

có Việt Nam Bệnh trầm cảm cũng đã được phân loại một cách chi tiết trong Bảng phân loại

Trang 8

bệnh trầm cảm không điển hình, bị che đậy bởi các thực thể cũng như các giai đoạn tái diễn trầm cảm

Hiện nay người bệnh có rối loạn trầm cảm ngày càng gia tăng, trở thành một vấn đề lớn của xã hội cần phải tập trung giải quyết Đây không phải là vấn đề riêng của nghành y tế mà đòi hỏi sự tham gia của toàn cộng đồng và xã hội, với những người bệnh này thì việc chăm sóc của điều dưỡng nói riêng và nhân viên y tế nói chung chỉ là một phần nhỏ, mà cần sự chăm sóc, quan tâm, theo dõi, hỗ trợ của gia đình xã hội, bạn bè cũng như của cả cộng đồng

Để nâng cao công tác chăm sóc người bệnh trầm cảm nam thì cần có cái nhìn tổng thể, một bức tranh thực về tình hình chăm sóc những người bệnh này từ đó đưa ra được những can thiệp phù hợp hơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh

Do vậy tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề này: “Thực trạng chăm sóc người bệnh

trầm cảm tại khoa bán cấp tính nam - Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 ” với mục đích:

1 Tìm hiểu thực trạng về chăm sóc người bệnh trầm cảm tại khoa bán cấp tính nam Bệnh viện Tâm thần trung ương 1

2 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh Trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần trung ương 1

Trang 9

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về trầm cảm

Trầm cảm là một bệnh lý y tế liên quan đến tâm trí và cơ thể Cũng được gọi là rối loạn trầm cảm chính và trầm cảm lâm sàng, nó ảnh hưởng đến cảm nhận, suy nghĩ và hành xử Trầm cảm có thể dẫn đến một loạt các vấn đề tình cảm và thể chất Có thể gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động bình thường hàng ngày và trầm cảm có thể làm cho cảm thấy như thể cuộc sống là không đáng sống

Trầm cảm là một loại rối loạn tâm thần thường gặp nhất trong các dạng rối loạn tâm thần, bao gồm nhiều triệu chứng, nhưng hay gặp nhất là sự buồn bã sâu sắc và người bệnh không còn quan tâm hay thích thú đối với tất cả những gì xảy ra xung quanh hoặc đối với bản thân mình Người bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi, mất hy vọng vào tương lai, nghĩ rằng thế giới xung quanh dường như lúc nào cũng u ám

Rối loạn trầm cảm có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào nhưng thường gặp nhất là ở lứa tuổi

từ 18 – 44, Nữ dễ bị trầm cảm gấp đôi nam tuy nhiên phát hiện và chăm sóc người bệnh trầm cảm Nam sẽ khó khăn hơn Nữ

Trầm cảm nhiều hơn chỉ là cơn nhảy múa, trầm cảm không phải là điểm yếu, cũng không phải là một cái gì đó mà có thể chỉ đơn giản là thể hiện ra Trầm cảm là một căn bệnh kinh niên thường đòi hỏi phải điều trị lâu dài, như bệnh tiểu đường hoặc huyết áp cao Nhưng không được nản lòng, hầu hết những người bị trầm cảm cảm thấy tốt hơn với thuốc, tư vấn tâm lý hoặc điều trị khác

2.1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu bệnh trầm cảm

Thuật ngữ trầm cảm hay sầu uất “Melancholie” được Hippocrate (460 – 377 trước công nguyên ) dùng để mô tả một số rối loạn tâm thần có biểu hiện rối loan khí sắc Năm 1686 Bonet mô tả một bệnh tâm thần mà ông gọi là bệnh hưng cảm – sầu uất “ Maniaco – Melancoliants ” Sau đó E Esquirol tách ra từ các bệnh loạn thần bộ phận (Folies partielles ) một thể trầm cảm và gọi là cơn hoang tưởng ( HT ) buồn rầu Năm 1882, K Kahlbaum dùng thuật ngữ “ Cyclothymia ” ( Bệnh khí sắc chu kỳ ) mô tả hưng cảm, trầm cảm như các giai đoạn của cùng một bệnh E.Kraepelin (1899 ), dựa trên các biểu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển của các bệnh do các nhà tâm thần học Pháp và Đức mô tả, thống nhất lại thành một thể bệnh và gọi là bệnh loạn thần hưng - trầm cảm Trước những năm 80 của thế kỷ XX, rối

Trang 10

Các tiến bộ quan trọng trong việc mô tả, phân loại các RLTC trong 30 năm qua đã giúp thúc đẩy các nghiên cứu quan trọng về dịch tễ, bệnh nguyên và bệnh sinh các RLTC này một cách chi tiết, hợp lý [ 5 ]

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Dịch tễ học trầm cảm

2.2.1.1 Một số nghiên cứu ở các nước trên thế giới

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã dự đoán rằng năm 2020 sẽ có khoảng 121 triệu người mắc bệnh trầm cảm, bệnh này cướp đi mỗi năm trung bình 850 000 mạng người và bệnh này

là căn bệnh xếp hạng 2 trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu Thế nhưng, ngày 10/10/2012 (Ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới) vừa qua, WHO cho biết hiện nay trên thế giới

đã có hơn 350 triệu người đang mắc bệnh trầm cảm và mỗi năm có khoảng 1 triệu người tự tử (trung bình mỗi ngày có 2900 người tự tử ) Điều này cho thấy số người mắc bệnh trầm cảm

trên thế giới đã tăng quá nhanh trong những năm tháng gần đây

Theo The Huffing Post, ngày 27/7/2011 thì: Trung bình tỷ lệ dân số mắc bệnh trầm cảm ở 10 nước giàu là 15% và ở các nước nghèo là 11% Nước Pháp có tỷ lệ cao nhất là 21%, trong 5 người Pháp thì có một người bị mắc bệnh trầm cảm trong cuộc đời của họ Kế đến là nước Mỹ: 19,2%, Brazil: 18,4%, Hà Lan: 17,9%, NewZealand: 17,8%, Ukraine: 14,6%, Bỉ: 14,1%, Colombia: 13,3%, Lebanon: 10,9 %, Tây Ban Nha: 10,6%, Israel: 10,2%, Đức: 9,9%, Ý: 9,9%, Hàn Quốc: 9,8%, Ấn độ: 9%, Mexico: 8%, Nhật: 6,6%, Trung Quốc: 6,5%

Tại Mỹ, hiện nay có khoảng 27 triệu người mắc bệnh trầm cảm ( tăng gấp 3 lần trong

20 năm qua ), mỗi năm có trên 300 000 người tự tử, trong đó chiếm 60% là những người mắc bệnh trầm cảm

Tại Châu Âu, số người mắc bệnh trầm cảm và tự tử tăng đột biến vì khủng hoảng, ¼ dân số Châu Âu tương đương ( 215 triệu người ) sẽ bị rối loạn tâm lý bởi cuộc sống quá khó khăn Số lượng các ca yêu cầu điều trị chống trầm cảm ở Anh đã tăng tới 28%, từ 34 triệu người trong năm 2007 lên 43,4 triệu người trong năm 2011

Với quốc gia Trung Quốc, hàng năm có khoảng 300 000 người tự tử (thực tế có thể là cao hơn nữa ), đặc biệt tại Trung Quốc khác với các quốc gia khác là nữ tự sát nhiều hơn nam giới theo tỷ lệ 3:1, ở nông thôn tự tử nhiều hơn thành phố theo tỷ lệ 3:1 [6 ], [ 10 ]

2.2.1.2 Thực trạng về bệnh trầm cảm ở Việt Nam hiện nay

Tỷ lệ trầm cảm ở Việt Nam hiện tại đang rất phức tạp và có xu hướng gia tăng rất nhanh và phức tạp Theo tài liệu của chính phủ Việt Nam thì năm 2000, tỷ lệ mắc bệnh trầm

Trang 11

cảm ở nước ta là 2,47% dân số, nhưng hiện nay con số này tăng lên khoảng 15% Theo báo cáo của buổi hội thảo quốc tế về “ Vấn đề toàn cầu hóa, thành thị hóa và sức khỏe tâm thần ” được tổ chức tại Huế vào ngày 25 đến ngày 27/11/2010 thì hiện nay 20% dân số, tức khoảng

18 triệu người Việt Nam đang mắc các chứng bệnh “ Tâm thần hiện đại ” Theo tác giả La Đức Cương có khoảng 12 triệu người ( tương đương 15% dân số ) đang có vấn đề về rối loạn tâm thần, trong đó phần lớn là bệnh trầm cảm, sau đó là bệnh nặng hơn như Tâm thần phân liệt, nghiện rượu, lạm dụng rượu, ma túy và chậm phát triển trí tuệ Theo TS BS Tô Thanh Phương thì có khoảng 15% dân số nước ta có vấn đề về sức khỏe tâm thần Phần lớn bệnh

nhân trầm cảm nặng thuộc lứa tuổi từ 16 – 35 tuổi [ 7 ]

Bệnh trầm cảm là bệnh gây mất sức lao động đứng thứ hai trên thế giới và là nguyên nhân của 2/ 3 trường hợp tự tử Điều nguy hiểm là do sự mặc cảm hoặc thiếu hiểu biết về căn bệnh này, có đến 60% người mắc bệnh trầm cảm không được phát hiện và điều trị trầm cảm thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, xuất hiện ở mọi lứa tuổi Một cuộc điều tra theo diện hẹp do viện quân y 103 tiến hành cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở người già cô đơn trên 60 tuổi là 50% Hậu quả của trầm cảm là rât nghiêm trọng Theo trung tâm phòng chống khủng hoảng tâm lý, có tới 25,4% người dân có ý định tự tử; 15,6% có kế hoạch tự tử và thực hiện hành vi

tự tử là 4,2%, tương đương khoảng 3,78 triệu người Việt nam đã thực hiện hành vi tự tử Trên thực tế bệnh trầm cảm ở Việt nam còn tệ hơn thế nếu có điều tra toàn quốc theo đúng tiêu chuẩn quốc tế

Tại Viêt Nam sau khi nghiên cứu lại các trường hợp trước đây được chẩn đoán là suy nhược thần kinh, các bác sĩ nhận thấy phần lớn các bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán trầm cảm Hiện nay tại Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 chưa có công trình nào nghiên cứu

về dịch tễ lâm sàng các rối loạn trầm cảm trên quy mô lớn như cấp bộ, hay toàn quốc Vấn đề nghiên cứu về dịch tễ lâm sàng trầm cảm vẫn chỉ mang tính cục bộ tại một vài địa phương, chưa mang tính đại diện cho tỷ lệ trầm cảm của một quốc gia

2.2.1.3 Một số nghiên cứu ở trong nước

Hiện nay ở nước ta có một số nghiên cứu về trầm cảm trong nước của một số tác giả như sau

- Lã Thị Bưởi, Trần Viết Nghị, Nguyễn Viết Thiêm điều tra trầm cảm tại một phường ở

Hà Nội

Trang 12

- Trần Văn Cường và cộng sự năm ( 2002 ), rối loạn trầm cảm điển hình chiếm 2,8 % khi điều tra dịch tễ lâm sàng một số bệnh tâm thần thường gặp ở các vùng kinh tế - Xã hội khác nhau ở nước ta hiện nay

- Lâm Xuân Điền điều tra trầm cảm tại một phường của thành phố Hồ Chí Minh

- Tô Thanh Phương nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị trầm cảm nặng bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần

- Ngô Ngọc Tản, Cao Tiến Đức điều tra trầm cảm tại một phường của Thị xã Hà Đông – Hà Nội

- Nguyễn Văn Siêm điều tra trầm cảm tại xã Quất động – Thường Tín – Hà Nội

2.2.2 Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm

Trầm cảm là một triệu chứng rối loạn tâm thần, có những triệu chứng rõ ràng như: mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn, mất hứng thú trong các sinh hoạt, buồn rầu, khó khăn khi tập trung, buông xuôi, vượt xa những cảm xúc buồn bã bình thường mà mỗi người chúng ta thỉnh thoảng đều trải qua

Ở phái nam, trầm cảm dễ bị xảy ra khi bị stress do căng thẳng trong công việc hàng ngày, kinh tế chật vật, ân hận vì lỡ thua cờ bạc, hạnh phúc tan vỡ, người thân mất, thay đổi chỗ ở, chỗ làm việc, tương lai bấp bênh…Nam giới vẫn thường phải chịu áp lực về sự thành đạt trong đời nếu không làm được điều này ( bị nép vế trong gia đình hay ở chỗ làm ), nhiều người ôm nỗi buồn đó một cách lặng lẽ, không muốn ngỏ cùng ai do đó dễ bị stress, người bệnh có những cơn giận dữ đột ngột, không kiểm soát bản thân, không thể quyết định được việc gì

Ở phái nữ, triệu chứng thường thấy là buồn, âu sầu, hay khóc thờ ơ, không thấy thích thú gì với những công việc hàng ngày, kể cả chuyện tình dục, tuyệt vọng hoặc thấy mình chẳng có giá trị gì, ngủ quá nhiều hoặc không ngủ được, ngủ li bì đánh thức cũng không tỉnh; không thèm ăn và gầy đi hoặc ăn quá nhiều và béo lên; cảm giác mệt mỏi rã rời hoặc uể oải, không tập trung chú ý được và không quyết định được làm việc gì, cảm thấy trên thân thể đau đớn mà điều trị cũng không đỡ

Các triệu chứng của rối loạn trầm cảm điển hình

Khí sắc trầm cảm: Khí sắc trầm cảm thường gặp là buồn rầu uể oải, chân tay rời rã, cảm giác khó chịu, bất an, đuối sức trước cuộc sống, luôn cảm thấy đau khổ, nét mặt ủ rũ hoặc rơm rớm nước mắt, mệt mỏi, bệnh nhân ( BN ) thấy quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một

Trang 13

màu đen tối, ảm đạm, thê thảm, đôi khi khó tả được cảm giác của mình, cảm thấy mình bị thất bại, hỏng việc, bất lực, tự đánh giá bản thân thấp kém, không có khả năng, là ngõ cụt [ 5 ] Các rối loạn nhận thức: Quá trình liên tưởng ở BN chậm chạp, hồi ức xuất hiện khó khăn, dòng tư duy bị ngưng trệ, khó diễn đạt ý nghĩ của mình thành lời nói, ít hoặc không nói Cũng có thể là các ý nghĩ tự ti, hèn kém, phẩm chất xấu, phạm nhiều tội lỗi, ý nghĩ bị thiệt hại, hoặc bị truy hại

- Các rối loạn tâm thần vận động: Ở những bệnh nhân RLTC nặng, bệnh nhân ngồi hàng giờ, ít đi lại hoặc nằm im một chỗ ở những nơi yên tĩnh, kín đáo như trong buồng hoặc ở phòng tối, không muốn tiếp xúc với ai, BN cảm thấy nhanh chóng bị kiệt sức khi làm việc gì

đó gắng sức, luôn cảm thấy mệt mỏi, suy nhược, mất nghị lực, luôn phàn nàn về sự mệt nhọc, đuối sức

- Các biểu hiện lo âu: BN thường có cảm giác lo lắng, sợ hãi cho các dự định trong tương lai của họ Sự lo lắng của BN xuất hiện dưới dạng căng thẳng và sự nguy hiểm, chờ đợi điều không mong muốn sắp xảy ra, do vậy họ thường có phản ứng tấn công người khác, hoặc xung động, lo âu và có thể xuất hiện hành vi tự sát

- Các triệu chứng cơ thể: Các biểu hiện rối loạn cơ thể thường xuyên biến đổi trong ngày, mệt mỏi thường tăng vào buổi sáng, giảm cân đôi khi nặng nề, có thể giảm tới 10kg trong một vài tháng (gặp ở nữ ) Giảm trọng lượng có liên quan trực tiếp đến chán ăn, lo âu, tức ngực, chóng mặt, đau vùng trước tim, cảm giác kiến bò, giảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt, dễ kích thích căng thẳng Khi trầm cảm nặng BN thường từ chối ăn, đôi khi gặp sự trái ngược là ăn vô độ có thể gây ra tăng cân

- Hành vi tự sát ở bệnh nhân trầm cảm nặng: Có tới 80% BN trầm cảm nặng có ý định

tự sát Đặc biệt có thể gặp tự sát trong quá trình tiến triển của trầm cảm khi điều trị chưa đạt kết quả Việc xác định được nguy cơ tự sát không phải là dễ dàng, hơn nữa họ có thể nói dối những ý định tự sát càng làm cho chúng ta không thể phát hiện được những ý nghĩ và hành vi của họ Mức độ nặng nề của nguy cơ tự sát thường có liên quan nhiều giữa cường độ lo âu với mức độ trầm trọng của trầm cảm [ 11]

Một số rối loạn trầm cảm

- Rối loạn trầm cảm không điển hình Bệnh nhân không có các biểu hiện của RLTC điển hình BN thấy ăn ngon miệng, tăng cân, ngủ nhiều, tăng hoạt động, mệt mỏi kèm theo đau các chi, cảm thấy như bị liệt, dễ tủi thân

Trang 14

- Trầm cảm ẩn Bệnh nhân thường phàn nàn về các triệu chứng cơ thể một cách lờ mờ, không rõ ràng, đau không rõ vị trí, thường kêu đau vùng trước ngực, đau nhức xương khớp…

- Trầm cảm suy nhược Nổi bật là những nét suy nhược với những ám ảnh sợ bệnh, ám ảnh mắc bệnh

- Trầm cảm nhẹ Các triệu chứng trầm cảm nằm dưới ngưỡng của trầm cảm điển hình

- Trầm cảm đôi Là trầm cảm điển hình xuất hiện ở bệnh nhân loạn khí sắc.[5]

Trầm cảm nội sinh là loại trầm cảm có tính chất hệ thống đối lập với trầm cảm tâm căn

và đáp ứng tốt với điều trị hóa dược

Một số biểu hiện của trầm cảm nội sinh là

+ Không có phản ứng với biến đổi môi trường

+ Khí sắc thường xấu hơn vào buổi sáng

+ Mất hứng thú quan tâm sở thích

+ Tự buộc tội hoặc bị tội

+ Thức dậy sớm hoặc mất ngủ giữa đêm

- Không có các yếu tố tác động

- Không có tiền sử rối loạn khí sắc và yếu tố gia đình

- Không có các biểu hiện bệnh lý tâm căn trong tiền sử

- Trạng thái suy nhược

Trang 15

- Có một số triệu chứng gợi ý: Lú lẫn, lo âu, tư duy chậm chạp cùng với đau đầu kín đáo, động kinh, run… [ 2 ]

2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến bệnh trầm cảm

Nhân tố di truyền

Các rối loạn khí sắc của trẻ, thanh thiếu niên và người lớn hay gặp trong số thành viên gia đình họ Nếu cha mẹ có một người bị trầm cảm thì nguy cơ con cái mắc bệnh trầm cảm tăng gấp đôi so với con cái của cặp cha mẹ có tiền sử bình thường Nếu cả hai cha mẹ đều bị trầm cảm thì xác xuất là 4 lần nguy cơ phát triển rối loạn khí sắc ở trẻ em dưới 18 tuổi [ 2 ]

Nhân tố môi trường

Có ít bằng chứng là vấn đề hôn nhân của cha mẹ, ly thân, ly hôn, anh chị em, vấn đề cấu trúc gia đình hay kinh tế - xã hội phát hiện ở trẻ em trầm cảm hình như là thứ phát sau trầm cảm sẽ cải thiện sau khi trầm cảm hồi phục bền vững [ 2 ]

Nhân tố sinh học

Trẻ em trước tuổi dậy thì trong một giai đoạn trầm cảm lớn, có tăng khá rõ hocmon tăng trưởng trong giấc ngủ so với trẻ em bình thường với các trẻ em bị rối loạn cảm xúc không trầm cảm Các trẻ em này cũng tiết ít hocmon tăng trưởng khá rõ phản ứng giảm đường huyết

do Insulin gây ra so với các bệnh nhân không trầm cảm, hai bất thường trên tồn tại bền vững

ba bốn tháng sau khi trạng thái lâm sàng ổn định và trong trạng thái không dùng thuốc [ 2 ]

Một số thói quen dẫn đến bệnh trầm cảm

Người bị trầm cảm không thể tìm thấy hứng thú trong bất kỳ công việc gì

Có nhiều yếu tố gây ra trầm cảm, một số trong đó là thể chất, còn một số khác thuộc về tâm

lý Dưới đây là một số thói quen dễ dẫn đến trầm cảm:

tự tin

+ Chế độ ăn không hợp lý

Trang 16

Ăn uống lành mạnh không chỉ tốt cho cơ thể mà còn tốt cho trí não, những thực phẩm chứa chất béo omega – 3 được xem là những thực phẩm bổ não vì chúng có vai trò thiết yếu đối với mô não khỏe mạnh

Ngoài ra còn có nhiều chế phẩm bổ sung Mặc dù những chế phẩm này không phải lúc nào cũng ngon miệng, nhưng chúng giúp cho bộ não khỏe mạnh và ngăn ngừa sự tấn công của bệnh trầm cảm

+ Ngủ không đúng và stress

Nếu bạn thường xuyên để mình bị đói ngủ, thì bạn đang tạo ra hoàn cảnh lý tưởng cho bệnh trầm cảm Nếu không được ngủ đủ, bạn sẽ dễ trở lên bị kích động và hoang tưởng, là nền tảng cho trạng thái trầm cảm

Hơn nữa, những người không ngủ đủ thường không làm tốt công việc, khiến họ bị stress và càng giảm năng xuất

Khi một người không thể ngủ hoặc không thể làm tốt vai trò của mình, họ sẽ trở lên thất vọng và cảm thấy bị mắc kẹt thì kết cục là con người sẽ có cảm giác trầm uất Rất ít người biết rằng chỉ cần ngủ đủ là có thể ngăn chặn được bệnh trầm cảm

2.2.4 Một số nguyên nhân trầm cảm thường gặp ở Việt nam

Trong cuộc sống hàng ngày

+ Lý do kinh tế

Cuối thế kỷ 20 và sang thế kỷ 21 có rất nhiều công ty ( tư nhân ) bị phá sản, có rất nhiều cá nhân hùn tiền vào công ty để hưởng lãi xuất cao, có rất nhiều người dồn tất cả tài sản vào công ty đó với hy vọng làm giàu nhanh chóng Vụ việc vỡ lở khi mọi người biết bị lừa thì

đã muộn, một số người cảm thấy thất vọng đã định nhẩy lầu tự tử [ 7 ]

- Tiếp theo là phong trào hụi, họ phát triển mạnh để lừa nhau cũng đã gây thiệt hại nặng

về kinh tế và tinh thần cho những người tham gia, chủ họ lớn nhất ôm tiền bỏ trốn để lại hậu

Trang 17

quả cho những chủ họ nhỏ hơn và cho những người tham gia Rất nhiều gia đình tan cửa nát nhà, mất nhà, nợ nần chồng chất, vợ chồng bỏ nhau con cái ly tán do vậy không ít người bị rối loạn tâm thần trong đó có trầm cảm phải điều trị

- Thời gian gần đây một số người có cả nam và nữ bị một số công ty lừa đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài với mức lương cao, họ nhận tiền đặt cọc của những người dân muốn

đi lao động ở nước ngoài, số tiền đặt cọc không giống nhau tùy thuộc vào các quốc gia mà họ muốn đến ( khoảng từ 7000 đến 10000 đô la/ người ) Mỗi đợt khoảng vài chục người chờ đến hạn mà không được đi thì mới biết là mình bị lừa, rất nhiều người đau khổ vật vã vì mất tiền

mà không đi được nước ngoài nhằm đổi đời Mà số tiền đó họ phải đi vay với lãi xuất cao hoặc vay của ngân hàng nên nhiều người rơi vào trạng thái kích động hoặc trầm cảm cần phải điều trị

- Và nạn lô đề với lãi suất tới 70 lần nên có rất nhiều người tham gia không kể lứa tuổi già hay trẻ Họ lao vào như con thiêu thân càng đánh càng say trúng thì ít mà thua thì nhiều, thua nhiều thì mong gỡ Hết tiền thì đánh nợ số tiền nợ ngày càng tăng lên, số tiền mất thì làm cho kinh tế suy kiệt Vấn nạn này cũng gây khủng hoảng cho nhiều gia đình nhẹ thì mất nhà nặng thì bỏ trốn gia đình ly tán để lại gánh nặng cho người ở lại Với sức ép của chủ nợ cộng với sự ân hận mất tiền nên nhiều người cũng rơi vào trạng thái kích động hoặc trầm cảm cần phải điều trị

- Một số cô gái trẻ con nhà nghèo qua công ty môi giới để lấy được chồng nước ngoài, nhưng khi đến nhà chồng thì cuộc sống lại không được như mong muốn họ coi như là Ôsin trong nhà, bị quản thúc như tù giam lỏng mất tự do Vỡ mộng họ tìm cách trốn về nước và không ít người trong số họ bị trầm cảm cần phải điều trị

- Do ly hôn: Nhiều cặp vợ chồng trẻ ở các thành phố lớn họ sống theo kiểu phương tây yêu rất nhanh và cưới gấp sẵn sàng ly hôn và có xu hướng ly hôn ngày càng nhiều Chính

Trang 18

- Do nghiện ma túy - HIV: Hiện nay tình hình người nghiện ma túy và nhiễm HIV ngày càng tăng cao trong cộng đồng mặc dù nhà nước có rất nhiều biện pháp giáo dục và tuyên truyền đến từng xã, phường, người dân Nhưng tỷ lệ vẫn không ngừng gia tăng có rất nhiều người nhiễm HIV đã tìm đến cái chết nhằm giải thoát cho bản thân cũng như gia đìnhcủa họ[7]

Trong các bệnh viện đa khoa, phòng khám đa khoa

Khá nhiều bệnh nhân nghĩ rằng mình bị bệnh, họ đã đến các bệnh viện để khám, bác sĩ cho đơn thuốc nhưng bệnh chỉ ổn một thời gian ngắn rồi bệnh lại như cũ Họ lại khám ở các bệnh viện khác hoặc tìm tới các giáo sư nổi tiếng, tìm các loại thuốc tốt nhất nhưng bệnh cũng không khỏi, mặc dù họ làm đủ các loại xét nghiệm nhưng kết quả trả lời là bình thường, chỉ đến khi họ tìm đến bác sĩ tâm thần và được là chẩn đoán là trầm cảm thì bệnh mới ổn định

Ở Việt nam hiện nay còn ảnh hưởng nặng nề bởi định kiến bị tâm thần (vì nếu đó là cô gái trẻ mà mang tiếng bị bệnh tâm thần thì khó xin việc cho bản thân và khó lấy chồng , khi cô gái trẻ mà phải điều trị trầm cảm ở bệnh viện tâm thần thì gia đình họ sẽ dấu không cho ai biết hoặc là nói đang điều trị ở bệnh viện đa khoa trung ương nào đó, không bao giờ họ họ nói là con họ điều trị ở bệnh viện tâm thần) do vậy người dân rất ngại đến với bác sĩ tâm thần vì họ

sợ bị mang tiếng là bị bệnh tâm thần Việc dấu bị bệnh tâm thần đã làm cho nhiều bệnh nhân trầm cảm trở thành mạn tính, vì vậy trong suốt thời gian dài họ không thể làm được gì mà lúc nào cũng chỉ muốn tìm các bệnh viện tốt, các giáo sư và thầy thuốc giỏi Khi đã đi nhiều nơi

và không còn ai để hỏi nữa hoặc bệnh ngày càng nặng thì họ mới đến với bác sĩ tâm thần Mặt khác các bác sĩ đa khoa hầu như ít phát hiện ra trầm cảm đối với bệnh nhân này Do vậy gần đây, được sự quan tâm của nhà nước nên nghành tâm thần đã tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, các hội nghị, hội thảo có mời đông đảo các bác sĩ đa khoa tham dự để bổ xung thêm cho họ kiến thức về trầm cảm [ 7 ]

Trong các bệnh viện tâm thần

Trong các bệnh viện chuyên khoa tâm thần thì bệnh tâm thần phân liệt thường chiếm tỷ

lệ lớn, việc phân biệt giữa trầm cảm và TTPL nhiều khi còn khó khăn và khó khăn nhất là bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh hoặc khoa tâm thần nằm trong bệnh viện đa khoa )

Có thể là do 2 lý do sau

- Khó phân biệt giữa triệu chứng âm tính của TTPL với trầm cảm

- Các bác sĩ trẻ mới ra trường và các bác sĩ ở xa trung ương nên không có các thông tin

có tính cập nhật về trầm cảm, thâm niên làm trong nghành tâm thần còn ít…cho nên chưa có

Trang 19

nhiều kinh nghiệm, họ thường nghĩ là bệnh nhân bị TTPL thì yên tâm điều trị theo hướng TTPL mà chính họ không nghĩ là bệnh nhân bị cả bệnh trầm cảm, nghĩa là theo họ thì bệnh nhân hoặc là bị TTPL hoặc là bị trầm cảm Do vậy trong quá trình điều trị các bệnh nhân TTPL có trầm cảm mà không biết thường điều trị rất dai dẳng, bệnh nhân thường xuyên kích động hoặc thậm chí tự sát nhưng vẫn cho là tự sát do các triệu chứng của TTPL hoặc do chán sống tâm lý Vậy việc trang bị cho bác sĩ tâm thần (nhất là bác sĩ trẻ ) kiến thức đồng bệnh lý giữa trầm cảm và TTPL là cần thiết [ 7 ]

2.2.5 Tiêu chẩn chuẩn đoán trầm cảm

Để được chẩn đoán là trầm cảm, phải đáp ứng được các tiêu chí triệu chứng nêu ra trong chẩn đoán thống kê Manual of Mental Disorders ( DSM ) Thống kê này được công bố bởi hiệp hội Tâm thần Mỹ và được sử dụng bởi các nhà cung cấp sức khỏe tâm thần để chẩn đoán các điều kiện tinh thần

Để được chẩn đoán là trầm cảm phải có năm hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau đây Ít nhất một trong các triệu chứng phải là tâm trạng chán nản, thất thoát một quan tâm hay niềm vui Các triệu chứng có thể dựa vào cảm xúc của riêng bản thân hoặc có thể dựa trên các quan sát của người khác Chúng bao gồm:

- Sự yếu tâm trạng nhất trong ngày, gần như mọi ngày, chẳng hạn như cảm thấy buồn, trống giỗng hoặc rơi lệ

- Giảm hoặc cảm thấy không có niềm vui trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động trong ngày, gần như mỗi ngày

- Giảm cân đáng kể khi không ăn kiêng, tăng cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng gần như mỗi ngày (ở trẻ em, không đạt được trọng lượng như mong đợi có thể là một dấu hiệu của trầm cảm)

- Mất ngủ hoặc làm tăng ham muốn ngủ gần như mỗi ngày

- Kích động hoặc trở lên chậm chạp

- Mệt mỏi hay mất năng lượng gần như mỗi ngày

- Cảm xúc của vô dụng hoặc quá nhiều tội lỗi không thích hợp hoặc gần như mỗi ngày

- Vấn đề ra quyết định hoặc khó tập trung suy nghĩ gần như mỗi ngày

- Thường xuyên suy nghĩ về cái chết hoặc tự tử, hoặc cố gắng tự tử [ 2 ]

Chuẩn ICD – 10 F32

- F 32.0 Giai đoạn trầm cảm nhẹ (người bệnh cảm thấy không khỏe và tìm sự giúp đỡ

Trang 20

- F 32.1 Trầm cảm mức trung bình (những yêu cầu công việc, việc nhà không đảm nhiệm nổi)

có nguy cơ tự sát cao nhất Nhiều nghiên cứu cho thấy 30 – 70% tự sát có liên quan đến trầm cảm, trong 6 tháng đầu tiên của bệnh có khoảng 32% bệnh nhân tự sát và 52% có ý định tự sát trong năm đầu tiên bị bệnh, nam có tỷ lệ tự sát cao hơn nữ ( gấp 2 – 3 lần ), ý tưởng tự sát

sẽ tăng cao khi kết hợp với hoang tưởng ( bị tội ) mà đặc biệt là TTPL loạn khí sắc cùng với hoang tưởng và ảo giác

Theo Leff và Hirsch cho là trầm cảm và TTPL luôn luôn kết hợp với nhau trong đó các triệu chứng phân liệt thường rõ rệt hơn còn các triệu chứng trầm cảm bị lu mờ, thường gặp trong giai đoạn loạn thần cấp và có tới 60% bệnh nhân TTPL trầm cảm có ý tưởng tự sát, khoảng 10 – 15% bệnh nhân TTPL trầm cảm chết do tự sát [ 6 ]

Bệnh nhân trầm cảm thường phàn nàn về ăn thấy không ngon trong khi bệnh nhân chán

ăn vẫn có cảm giác ăn ngon và đói (chỉ mất cảm giác ngon trong giai đoạn nặng của chán ăn tâm thần) và thường bị ám ảnh bởi béo Có thể sau nhiều lần tái phát của chán ăn tâm thần thì bệnh trở lên mãn tính và khi đó có thể xuất hiện trầm cảm có thể tự sát ở bất cứ giai đoạn nào; giai đoạn khởi phát tại gia đình, giai đoạn cấp tại bệnh viện, giai đoạn ổn định tại bệnh viện hoặc giai đoạn hồi phục lúc ra viện về gia đình

Những dấu hiệu dự đoán về tiến triển của trầm cảm

- Tuổi khởi phát muộn trong giai đoạn đầu tiên sẽ có tiên lượng không tốt Sự tiến triển của trầm cảm tại người cao tuổi thường là nặng vì có thể kết hợp với nhiều bệnh khác và thường có tự sát, bệnh thường phức tạp cùng với sự hủy hoại trí tuệ và khó có thể kết hợp với liệu pháp tâm lý – xã hội để điều trị

- Giai đoạn của cơn kéo dài cũng như việc điều trị muộn cũng là những yếu tố làm cho bệnh tiến triển xấu

Trang 21

- Các triệu chứng hoang tưởng đáp ứng kém với thuốc chống trầm cảm đơn thuần

- Các trạng thái hỗn hợp ít có tiên lượng tốt vì thường che đậy một triệu chứng cơ thể

- Tính chất nặng nề của trầm cảm và có các bệnh nội tiết thường là có tiên lượng tốt và đáp ứng tốt với điều trị

- Các yếu tố nhân cách có ảnh hưởng không tốt đến tiến triển của trầm cảm

Tiến triển và tiên lượng

Theo một số tác giả nghiên cứu, những giai đoạn trầm cảm ở TTPL có các triệu chứng loạn thần không phù hợp với khí sắc thường có tiên lượng xấu hơn là loạn thần phù hợp với khí sắc Khoảng 15% bệnh nhân trầm cảm có ý định tự sát Trung bình một giai đoạn trầm cảm có thể kéo dài 10 tháng nếu không điều trị, sau giai đoạn khởi đầu 6 tháng có thể có tới 75% bệnh

nhân xuất hiện giai đoạn trầm cảm lần thứ hai

Trung bình có 5 đợt trầm cảm trong cuộc đời, có khoảng 50% khỏi hoàn toàn, 30% khỏi từng phần và 20% trở thành mạn tính Khoảng 20 – 30 % loạn khí sắc phát triển thành một rối loạn trầm cảm lớn ( trầm cảm đôi ), một rối loạn lưỡng cực II hoặc một rối loạn lưỡng cực I Khoảng 1/3 bệnh nhân rối loạn khí sắc chu kỳ trở thành rối loạn khí sắc nặng, đặc biệt

là rối loạn lưỡng cực II Khoảng 45% các trường hợp hưng cảm tái diễn, nếu không điều trị thì giai đoạn hưng cảm kéo dài 3 – 6 tháng với một tỷ lệ tái phát cao ( trung bình là 10 giai đoạn ) Tiên lượng nhìn chung là tốt với 15% khỏi, 50 – 60% khỏi từng phần, mặc dù tái phát nhiều lần nhưng các chức năng tâm thần vẫn bình thường giữa các cơn, khoảng 1/3 trở thành mạn tính và mất khả năng giao tiếp xã hội [ 5 ]

Tái phát

Tỷ lệ tái phát sau giai đoạn điều trị trầm cảm cấp là 30% trong năm đầu tiên, 50% năm thứ 2, 70% năm thứ 3

Trầm cảm tái phát: Triệu chứng trầm cảm tái phát trong giai đoạn thuyên giảm ( tức là

6 tháng tính từ khi khởi phát giai đoạn trầm cảm )

Trầm cảm tái diễn: Giai đoạn trầm cảm khác xảy ra ngoài 6 tháng ( tính từ khi khởi

phát giai đoạn trầm cảm ), giữa 2 giai đoạn trầm cảm có một thời kỳ lành bệnh nhiều tháng mà không có rối loạn khí sắc đáng kể )

Các dấu hiệu dự đoán nguy cơ tái phát hay tái diễn

Nhiều tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến trầm cảm kết hợp với bệnh cơ thể, tuổi cao, các trầm cảm hoang tưởng ( Tỷ lệ tái phát tới 1 năm từ 75 – 80% ) hoặc trầm cảm kết hợp với

Ngày đăng: 03/04/2022, 12:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Siêm ( 1991 ), Rối loạn trầm cảm, Bách khoa thư bệnh học, Hà nội, tr. 215 – 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm
2. Phan Ngọc Hà. Nhận xét lâm sàng trầm cảm trầm cảm trong bệnh tâm thần phân liệt theo ICD – 10 ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Hà nội 11 – 1995, tr. 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét lâm sàng trầm cảm trầm cảm trong bệnh tâm thần phân liệt theo ICD – 10 ở Quảng Nam – Đà Nẵng
Tác giả: Phan Ngọc Hà
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
3. Đỗ Thúy Lan. ( 1994 ), " Chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng
Tác giả: Đỗ Thúy Lan
Năm: 1994
4. Trần Văn Long. ( 2009 ), " Bài giảng GDSK dành cho đối tượng cao đẳng, đại học &#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng GDSK dành cho đối tượng cao đẳng, đại học
Tác giả: Trần Văn Long
Năm: 2009
5. Nguyễn Văn Ngân ( 1996 ), Rối loạn trầm cảm, Một số chuyên đề tâm thần học, Học viện quân y, Hà Nội, tr 62 – 63, 66 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm, Một số chuyên đề tâm thần học
Tác giả: Nguyễn Văn Ngân
Nhà XB: Học viện quân y
Năm: 1996
6. Trần Viết Nghị, Nguyễn Văn Siêm, Nguyễn Viết Thiêm, Trần Văn Cường ( 2001 ), " Nghiên cứu dịch tễ - lâm sàng các rối loạn trầm cảm tại một số quần thể cộng đồng’’, Nội san tâm thần học, Hội tâm thần học, số 5, Hà nội, tr. 21 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tễ - lâm sàng các rối loạn trầm cảm tại một số quần thể cộng đồng
Tác giả: Trần Viết Nghị, Nguyễn Văn Siêm, Nguyễn Viết Thiêm, Trần Văn Cường
Nhà XB: Nội san tâm thần học
Năm: 2001
7. Tô Thanh Phương. ( 2006 ). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm nặng và điều trị bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần. Luận án Tiến sĩ y học. Học viện Quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm nặng và điều trị bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần
Tác giả: Tô Thanh Phương
Nhà XB: Học viện Quân Y
Năm: 2006
8. Nguyễn Văn Siêm và cộng sự. Kết quả xây dựng mô hình chăm sóc bệnh nhân trầm cảm tại cộng đồng, Nội san tâm thần học, Thường Tín 1. 2002, tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xây dựng mô hình chăm sóc bệnh nhân trầm cảm tại cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Văn Siêm, cộng sự
Nhà XB: Nội san tâm thần học
Năm: 2002
9. Quản Trường Sơn. Tổ chức các hoạt động phục hồi chức năng và tái thích ứng xã hội, Nội dung tập bài giảng PHCN, Hà nội 1- 2011, tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức các hoạt động phục hồi chức năng và tái thích ứng xã hội
Tác giả: Quản Trường Sơn
Nhà XB: Nội dung tập bài giảng PHCN
Năm: 2011
10. Nguyễn Viết Thiêm, Trần Viết Nghị, Trần Văn Cường. Dịch tễ lâm sàng các rối loạn trầm cảm.Chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng cho các bệnh tâm thần mạn tính, Hà nội 8. 2000, tr. 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ lâm sàng các rối loạn trầm cảm.Chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng cho các bệnh tâm thần mạn tính
Tác giả: Nguyễn Viết Thiêm, Trần Viết Nghị, Trần Văn Cường
Nhà XB: Hà nội
Năm: 2000
11.Phan Xuân Trung. Trầm cảm, truy cập từ: http:// www.ykhoa.net/yhocphothong/tamthan.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm cảm
Tác giả: Phan Xuân Trung
12. Cao Văn Tuân. Rối loạn trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên theo quan điểm của bác sĩ tâm thần nhi. Nội san tâm thần học, Thường Tín 2. 2002, tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên theo quan điểm của bác sĩ tâm thần nhi
Tác giả: Cao Văn Tuân
Nhà XB: Nội san tâm thần học
Năm: 2002
13. Trần Đình Xiêm. Vấn đề bệnh nguyên - bệnh sinh trầm cảm, Tâm thần học. 1995, tr. 319 – 321.* Tiếng Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bệnh nguyên - bệnh sinh trầm cảm
Tác giả: Trần Đình Xiêm
Nhà XB: Tâm thần học
Năm: 1995
1. Attar DL. ( 1995 ), Dépressions saisonnières , Les maladies depressives, Medecine – Sciences – Flammarion, p 209 – 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dépressions saisonnières
Tác giả: Attar DL
Nhà XB: Medecine – Sciences – Flammarion
Năm: 1995
2. Beaufils B. ( 1991 ), Neuro – endocrinologie de la dépression, La dépression , Masson, pp. 196 – 211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neuro – endocrinologie de la dépression
3. Carvanho de W. Cohen D. ( 1995 ), Étsats dépressifs chez L ’ Adulte, Les maladies despressives, Mesdecine – Sciences – Flammarion, pp. 3 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tsats "dépressifs" chez L"’"Adulte

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN