Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố di truyền của bệnh rối loạn trầm cảm, và người ta thấy có sự liên quan giữa trầm cảm với nhiễm sắc thể X và một số nghiên cứu cũn
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
-*** -
NGUYỄN THỊ THÚY LIÊN
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I NĂM 2022
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
-*** -
NGUYỄN THỊ THÚY LIÊN
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NAM BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I NĂM 2022
Chuyên nghành: Chăm sóc sức khỏe tâm thần
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN TH.S ĐỖ THỊ THU HIỀN
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, em đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ, cũng như quan tâm, động viên của các cá nhân và đơn vị Trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý
và Đào tạo sau đại học, bộ môn Điều dưỡng Tâm thần kinh cùng toàn thể các thầy
cô giáo công tác tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trình học tập
Ban Lãnh Đạo bệnh viện và khoa bán cấp tính Bệnh viện Tâm thần Trung Ương I đã chấp thuận và tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và làm chuyên đề
Em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới ThS Đỗ Thị Thu Hiền, người trực tiếp hướng dẫn khoa học và luôn dành thời gian hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành chuyên đề này
Em xin chân thành cảm ơn những người bệnh, gia đình người bệnh đã thông cảm tạo điều kiện cho em được thăm khám tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm túc những lời khuyên dành cho họ
Xin được cảm ơn các bạn trong lớp Điều dưỡng Chuyên khoa I tâm thần đã cùng vai sát cánh với tôi để hoàn thành tốt chuyên đề này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Học viên
Nguyễn Thị Thúy Liên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo của riêng tôi Các kết quả trong chuyên đề là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà nội, ngày tháng năm 2022 Người làm đơn
Nguyễn Thị Thúy Liên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 3
1.1 Khái niệm về trầm cảm 3
1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu bệnh trầm cảm 3
1.3 Sinh lý bệnh: 4
1.4 Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm 4
1.4.1 Các triệu chứng của rối loạn trầm cảm điển hình 5
1.4.2 Một số rối loạn trầm cảm 6
1.4.3 Các loại trầm cảm chính 6
1.5 Nguyên nhân dẫn đến bệnh trầm cảm 7
1.5.1 Nhân tố di truyền 7
1.5.2 Nhân tố môi trường 7
1.5.3 Nhân tố sinh học 8
1.5.4 Một số thói quen dẫn đến bệnh trầm cảm 8
1.6 Tiêu chẩn chuẩn đoán trầm cảm 9
1.7 Những dấu hiệu dự đoán về tiến triển, tái phát của trầm cảm 10
1.7.1 Trầm cảm và vấn đề tự sát 10
1.7.2 Những dấu hiệu dự đoán về tiến triển của trầm cảm 11
1.7.3 Tiến triển và tiên lượng 11
1.7.4 Tái phát 12
1.8 Điều trị người bệnh trầm cảm 12
1.9 Chăm sóc người bệnh trầm cảm 16
2 Cơ sở thực tiễn 17
2.1 Nghiên cứu về trầm cảm trên thế giới 17
2.2 Nghiên cứu về trầm cảm ở Việt nam 19
CHƯƠNG 2 21
MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH 21
Trang 62.1 Giới thiệu khái quát về bệnh viện Tâm thần Trung Ương I: 21
2.2 Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể: 21
2.2.1 Quá trình bệnh lý: 22
2.2.2 Khám bệnh: 22
2.2.3 Chăm sóc: 24
2.2.4 Giáo dục sức khỏe cho người bệnh: [ 4 ] 27
2.3 Một số ưu điểm và hạn chế: 28
2.3.1 Ưu điểm: 28
2.3.2 Nhược điểm: 28
CHƯƠNG 3 31
BÀN LUẬN 31
3.1 Bàn luận thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại khoa Bán cấp tính nam Bệnh viện Tâm thần Trung Ương I: 31
3.2 Nguyên nhân của các tồn tại: 32
3.3 Đề xuất giải pháp 32
3.3.1 Đối với nhân viên y tế 32
3.3.2 Với mạng lưới y tế cấp cơ sở 33
3.3.3 Đối với gia đình người bệnh 33
3.3.4 Đối với bệnh viện tâm thần trung ương 1 34
KẾT LUẬN 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ Trầm cảm là trạng thái buồn rầu, chán nản, không còn hứng thú gì trong cuộc sống, ngủ không ngon, ăn uống nhạt miệng, làm việc không xong tới chót, mặc cảm thua kém, khi rầu rĩ lâu ngày hay nghĩ đến cái chết Ngoài ra, người bệnh hay kèm
lo lắng, nặng đầu, đau mỏi vai gáy, ngực hồi hộp, tay chân lạnh
Rối loạn trầm cảm là một trạng thái bệnh lý hay gặp trong thực hành tâm thần học cũng như trong thực hành đa khoa Rối loạn trầm cảm có xu hướng gia tăng và chiếm khoảng 20 - 30% dân số, trong đó rối loạn trầm cảm chủ yếu chiếm 4,4% (Mỹ), 5,2% (Italie), 3,4% (Nam) và 6 % (Nữ) ở (Pháp), (2,85%) ở Việt Nam Hàng năm trên thế giới có tới hàng trăm triệu người được phát hiện là trầm cảm Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 18 – 44, tuổi khởi phát trung bình là 25,6, tỷ lệ nữ bị rối loạn trầm cảm cao gấp 3 lần nam Khoảng 45 – 70% những người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15 % người bệnh trầm cảm chết do tự sát Rối loạn trầm cảm có tỷ lệ tái phát cao [ 5 ]
Rối loạn trầm cảm do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhiều tác giả cho là có sự biến đổi của các chất trung gian hóa học trong hệ thống thần kinh trung ương như Noradrenaline và Dopamine Các thay đổi nồng độ một số Hormone thyroxin, Corticoid, một số chất điện giải, hoặc một số thành phần miễn dịch đều có thể gây ra trầm cảm Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố di truyền của bệnh rối loạn trầm cảm, và người ta thấy có sự liên quan giữa trầm cảm với nhiễm sắc thể X và một số nghiên cứu cũng cho thấy có những biến đổi 3 vùng
là Hồi Hải Mã, Hạnh nhân và vỏ não ở những người bệnh trầm cảm điển hình Bệnh trầm cảm để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội về sức lao động cũng như về kinh tế Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (OMS – 1996), Nakajima hơn 1,5 tỷ người có những biểu hiện về rối loạn tâm thần trong đó có khoảng 340 triệu người bị rối loạn trầm cảm sẽ là nguyên nhân gây mất khả năng lao động đứng hàng thứ hai vào năm 2020 Kinh phí chi cho trầm cảm rất lớn, ở Mỹ chi cho trầm cảm là 45 tỷ đô la, cho tâm thần phân liệt là 65 tỷ đô la và cho tim mạch là 120 tỷ
đô la Không những thế nhiều người bệnh trầm cảm đã tìm đến cái chết để giải thoát mọi khổ cực và bi quan về cuộc đời do bệnh gây ra Do vậy nhiều nước đã đưa chương trình phòng và chống bệnh trầm cảm vào chương trình quốc gia trong đó có
Trang 8Việt Nam Bệnh trầm cảm cũng đã được phân loại một cách chi tiết trong Bảng phân loại bệnh Quốc tế năm 1992 (ICD.10 mục F32), từ các bệnh trầm cảm điển hình nhất đến các bệnh trầm cảm không điển hình, bị che đậy bởi các thực thể cũng như các giai đoạn tái diễn trầm cảm
Hiện nay người bệnh có rối loạn trầm cảm ngày càng gia tăng, trở thành một vấn đề lớn của xã hội cần phải tập trung giải quyết Đây không phải là vấn đề riêng của ngành y tế mà đòi hỏi sự tham gia của toàn cộng đồng và xã hội, với những người bệnh này thì việc chăm sóc của điều dưỡng nói riêng và nhân viên y tế nói chung chỉ là một phần nhỏ, mà cần sự chăm sóc, quan tâm, theo dõi, hỗ trợ của gia đình xã hội, bạn bè cũng như của cả cộng đồng Để nâng cao công tác chăm sóc người bệnh trầm cảm nam thì cần có cái nhìn tổng thể, một bức tranh thực về tình hình chăm sóc những người bệnh này từ đó đưa ra được những can thiệp phù hợp hơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh
Do vậy tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề này: “Thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại khoa bán cấp tính nam - Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 ” với nhằm mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại Khoa Bán Cấp Tính Nam Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương 1 năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh Trầm cảm tại Khoa Bán Cấp Tính Nam Bệnh viện Tâm thần trung ương 1
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm về trầm cảm
Trầm cảm là một bệnh lý y tế liên quan đến tâm trí và cơ thể Cũng được gọi
là rối loạn trầm cảm chính và trầm cảm lâm sàng, nó ảnh hưởng đến cảm nhận, suy nghĩ và hành xử Trầm cảm có thể dẫn đến một loạt các vấn đề tình cảm và thể chất
Có thể gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động bình thường hàng ngày và trầm cảm có thể làm cho cảm thấy như thể cuộc sống là không đáng sống
Trầm cảm là một loại rối loạn tâm thần thường gặp nhất trong các dạng rối loạn tâm thần, bao gồm nhiều triệu chứng, nhưng hay gặp nhất là sự buồn bã sâu sắc và người bệnh không còn quan tâm hay thích thú đối với tất cả những gì xảy ra xung quanh hoặc đối với bản thân mình Người bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi, mất
hy vọng vào tương lai, nghĩ rằng thế giới xung quanh dường như lúc nào cũng u ám Rối loạn trầm cảm có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào nhưng thường gặp nhất là
ở lứa tuổi từ 18 – 44, Nữ dễ bị trầm cảm gấp đôi nam tuy nhiên phát hiện và chăm sóc người bệnh trầm cảm Nam sẽ khó khăn hơn Nữ
Trầm cảm nhiều hơn chỉ là cơn nhảy múa, trầm cảm không phải là điểm yếu, cũng không phải là một cái gì đó mà có thể chỉ đơn giản là thể hiện ra Trầm cảm là một căn bệnh kinh niên thường đòi hỏi phải điều trị lâu dài, như bệnh tiểu đường hoặc huyết áp cao Nhưng không được nản lòng, hầu hết những người bị trầm cảm cảm thấy tốt hơn với thuốc, tư vấn tâm lý hoặc điều trị khác
1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu bệnh trầm cảm
Thuật ngữ trầm cảm hay sầu uất “Melancholie” được Hippocrate (460 – 377 trước công nguyên) dùng để mô tả một số rối loạn tâm thần có biểu hiện rối loan khí sắc Năm 1686 Bonet mô tả một bệnh tâm thần mà ông gọi là bệnh hưng cảm – sầu uất “ Maniaco – Melancoliants ” Sau đó E Esquirol tách ra từ các bệnh loạn thần
bộ phận (Folies partielles ) một thể trầm cảm và gọi là cơn hoang tưởng ( HT ) buồn rầu Năm 1882, K Kahlbaum dùng thuật ngữ “ Cyclothymia ” ( Bệnh khí sắc chu
kỳ ) mô tả hưng cảm, trầm cảm như các giai đoạn của cùng một bệnh E.Kraepelin (1899 ), dựa trên các biểu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển của các bệnh do các
Trang 10nhà tâm thần học Pháp và Đức mô tả, thống nhất lại thành một thể bệnh và gọi là bệnh loạn thần hưng - trầm cảm Trước những năm 80 của thế kỷ XX, rối loạn trầm cảm (RLTC) được mô tả như một giai đoạn của bệnh loạn thần hưng – trầm cảm Các tiến bộ quan trọng trong việc mô tả, phân loại các RLTC trong 30 năm qua đã giúp thúc đẩy các nghiên cứu quan trọng về dịch tễ, bệnh nguyên và bệnh sinh các RLTC này một cách chi tiết, hợp lý [ 5 ]
1.3 Sinh lý bệnh:
Trầm cảm và hệ thần kinh tự chủ
Rối loạn hệ thần kinh tự chủ với sự tăng hoạt hệ giao cảm trong rối loạn trầm cảm cũng là cơ sở của mối liên hệ giữa rối loạn trầm cảm và bệnh lý tim mạch Tăng nhịp tim kéo dài, đáp ứng quá mức với sang chấn sinh lý, độ biến thiên nhịp tim thấp, đáp ứng kém của áp cảm thụ quan là những yếu tố thuận lợi làm phát sinh hoặc diễn tiến nặng thêm cho bệnh lý tim mạch sẵn có
Rối loạn trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận
Người bệnh rối loạn trầm cảm có sự gia tăng nồng độ catecholamine (epinephrine, norepinephrine) và cortisol máu Những hormone và chất trunggian hóa học này làm gia tăng sự tổn thương nội mạc mạch máu đẩy nhanh quá trình lão hóa và xơ vữa làm giảm khả năng chun giãn của mạch máu gây tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, tăng hoạt tiểu cầu, kích hoạt phản ứng …
1.4 Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm
Trầm cảm là một triệu chứng rối loạn tâm thần, có những triệu chứng rõ ràng như: mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn, mất hứng thú trong các sinh hoạt, buồn rầu, khó khăn khi tập trung, buông xuôi, vượt xa những cảm xúc buồn bã bình thường mà mỗi người chúng ta thỉnh thoảng đều trải qua
Ở phái nam, trầm cảm dễ bị xảy ra khi bị stress do căng thẳng trong công việc hàng ngày, kinh tế chật vật, ân hận vì lỡ thua cờ bạc, hạnh phúc tan vỡ, người thân mất, thay đổi chỗ ở, chỗ làm việc, tương lai bấp bênh…Nam giới vẫn thường phải chịu áp lực về sự thành đạt trong đời nếu không làm được điều này ( bị nép vế trong gia đình hay ở chỗ làm ), nhiều người ôm nỗi buồn đó một cách lặng lẽ, không muốn ngỏ cùng ai do đó dễ bị stress, người bệnh có những cơn giận dữ đột ngột, không kiểm soát bản thân, không thể quyết định được việc gì
Trang 11Ở phái nữ, triệu chứng thường thấy là buồn, âu sầu, hay khóc thờ ơ, không thấy thích thú gì với những công việc hàng ngày, kể cả chuyện tình dục, tuyệt vọng hoặc thấy mình chẳng có giá trị gì, ngủ quá nhiều hoặc không ngủ được, ngủ li bì đánh thức cũng không tỉnh; không thèm ăn và gầy đi hoặc ăn quá nhiều và béo lên; cảm giác mệt mỏi rã rời hoặc uể oải, không tập trung chú ý được và không quyết định được làm việc gì, cảm thấy trên thân thể đau đớn mà điều trị cũng không đỡ 1.4.1 Các triệu chứng của rối loạn trầm cảm điển hình
Khí sắc trầm cảm: Khí sắc trầm cảm thường gặp là buồn rầu uể oải, chân tay rời rã, cảm giác khó chịu, bất an, đuối sức trước cuộc sống, luôn cảm thấy đau khổ, nét mặt ủ rũ hoặc rơm rớm nước mắt, mệt mỏi, người bệnh thấy quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một màu đen tối, ảm đạm, thê thảm, đôi khi khó tả được cảm giác của mình, cảm thấy mình bị thất bại, hỏng việc, bất lực, tự đánh giá bản thân thấp kém, không có khả năng, là ngõ cụt [5]
Các rối loạn nhận thức: Quá trình liên tưởng ở người bệnh chậm chạp, hồi ức xuất hiện khó khăn, dòng tư duy bị ngưng trệ, khó diễn đạt ý nghĩ của mình thành lời nói, ít hoặc không nói Cũng có thể là các ý nghĩ tự ti, hèn kém, phẩm chất xấu, phạm nhiều tội lỗi, ý nghĩ bị thiệt hại, hoặc bị truy hại
- Các rối loạn tâm thần vận động: Ở những người bệnh RLTC nặng, người bệnh ngồi hàng giờ, ít đi lại hoặc nằm im một chỗ ở những nơi yên tĩnh, kín đáo như trong buồng hoặc ở phòng tối, không muốn tiếp xúc với ai Người bệnh cảm thấy nhanh chóng bị kiệt sức khi làm việc gì đó gắng sức, luôn cảm thấy mệt mỏi, suy nhược, mất nghị lực, luôn phàn nàn về sự mệt nhọc, đuối sức
- Các biểu hiện lo âu: Người bệnh thường có cảm giác lo lắng, sợ hãi cho các
dự định trong tương lai của họ Sự lo lắng của người bệnh xuất hiện dưới dạng căng thẳng và sự nguy hiểm, chờ đợi điều không mong muốn sắp xảy ra, do vậy họ thường có phản ứng tấn công người khác, hoặc xung động, lo âu và có thể xuất hiện hành vi tự sát
- Các triệu chứng cơ thể: Các biểu hiện rối loạn cơ thể thường xuyên biến đổi trong ngày, mệt mỏi thường tăng vào buổi sáng, giảm cân đôi khi nặng nề, có thể giảm tới 10kg trong một vài tháng (gặp ở nữ) Giảm trọng lượng có liên quan trực tiếp đến chán ăn, lo âu, tức ngực, chóng mặt, đau vùng trước tim, cảm giác kiến bò,
Trang 12giảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt, dễ kích thích căng thẳng Khi trầm cảm nặng người bệnh thường từ chối ăn, đôi khi gặp sự trái ngược là ăn vô độ có thể gây ra tăng cân
- Hành vi tự sát ở bệnh nhân trầm cảm nặng: Có tới 80% BN trầm cảm nặng
có ý định tự sát Đặc biệt có thể gặp tự sát trong quá trình tiến triển của trầm cảm khi điều trị chưa đạt kết quả Việc xác định được nguy cơ tự sát không phải là dễ dàng, hơn nữa họ có thể nói dối những ý định tự sát càng làm cho chúng ta không thể phát hiện được những ý nghĩ và hành vi của họ Mức độ nặng nề của nguy cơ tự sát thường có liên quan nhiều giữa cường độ lo âu với mức độ trầm trọng của trầm cảm [11]
1.4.2 Một số rối loạn trầm cảm
- Rối loạn trầm cảm không điển hình Người bệnh không có các biểu hiện của RLTC điển hình Người bệnh thấy ăn ngon miệng, tăng cân, ngủ nhiều, tăng hoạt động, mệt mỏi kèm theo đau các chi, cảm thấy như bị liệt, dễ tủi thân
- Trầm cảm ẩn Người bệnh thường phàn nàn về các triệu chứng cơ thể một cách lờ mờ, không rõ ràng, đau không rõ vị trí, thường kêu đau vùng trước ngực, đau nhức xương khớp…
- Trầm cảm suy nhược Nổi bật là những nét suy nhược với những ám ảnh sợ bệnh, ám ảnh mắc bệnh
- Trầm cảm nhẹ Các triệu chứng trầm cảm nằm dưới ngưỡng của trầm cảm điển hình
- Trầm cảm đôi Là trầm cảm điển hình xuất hiện ở người bệnh loạn khí sắc [5]
1.4.3 Các loại trầm cảm chính
Trầm cảm nhìn chung có 3 loại chính:
- Trầm cảm tâm căn:
Thường gặp nhất là cường độ trung bình và những trầm cảm này có thể gây
ra loạn thần, thường là những hành vi tự sát hoặc muốn chết
- Trầm cảm nội sinh: Trầm cảm nội sinh là loại trầm cảm có tính chất hệ thống đối lập với trầm cảm tâm căn và đáp ứng tốt với điều trị hóa dược
Một số biểu hiện của trầm cảm nội sinh là
Trang 13+ Không có phản ứng với biến đổi môi trường
+ Khí sắc thường xấu hơn vào buổi sáng
+ Mất hứng thú quan tâm sở thích
+ Tự buộc tội hoặc bị tội
+ Thức dậy sớm hoặc mất ngủ giữa đêm
- Không có các yếu tố tác động
- Không có tiền sử rối loạn khí sắc và yếu tố gia đình
- Không có các biểu hiện bệnh lý tâm căn trong tiền sử
- Trạng thái suy nhược
- Có một số triệu chứng gợi ý: Lú lẫn, lo âu, tư duy chậm chạp cùng với đau đầu kín đáo, động kinh, run… [ 2 ]
1.5 Nguyên nhân dẫn đến bệnh trầm cảm
1.5.1 Nhân tố di truyền
Các rối loạn khí sắc của trẻ, thanh thiếu niên và người lớn hay gặp trong số thành viên gia đình họ Nếu cha mẹ có một người bị trầm cảm thì nguy cơ con cái mắc bệnh trầm cảm tăng gấp đôi so với con cái của cặp cha mẹ có tiền sử bình thường Nếu cả hai cha mẹ đều bị trầm cảm thì xác xuất là 4 lần nguy cơ phát triển rối loạn khí sắc ở trẻ em dưới 18 tuổi [2]
1.5.2 Nhân tố môi trường
Có ít bằng chứng là vấn đề hôn nhân của cha mẹ, ly thân, ly hôn, anh chị em, vấn đề cấu trúc gia đình hay kinh tế - xã hội phát hiện ở trẻ em trầm cảm hình như
là thứ phát sau trầm cảm sẽ cải thiện sau khi trầm cảm hồi phục bền vững [2]
Trang 141.5.3 Nhân tố sinh học
Trẻ em trước tuổi dậy thì trong một giai đoạn trầm cảm lớn, có tăng khá rõ hocmon tăng trưởng trong giấc ngủ so với trẻ em bình thường với các trẻ em bị rối loạn cảm xúc không trầm cảm Các trẻ em này cũng tiết ít hocmon tăng trưởng khá
rõ phản ứng giảm đường huyết do Insulin gây ra so với các bệnh nhân không trầm cảm, hai bất thường trên tồn tại bền vững ba bốn tháng sau khi trạng thái lâm sàng
ổn định và trong trạng thái không dùng thuốc [2]
1.5.4 Một số thói quen dẫn đến bệnh trầm cảm
Người bị trầm cảm không thể tìm thấy hứng thú trong bất kỳ công việc gì
Có nhiều yếu tố gây ra trầm cảm, một số trong đó là thể chất, còn một số khác thuộc
về tâm lý Dưới đây là một số thói quen dễ dẫn đến trầm cảm:
+ Chế độ ăn không hợp lý
Ăn uống lành mạnh không chỉ tốt cho cơ thể mà còn tốt cho trí não, những thực phẩm chứa chất béo omega – 3 được xem là những thực phẩm bổ não vì chúng
có vai trò thiết yếu đối với mô não khỏe mạnh
Ngoài ra còn có nhiều chế phẩm bổ sung Mặc dù những chế phẩm này không phải lúc nào cũng ngon miệng, nhưng chúng giúp cho bộ não khỏe mạnh và ngăn ngừa sự tấn công của bệnh trầm cảm
Trang 15Hơn nữa, những người không ngủ đủ thường không làm tốt công việc, khiến
họ bị stress và càng giảm năng xuất
Khi một người không thể ngủ hoặc không thể làm tốt vai trò của mình, họ sẽ trở lên thất vọng và cảm thấy bị mắc kẹt thì kết cục là con người sẽ có cảm giác trầm uất Rất ít người biết rằng chỉ cần ngủ đủ là có thể ngăn chặn được bệnh trầm cảm
+ Cuộc sống cô lập
Sống cô lập là con đường chắc chắn dẫn đến trầm cảm Khi bạn lảng tránh bạn bè và người thân vì bất kỳ lý do gì, thì bạn đang tạo ra mảnh đất màu mỡ cho bệnh trầm cảm
+ Tính hay lo nghĩ
Suy nghĩ tiêu cực là một trong những nguyên nhân chính của trầm cảm Thường xuyên nghĩ về các mối đe dọa, sự chối bỏ, mất mát hay thất bại là cách chắc chắn đưa bạn đến với bệnh trầm cảm Với tất cả những áp lực của thế giới ngày nay, lo nghĩ quá nhiều đang trở thành ngòi nổ chính cho bệnh trầm cảm.[2] 1.6 Tiêu chẩn chuẩn đoán trầm cảm
Để được chẩn đoán là trầm cảm, phải đáp ứng được các tiêu chí triệu chứng nêu ra trong chẩn đoán thống kê Manual of Mental Disorders (DSM) Thống kê này được công bố bởi hiệp hội Tâm thần Mỹ và được sử dụng bởi các nhà cung cấp sức khỏe tâm thần để chẩn đoán các điều kiện tinh thần
Để được chẩn đoán là trầm cảm phải có năm hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau đây Ít nhất một trong các triệu chứng phải là tâm trạng chán nản, thất thoát một quan tâm hay niềm vui Các triệu chứng có thể dựa vào cảm xúc của riêng bản thân hoặc có thể dựa trên các quan sát của người khác Chúng bao gồm:
- Sự yếu tâm trạng nhất trong ngày, gần như mọi ngày, chẳng hạn như cảm thấy buồn, trống giỗng hoặc rơi lệ
- Giảm hoặc cảm thấy không có niềm vui trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động trong ngày, gần như mỗi ngày
- Giảm cân đáng kể khi không ăn kiêng, tăng cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng gần như mỗi ngày (ở trẻ em, không đạt được trọng lượng như mong đợi
có thể là một dấu hiệu của trầm cảm)
Trang 16- Mất ngủ hoặc làm tăng ham muốn ngủ gần như mỗi ngày
- Kích động hoặc trở lên chậm chạp
- Mệt mỏi hay mất năng lượng gần như mỗi ngày
- Cảm xúc của vô dụng hoặc quá nhiều tội lỗi không thích hợp hoặc gần như mỗi ngày
- Vấn đề ra quyết định hoặc khó tập trung suy nghĩ gần như mỗi ngày
- Thường xuyên suy nghĩ về cái chết hoặc tự tử, hoặc cố gắng tự tử [ 2 ] Tiêu chuẩn ICD – 10 F32
- F 32.0 Giai đoạn trầm cảm nhẹ (người bệnh cảm thấy không khỏe và tìm
sự giúp đỡ của bác sĩ, vẫn sinh hoạt bình thường)
- F 32.1 Trầm cảm mức trung bình (những yêu cầu công việc, việc nhà không đảm nhiệm nổi)
Theo Leff và Hirsch cho là trầm cảm và TTPL luôn luôn kết hợp với nhau trong đó các triệu chứng phân liệt thường rõ rệt hơn còn các triệu chứng trầm cảm
bị lu mờ, thường gặp trong giai đoạn loạn thần cấp và có tới 60% người bệnh TTPL trầm cảm có ý tưởng tự sát, khoảng 10 – 15% người bệnh TTPL trầm cảm chết do
tự sát [6]
Trang 17Người bệnh trầm cảm thường phàn nàn về ăn thấy không ngon trong khi người bệnh chán ăn vẫn có cảm giác ăn ngon và đói (chỉ mất cảm giác ngon trong giai đoạn nặng của chán ăn tâm thần) và thường bị ám ảnh bởi béo Có thể sau nhiều lần tái phát của chán ăn tâm thần thì bệnh trở lên mãn tính và khi đó có thể xuất hiện trầm cảm có thể tự sát ở bất cứ giai đoạn nào; giai đoạn khởi phát tại gia đình, giai đoạn cấp tại bệnh viện, giai đoạn ổn định tại bệnh viện hoặc giai đoạn hồi phục lúc ra viện về gia đình
1.7.2 Những dấu hiệu dự đoán về tiến triển của trầm cảm
- Tuổi khởi phát muộn trong giai đoạn đầu tiên sẽ có tiên lượng không tốt Sự tiến triển của trầm cảm tại người cao tuổi thường là nặng vì có thể kết hợp với nhiều bệnh khác và thường có tự sát, bệnh thường phức tạp cùng với sự hủy hoại trí tuệ và khó có thể kết hợp với liệu pháp tâm lý – xã hội để điều trị
- Giai đoạn của cơn kéo dài cũng như việc điều trị muộn cũng là những yếu
tố làm cho bệnh tiến triển xấu
- Các triệu chứng hoang tưởng đáp ứng kém với thuốc chống trầm cảm đơn thuần
- Các trạng thái hỗn hợp ít có tiên lượng tốt vì thường che đậy một triệu chứng cơ thể
- Tính chất nặng nề của trầm cảm và có các bệnh nội tiết thường là có tiên lượng tốt và đáp ứng tốt với điều trị
- Các yếu tố nhân cách có ảnh hưởng không tốt đến tiến triển của trầm cảm 1.7.3 Tiến triển và tiên lượng
Theo một số tác giả nghiên cứu, những giai đoạn trầm cảm ở TTPL có các triệu chứng loạn thần không phù hợp với khí sắc thường có tiên lượng xấu hơn là loạn thần phù hợp với khí sắc Khoảng 15% người bệnh trầm cảm có ý định tự sát Trung bình một giai đoạn trầm cảm có thể kéo dài 10 tháng nếu không điều trị, sau giai đoạn khởi đầu 6 tháng có thể có tới 75% người bệnh xuất hiện giai đoạn trầm cảm lần thứ hai
Trung bình có 5 đợt trầm cảm trong cuộc đời, có khoảng 50% khỏi hoàn toàn, 30% khỏi từng phần và 20% trở thành mạn tính Khoảng 20 – 30 % loạn khí sắc phát triển thành một rối loạn trầm cảm lớn (trầm cảm đôi), một rối loạn lưỡng
Trang 18cực II hoặc một rối loạn lưỡng cực I Khoảng 1/3 người bệnh rối loạn khí sắc chu
kỳ trở thành rối loạn khí sắc nặng, đặc biệt là rối loạn lưỡng cực II Khoảng 45% các trường hợp hưng cảm tái diễn, nếu không điều trị thì giai đoạn hưng cảm kéo dài 3 – 6 tháng với một tỷ lệ tái phát cao ( trung bình là 10 giai đoạn) Tiên lượng nhìn chung là tốt với 15% khỏi, 50 – 60% khỏi từng phần, mặc dù tái phát nhiều lần nhưng các chức năng tâm thần vẫn bình thường giữa các cơn, khoảng 1/3 trở thành mạn tính và mất khả năng giao tiếp xã hội [5]
1.8 Điều trị người bệnh trầm cảm
1.8.1.Nguyên tắc chung: Điều trị chống trầm cảm có thể được chia làm 3 giai đoạn
- Điều trị giai đoạn cấp: Nhằm làm giảm các triệu chứng của giai đoạn, thầy thuốc thăm khám toàn diện dựa vào lâm sàng, cận lâm sàng – tâm lý – xã hội Bác
sĩ, Điều dưỡng, cử nhân tâm lý cần kết hợp để lựa chọn các phương pháp điều trị tích cực
- Điều trị duy trì: Nhằm tránh tái phát, là sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, người bệnh và gia đình người bệnh để giúp người bệnh tuân thủ điều trị, đánh giá kết quả và phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát
- Điều trị dự phòng Nhằm tránh tái diễn bệnh
1.8.2 Điều trị cụ thể
* Điều trị giai đoạn cấp tính
Người bệnh đang điều trị nội trú, cần phải có thời gian ít nhất là sau 2 – 4 tuần điều trị Tùy theo tình trạng của người bệnh mà bác sĩ chọn thuốc và chỉnh liều cho phù hợp Thường chọn một trong các thuốc sau:
- Thuốc Serotonin ( SSRI )
Trang 19+ Amitriptiline 10, 25, 50mg Liều trung bình 20 – 50mg/ngày
+ Sulpiride 50mg Liều trung bình 200 – 400mg/ngày
+ Nufotin 20mg Liều trung bình 20mg/ngày
* Điều tri giai đoạn dự phòng: Cần cho người bệnh uống thuốc đều dặn hàng ngày theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tâm thần Không tự ý điều chỉnh liều thuốc khi không có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa
* Tác dụng phụ của thuốc: Thuốc điều trị trầm cảm có một số tác dụng phụ làm cho người bệnh khó chịu, buồn bực dẫn đến bỏ thuốc, dấu thuốc, không uống thuốc ảnh hưởng tới quá trình điều trị của người bệnh như làm giảm khả năng tình dục, đau ngực, khó thở, bồn chồn, đứng ngồi không yên, bứt rứt, thao thức…Người bệnh bị khô miệng, táo bón, bí tiểu, tiêu chảy, xuất tinh ở nam…
1.8.3 Điều trị tâm lý – xã hội
* Liệu pháp tâm lý:
Tư vấn tâm lý điều trị trầm cảm là một trọng điểm Tâm lý là một thuật ngữ chung cho một cách điều trị trầm cảm bằng cách nói chuyện về tình trạng và các vấn đề liên quan với nhà cung cấp sức khỏe tâm thần Tâm lý còn được gọi là trị liệu, trị liệu nói chuyện, tư vấn hay trị liệu tâm lý
Thông qua các buổi nói chuyện, tìm hiểu về các nguyên nhân gây trầm cảm
để có thể hiểu được nó tốt hơn Cũng tìm hiểu làm như thế nào để xác định và thực hiện thay đổi trong hành vi không lành mạnh hay suy nghĩ, tìm hiểu mối quan hệ và kinh nghiệm, tìm cách tốt hơn để đối phó và giải quyết vấn đề và đặt mục tiêu thực
tế cho cuộc sống Tâm lý có thể giúp lấy lại cảm giác hạnh phúc và kiểm soát trong cuộc sống và giúp giảm bớt các triệu chứng trầm cảm như tuyệt vọng và giận dữ Liệu pháp nhận thức hành vi là một trong những liệu pháp thông dụng nhất Liệu pháp này giúp xác định niềm tin và hành vi tiêu cực và thay thế bằng hành vi
Trang 20lành mạnh, tích cực Nó dựa trên ý tưởng rằng những suy nghĩ của riêng mình không phải người khác Ngay cả khi một tình huống không mong muốn không thay đổi, có thể thay đổi cách suy nghĩ và cư xử theo một cách tích cực Trị liệu tâm lý giữa cá nhân với nhau là loại tư vấn thường được sử dụng để điều trị trầm cảm
* Lao động liệu pháp
Là liệu pháp cận lâm sàng, gồm nhiều phương thức được thực hiện do chỉ định của bác sĩ, là liệu pháp vừa mang ý nghĩa lao động vừa mang ý nghĩa điều trị giúp người bệnh vượt qua những trở ngại do bệnh gây ra để tái thích ứng với xã hội bằng việc thực hành những kỹ thuật thủ công cùng với các liệu pháp nghệ thuật khác, liệu pháp nghệ thuật nhằm thu hút và dẫn dắt người bệnh đến với những đồ vật mà họ thích để họ có thể tự thể hiện đặc tính nghệ thuật của riêng mình Con người luôn có sự tác động tương hỗ với môi trường xung quanh Cán bộ liệu pháp (Ergothérapeute – ETP) tác động vào những rối loạn vận động hoặc rối loạn tâm thần do rối loạn sự tương hỗ này ETP đóng vai trò trung gian do vậy sẽ tạo cho người bệnh tính năng động hơn trong quan hệ của họ (xã hội, nghề nghiệp, cuộc sống hàng ngày, trao đổi với người khác) Các hoạt động này có thể là nghề nghiệp, cuộc sống hàng ngày, nghệ thuật, thủ công, văn hóa xã hội và để cho họ tự chủ trong các hoạt động này ETP giám sát người bệnh hàng ngày về hành vi, quan hệ với người khác, mức độ độc lập và tính tự chủ để đánh giá mức độ bệnh tật và chất lượng cuộc sống của họ Với người bệnh thì chất lượng quan hệ là hàng đầu, ETP phải nắm được toàn bộ con người và đưa ra một đề án cuộc sống mà người bệnh cảm thấy là có liên quan với mình, giải thích những ham muốn và không ham muốn… do vậy mối quan hệ giữa người bệnh và ETP là cần thiết ETP tác động trong cả một quá trình lâu dài về phục hồi chức năng, về tái thích nghi, trong những lĩnh vực chức năng và trong lĩnh vực tâm thần cho đến khi tái hòa nhập xã hội nghề nghiệp ETP giúp người bệnh không có khả năng đưa được cốc lên miệng, không có khả năng đánh răng… và như vậy người bệnh sẽ lao động trong sự tự chủ của mình như: đi toilette, ăn uống, mặc quần áo, có thể phục hồi các rối loạn chức năng về nhận thức, về chức năng truyền đạt: chứng mất sử dụng động tác, trí nhớ, chú ý, mất nhận thức, sơ đồ cơ thể, định hướng thời gian, không gian Cuối cùng là phục hồi chức năng về tâm lý xã hội [9]
Trang 21* Liệu pháp văn hóa giải trí
Liệu pháp văn hóa giải trí thường sử dụng nâng cao hiệu quả của liệu pháp lao động; bao gồm
+ Tổ chức các cuộc dạo chơi:
- Tổ chức cho người bệnh đi tham quan các di tích lịch sử, khu vui chơi giải trí lớn
- Tổ chức đi thực tế để người bệnh gắn bó với đời sống, với quê hương + Tổ chức các cuộc trò chuyện Như tuyên truyền, giáo dục nhận thức cho người bệnh
+ Tổ chức chiếu phim:
- Chọn phim ngắn, mang nhiều tính chất giải trí
- Phim có nội dung phong phú, tránh phim có nội dung xấu buồn, bế tắc + Tổ chức biểu diễn văn nghệ Động viên người bệnh tham gia hát, múa như
ca sĩ và diễn viên
+ Liệu pháp âm nhạc:
- Cần phát huy âm nhạc lên cảm xúc, tình cảm người bệnh
- Ép người bệnh tham gia các điệu múa tập thể trực tiếp tạo nên những vận động tích cực cho người bệnh
- Hát karaoke, nghe nhạc nhẹ cũng là hình thức có tác dụng điều trị rộng rãi nhất cho người bệnh
+ Hướng dẫn người bệnh thể dục, thể thao có tác dụng phục hồi thể lực và tâm lý hứng thú cho người bệnh Nó khơi dậy sự tập trung chú ý, trực tiếp tác động lên cơ quan vận động, làm lưu thông khí huyết cho người bệnh; bao gồm: đi bách
bộ, các bài tập thể dục buổi sáng, thể dục nhịp điệu, đá bóng, đạp xe đạp… [ 9 ]