BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH TRỊNH THỊ NGA THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CAI NGHIỆN MA TÚY ĐÁ MA TÚY DẠNG CHẤT AMPHETAMINE TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TRỊNH THỊ NGA
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CAI NGHIỆN MA TÚY ĐÁ (MA TÚY DẠNG CHẤT AMPHETAMINE) TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN
TRUNG ƯƠNG 1 NĂM 2018
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2018
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TRỊNH THỊ NGA
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CAI NGHIỆN MA TÚY ĐÁ (MA TÚY DẠNG CHẤT AMPHETAMINE) TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN
TRUNG ƯƠNG 1 NĂM 2018
Chuyên ngành: CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ MINH CHÍNH
NAM ĐỊNH – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học cùng toàn thể các cô giáo Bộ môn Tâm thần kinh trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập vừa qua
Đặc biệt Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Chính người đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi rất tận tình trong suốt thời gian tôi học tập và đóng góp xây dựng cho Tôi hoàn thành chuyên đề báo cáo tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các khoa, phòng và Bác sĩ Chuyên khoa cấp I Đỗ Thị Oanh- Trưởng khoa Cai nghiện của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi công tác, học tập tại bệnh viện
Các bạn trong lớp Chuyên khoa I- khóa 5 đã cùng kề vai sát cánh với tôi hoàn thành chuyên đề này
Những người bệnh, gia đình người bệnh đã cảm thông và tạo điều kiện cho tôi thăm khám -tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm túc những lời khuyên dành cho họ
Trong quá trình thực hiện chuyên đề do điều kiện khách quan, chủ quan không khỏi những thiếu sót, kính mong các Thầy, Cô cùng bạn bè, đồng nghiệp đóng góp ý kiến để chuyên đề được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 43.2 Một số thực trạng còn tồn tại trong chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy 22
4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CAI
NGHIỆN MA TÚY TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1 26
4.2 Đối với gia đình người bệnh 28 4.3 Đối với mạng lưới y tế cấp cơ sở 28 4.4 Đối với Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 51 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ma túy dạng chất Amphetamine là chất ma túy tổng hợp, các tác dụng kích thích tâm thần và cơ thể (ATS: Amphetamin type stimulant), là một trong những ma túy mạnh nhất Nghiện ma túy chất dạng amphetamine gây hậu quả cả về mặt tâm thần, cơ thể và ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, kinh tế gia đình, an ninh xã hội Nghiện ma túy nói chung và nghiện ma túy dạng chất amphetamine nói riêng là một vấn đề không chỉ riêng cho một quốc gia, mà nó mang tính chất toàn cầu
Ở Việt Nam, hiện nay số người nghiện ma túy chất dạng amphetamine tăng lên
rõ rệt Nhu cầu điều trị nghiện ma túy dạng amphetamine là rất lớn Việc điều trị nghiện ma túy chất dạng amphetamine cũng như nghiện ma túy nói chung rất phức tạp và khó khăn Nghiện ma túy dạng chất amphetamin có những đặc điểm bệnh lý khác với ma túy khác Do vậy, việc điều trị nghiện ma túy chất dạng amphetamine nói chung và công tác chăm sóc người bệnh nghiện ma túy chất dạng amphetamine nói riêng có những đặc điểm khác biệt với nghiện ma túy khác
Trong những năm gần đây số lượng người bệnh điều trị nghiện ma túy chất dạng aphetamine tăng lên rõ rệt Trong 6 tháng đầu năm 2018, theo thống kê có 64 người bệnh điều trị nghiện ma túy chất dạng amphetamine trong tổng số 102 người bệnh vào điều trị nghiện ma túy tại khoa Cai nghiện, bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, chiếm tỷ lệ 62,7%.[5]
Việc hiểu rõ những đặc điểm về những nhu cầu chăm sóc người bệnh điều trị nghiện ma túy chất dạng amphetamine là vấn đề cấp thiết, giúp cho công tác chăm sóc người bệnh điều trị nghiện ma túy chất dạng amphetamine tại cơ sở của điều dưỡng tốt hơn
Hiện tại, Bộ Y tế chưa có hướng dẫn công tác chăm sóc người bệnh điều trị nghiện ma túy chất dạng amphetamine Để góp phần làm sáng tỏ những nhu cầu chăm sóc chuyên biệt và hành động chăm sóc cần thiết trong công tác của điều dưỡng đối với người bệnh được điều trị nghiện ma túy nhóm amphetaminen tôi tiến hành chuyên đề:
“Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy đá (ma túy dạng chất Amphetamin) tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 năm 2018” với mục tiêu cụ thể như sau:
Trang 61 Mô tả thực trạng chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy đá tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1năm 2018
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác chăm sóc điều dưỡng với người bệnh cai nghiện ma túy đá (ma túy dạng chất Amphetamin) tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1
Trang 72 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm về chất ma túy
Chất ma túy (CMT) là chất gây nghiện, đó là chất tự nhiên (nhựa thuốc phiện,
lá coca, hoa lá rễ cần sa) hoặc những chất bán tổng hợp như Heroin hay chất tổng hợp như ATS (amphetamin và các chế phẩm cùng loại) Những chất này tác động đặc biệt vào hệ thần kinh trung ương và nếu sử dụng lặp lại nhiều lần sẽ gây trạng thái lệ thuộc về mặt tâm lý, sinh học cho người sử dụng Các chất này đều gây ra biến đổi tâm lý và cơ thể khác nhau như: Trạng thái bàng quan, thờ ơ đặc biệt là trạng thái khoái cảm (rất dễ chịu, khó quên, khó từ bỏ).[2]
Cây thuốc phiện (papaver somiferum) chứa hơn 20 loại alkloid khác nhau Morphin được chiết xuất vào năm 1960 và sau đó là codein (thuốc gây mê) năm
1932 Heroin là chất bán tổng hợp, là morphin có gắn thêm 2 gốc acetyl, thường dùng dưới dạng hút, hít và tiêm tĩnh mạch Heroin có tác dụng gây nghiện mạnh, nhanh và mạnh gấp nhiều lần morphin nên đã nhanh chóng thay thế morphin Ở nước ta hiện nay, Heroin là chất ma túy chủ yếu được thanh, thiếu niên sử dụng dưới dạng tiêm chích và đây là con đường lây nhiễm HIV, viêm gan B, C.[2]
2.1.2 Phân loại ma túy
Việc phân loại chất gây nghiện hết sức phức tạp và có nhiều cách khác nhau:
- Phân loại theo mức độ chất gây nghiện:
+ Chất gây nghiện mạnh là loại chất gây nghiện có phản ứng dược lý mạnh, tất
cả các nước đều cấm sử dụng: Morphin, Codein, Heroin
+ Chất gây nghiện trung bình là loại chất gây nghiện có phản ứng tâm lý là chủ yếu, đồng thời có cả phản ứng sinh học: Amphetamin, các chất gây loạn thần + Chất gây nghiện nhẹ là loại chất gây nghiện có phản ứng tâm lý là chủ yếu, phản ứng sinh học là thứ yếu: Thuốc lá, Cafein, Seduxen
- Phân loại theo nguồn gốc:
+ Nguồn gốc thực vật: Thuốc phiện, cần sa
+ Các dược phảm đã được sản xuất: Saduxen, Amphetamin, Barbiturate
- Phân loại theo chính sách xã hội:
+ Chất gây nghiện hợp pháp trong xã hội: Rượu, cà phê, thuốc lá
Trang 8+ Chất gây nghiện hợp pháp trong y tế: Morphin, Codein, thuốc giải lo âu Benzodiazepin, thuốc ngủ Barbiturate
+ Chất gây nghiện bất hợp pháp và bị giới hạn: Chất dạng thuốc phiện (Thuốc phiện, Heroin ), cannibis (cần sa, hashich ), coain
- Phân loại thuốc theo tác dụng của chất gây nghiện lên hệ thần kinh trung ương:
+ Các chất ức chế, giảm đau: Rượu, Benzodiazepin, các chất dạng thuốc phiện (opioid), thuốc ngủ Barpiturate, cần sa
+ Các chất kích thích, kích thần: Amphetamin, nicotin, cocain, cafein
+ Các chất gây ảo giác: Ketamin, mescaline [6]
2.1.3 Tình hình sử dụng ma túy
Theo số liệu báo cáo của các địa phương, tính tới cuối tháng 6 năm 2011 cả nước có 149.000 người nghiện ma túy So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng khoảng 2,7 lần với mức tăng xấp xỉ 6.000 người nghiện mỗi năm Người nghiện ma túy đã có 63/63 tỉnh, thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 60% xã, phường, thị trấn trên cả nước [1]
Cơ cấu người nghiện ma túy theo vùng miền cũng đã có những thay đổi đáng
kể Nếu như giữa những năm 90 của thế kỷ trước, nghiện ma túy chủ yếu phổ biến ở người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc thì từ giữa những năm 2000 đã tăng mạnh xuống vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực miền Đông Nam Bộ Năm 1994 có tới 61 % người nghiện ma túy ở Việt Nam thuộc khu vực các tỉnh Trung du và Miền núi phía Bắc thì tới năm 2009 tỷ lệ này là 30% Ngược lại, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng trong tổng số người nghiện ma túy của cả nước đã tăng từ 18,2% lên 31% trong cùng kỳ.Tương tự, tỷ lệ người nghiện ma túy thuộc các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã tăng từ 10,2% lên 23% [1]
Độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có xu hướng trẻ hóa Cuối năm 2010, gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi 30 trong khi năm 1995 tỷ lệ này chỉ khoảng 42% Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam giới Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng có xu hướng tăng trong những năm qua [1]
Loại ma túy được sử dụng và hình sử dụng ma túy cũng có nhiều thay đổi phức tạp Thay cho vai trò của thuốc phiện trong hơn 10 năm trước đây, ma túy hiện
là loại ma túy được sử dụng ở Việt Nam, có tới 96,5% người nghiện thường xuyên
Trang 9sử dụng ma túy trước khi tham gia cai nghiện Kết qủa rà soát đến tháng 9/2015 toàn quốc có hơn 204.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý của lực lượng công
an, tăng gần 23.000 người (tăng 12%) so với cuối năm 2013 Theo báo cáo của Bộ Lao động TB & XH, mỗi người nghiện ma túy sử dụng khoảng 230.000 đồng/ngày,
do đó số tiền thiệt hại là rất lớn Bên cạnh đó, những năm gần đây người nghiện ma túy của Việt Nam luôn luôn gia tăng [1]
Như vậy, có thể thấy tình hình lạm dụng ma túy ở Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma túy mới Đa số người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, chưa được đào tạo nghề
và không có việc làm ổn định, thường gặp các vấn đề về sức khỏe, kinh tế khó khăn, nhiều người không được sự hỗ trợ của người thân, gia đình Do vậy, việc tổ chức cai nghiện cho người nghiện ma túy là cần thiết nhằm giúp học từ bỏ sự phụ thuộc vào chất gây nghiện, đồng thời trang bị, phục hồi cho học các kỹ năng sống và kỹ năng lao động để đảm bảo thực hiện đầy đủ các vai trò của mình trong gia đình và
xã hội
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sự lệ thuộc vào chất ma túy chủ yếu là sự lệ thuộc
về mặt tâm thần Sự lệ thuộc về mặt cơ thể chỉ trong thời gian ngắn, cơ thể tự điều chỉnh để chấm dứt các triệu chứng của hội chứng cai trong vòng 1-2 tuần Cảm giác sảng khoái và bình thản do Heroin gây ra là cơ sở sinh học của thèm và nhớ trường diễn Heroin Đó là nguyên nhân làm cho hầu hết người nghiện tái sử dụng lại Heroin sau một thời gian ngắn điều trị hội chứng cai nếu không được duy trì chống tái nghiện lâu dài Các tác giả sử dụng liệu pháp tập tính cho rằng trong thời gian dài sử dụng Heroin gây ra những phản ứng thường xuyên của bộ não đối với Heroin, từ đó hình thành một phản xạ có điều kiện mà việc xóa bỏ phản xạ này là rất khó Cảm giác thèm và nhớ sự dễ chịu, sảng khoái do Heroin đem lại đã tồn tại tiềm tàng và thường trực trong não Bởi vậy, khi gặp một kích thích gợi nhớ Heroin thì các dấu vết của phản xạ có điều kiện lại được hoạt hóa Xung động thèm Heroin xuất hiện trở lại và thúc đẩy người nghiện tái sử dụng Chính vì thế, một số người nghiện Heroin đã điều trị hội chứng cai và sử dụng nó trong một thời gian dài, lại có thể tái nghiện sau khi ra khỏi trại cai nghiện một thời gian ngắn
2.1.4 Nguyên nhân nghiện ma túy
2.1.4.1 Chất gây nghiện
Trang 10Các chất dạng thuốc phiện tự nhiên ở miền núi nước ta rất sẵn có và dễ trồng Mặc dù nước ta có chủ trương triệt phá cây thuốc phiện, chuyển đổi cây trồng, nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp Do địa hình nước ta gần vùng tam giác vàng, lượng ma túy xâm nhập vào Việt Nam rất dễ dàng và có xu hướng gia tăng Ngày càng xuất hiện chất ma túy (Heroin) bán tổng hợp mới, dễ vận chuyển, sử dụng đơn giản và tiện lợi Vì vậy việc kiểm soát sự lưu thông và buôn bán ma túy rất khó khăn
2.1.4.2 Đối tượng có nguy cơ nghiện
- Lứa tuổi thanh thiếu niên đang trong quá trình hình thành nhân cách, dễ bị khủng hoảng tâm lý, dễ bị lợi dụng và thích tò mò mạo hiểm
- Những người bị stress lâm vào trạng thái lo âu, trầm cảm có thể tìm đến ma túy
- Đặc điểm tích cách có xu hướng nghiện
2.1.4.3.Môi trường xã hội
- Gia đình có người nghiện ma túy, nội bộ gia đình xung đột, không quan tâm giáo dục hoặc quá nuông chiều con cái
- Cơ chế thị trường, mở cửa, giao lưu quốc tế thuận lợi, nhận thức của người dân về ma túy còn hạn chế
2.1.5 Tác hại của ma túy
2.1.5.1 Về sức khỏe
Người nghiện ma túy thường chán ăn dẫn đến gầy sút, sợ lạnh, lười vệ sinh thân thể, dễ bị nhiễm khuẩn do tiêm chích không vô trùng Có nguy cơ bị sốc thuốc
do quá liều hoặc tiêm nhanh Đặc biệt dùng chung bơm kim tiêm và tình dục không
an toàn dễ bị lây nhiễm HIV/AIDS Người nghiện thường biến đổi nhân cách, thiếu kiềm chế cảm xúc, hay xung đột với gia đình, lừa dối mọi người, tử bỏ mọi ham muốn, thường xuyên trong tình trạng nhiễm độc như lơ mơ, đi loạng choạng, dễ bị tai nạn và gây tai nạn cho người khác Ngoài ra còn có thể có các rối loạn tâm thần khác như: Lo âu, trầm cảm, hoảng tưởng, ảo giác
2.1.5.2 Về kinh tế
Chi phí mà người nghiện ma túy phải chi trả ngày càng nhiều do phải tăng liều
và tăng số lần sử dụng trong khi thu nhập từ lao động ngày càng giảm, thậm chí không kiếm ra tiền Chính vì thế mà người nghiện ma túy phải lừa dối mọi người để
Trang 11có tiền sử dụng ma túy bằng mọi giá như bán đồ đạc của người thân, trộm cắp và cuối cùng là phạm tội Ở nước ta, trung bình một người nghiện ma túy tiêu thụ từ 50.000 đến 200.000 đồng/ ngày, tính ra cả nước sẽ mất tới 10 tỷ đồng/ ngày Hằng năm nhà nước chi phí 50 tỷ đồng cho công tác phòng chống tệ nạn xã hội trong đó
có nghiện ma túy Trên thế giới việc mua bán ma túy lên tới 500 tỷ USD/ năm, bằng 8% tỷ trọng thương mại toàn cầu Phần lớn những người nghiện ma túy kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, 100% gia đình lâm vào cảnh sa sút kinh tế, 12% chủ doanh nghiệp bị phá sản, 4% bị mắc nợ và 14% bị đuổi việc [1]
2.1.5.3 Về gia đình
Ma túy làm đạo lý gia đình bị đảo lộn, vợ chồng li dị, con cái hư hỏng, lang thang, bụi đời Thống kê qua điều tra xã hội học gần đây có 27% người nghiện ma túy vợ hoặc chồng ly dị, 16,6% li thân từ bỏ nghĩa vụ đối với người nghiện, 8.33% con cái bị hư hỏng Nạn ma túy còn làm mất nhân phẩm, giá trị con người, nhân cách đồi bại [1]
2.1.5.4 Đối với xã hội
Gây mất trật tự an toàn xã hôi, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm Ảnh hướng đến đạo đức thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc, làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội, tăng chí phí ngân sách xã hội cho các hoat động ngăn ngừa, khắc phục hậu quả do ma túy đem lại Từ
đó gây hoang mang, căng thẳng đối với những người sống bên cạnh người nghiện
ma túy cảm thấy không an toàn, né tránh người nghiện để tránh tai họa do người nghiện ma túy gây nên
2.1.6 Hội chứng cai nghiện ma túy dạng chất Amphentamine
2.1.6.1 Ma túy chất dạng amphetamine thường gặp
Ma túy chất dạng amphetamine là loại ma túy có tác dụng kích thích, còn gọi
là ATS (amphetamine type stimulant)
Một số loại ATS được sử dụng bất hợp pháp thường gặp:
- Amphetamine và thuốc chất dạng amphetamine không dùng cho mục đích điều trị
- MDMA (3,4-Methylenedioxymethamphetamine), tên đường phố là thuốc lắc
- MDMA (Methylenedioxymethamphetamine), tên đường phố là EVA
- Methamphetamine tên đường phố là “Ma túy đá” (ICE).[2]
Trang 122.1.6.2 Nghiện ma túy chất dạng amphetamine
Nghiện ma túy dạng chất Amphetamine là tình trạng phụ thuộc chất dạng amphetamine về tâm thần hoặc cơ thể, hoặc cả hai do sử dụng chất dạng amphetamine gây nên
Theo tiêu chuẩn quốc tế “phân loại các rối loạn tâm thần và hành vi” lần thứ
10 (ICD.10), nghiện ma túy chất dạng amphetamine được xác định khi thoản mãn các tiêu chuẩn sau:
Ba hoặc nhiều hơn các biểu hiện sau đây cần phải xảy ra cùng nhau trong vòng
ít nhất một tháng hoặc nếu tồn tại trong khoảng thời gian ngắn hơn một tháng thì cần lặp đi lặp lại cùng nhau trong khoảng thời gian 12 tháng
1 Ham muốn mạnh mẽ hoặc cảm giác buộc phải sử dụng ma túy chất dạng amphetamine
2 Tổn thương khả năng kiểm soát tập tính sử dụng chất dạng amphetamine về mặt thời gian bắt đầu , kết thúc hoặc mức sử dụng, được chứng minh bởi ma túy chất dạng amphetamine thường được sử dụng với khối lượng lớn hơn và trong thời gian dài hơn dự định; hoặc bởi dự thèm muốn dai dẳng hoặc với nỗ lực không thành
để giảm bớt hoặc kiểm soát việc sử dụng chất dạng amphetamine đó
3 Một trạng thái cai sinh lý khi việc sử dụng chất dạng amphetamin bị ngừng lại hoặc giảm bớt, được chứng minh bởi hội chứng cai đặc trưng cho chất dạng amphetamine đó, hoặc phải sử dụng chất dạng amphetamine cùng loại hoặc gần giống, với ý định làm giảm nhẹ hoặc tránh các hội chứng cai
4 Có bằng chứng về hiện tượng dung nạp thuốc như có nhu cầu phải tăng đáng kể lượng chất dạng amphetamine để đạt được các hiệu quả mong muốn hoặc gây ngộc độc, hoặc giảm đáng kể tác dụng với việc sử dụng tiếp tục cũng một khối lượng dạng chất amphetamine như cũ
5 Sao nhãng do sử dụng chất dạng amphetamine biểu hiện bằng sự thay đổi nhiều các thú vui hoặc mối quan tâm bị từ bỏ hoặc giảm sút do sử dụng chất dạng amphetamine, phần lớn thời gian cần để tìm kiếm hay sử dụng chất dạng amphetamine, hoặc hồi phục khỏi tác động của chất dạng amphetamine
Tiếp tục sử dụng mặc dù có bằng chứng rõ ràng về hậu quả có hại, được minh chứng bởi việc tiếp tục sử dụng khi người bệnh biết hoặc có thể xem như đã biết bản chất và mức độ hại
Trang 132.1.6.3 Trạng thái cai ma túy chất dạng amphetamine
Theo ICD.10 một trạng thái cai chất dạng amphetamine được chẩn đoán khi thỏa mãn các điều kiện sau:
G1 Phải có bằng chứng rõ ràng về việc mới ngừng hoặc giảm sử dụng chất dạng amphetamine sau khi đã sử dụng ma túy đó lặp đi lặp lại, thường với liều cao
và thời gian kéo dài
G2 Các triệu chứng và dấu hiệu tương ứng với các đặc điểm đã biết của trạng thái cai của chất dạng amphetamine đặc biệt hoặc những chất ma túy nói chung G3 Các triệu chức và hội chứng không thể quy cho một bệnh nội khoa không liên quan đến việc sử dụng ma túy và không thể quy cho một rối loạn tâm thần hoặc một rối loạn hành vi khác.[6]
2.1.6.4 Biểu hiện của trạng thái cai ma túy dạng chất amphetamine
Biểu hiện của trạng thái cai ma túy dạng chất amphetamine biểu hiện cả về tâm thần và cơ thể
A Các tiêu chuẩn đối với trạng thái cai (mục G1-G3) phải được đáp ứng
B Có rối loạn khí sắc(Buồn hoặc mất khoái cảm)
C Hai trong số các dấu hiệu sau phải có mặt
6 Có các giấc mơ khó chịu hoặc kỳ quặc
2.1.6.5 Rối loạn tâm thần thường gặp
Rối loạn tâm thần là một trong những hậu quả của nghiện ma túy đá nói chung
và nghiện ma túy dạng amphetamine nói riêng
Ma túy chất dạng amphetamine thuộc nhóm ma túy kích thích có thể gây rối loạn thần, đặc biệt là loạn thần sớm hơn so với một số ma túy khác, thường trong vòng 6 tháng
Rối loạn tâm thần có thể do tác dụng dược lý của ma túy hoặc do quá trình nhiễm độc mạn tính gây nên
2.1.6.6 Rối loạn tâm thần do nhiễm độc cấp ma túy dạng amphetamine
Trang 14Người bệnh sử dụng ma túy chất dạng amphetamine xuất hiện trạng thái kích thích tâm thần:
- Cảm xúc hưng phấn quá mức kiểm soát
có thể có những hành vi nguy hiểm cho bản thân và người xung quanh
- Hoang tưởng: Hoang tưởng cũng rất phong phú, thường gặp là hoang tưởng
bị hại, hoang tưởng mang tính chất kì dị Hoang tưởng cũng là nguyên nhân gây rối loạn cảm xúc, hành vi của người bệnh
- Hành vi: Người bệnh thường có hành vi nguy hiểm, gây rối trật tự, tấn công, hành vi kì dị
2.1.6.7 Rối loạn tâm thần giai đoạn hội chứng cai ma túy chất dạng amphetamine
Hội chứng cai ma túy chất dạng amphetamine biểu hiện chủ yếu là triệu chứng suy nhược và trầm cảm Sau giai đoạn kích thích do nhiễm độc cấp người bệnh rơi
vào trạng thái kiệt năng lượng và trầm cảm
Triệu chứng lo âu cũng thường gặp người bệnh ngủ nhiều, ít hoạt động, có những giấc mơ kì dị
2.1.6.8 Rối loạn tâm thần do nhiễm độc mạn tính ma túy chất dạng amphetamine
Nhiễm độc mạn tính ma túy chất dạng amphetamine gây rối loạn chức năng não có thể gây rối loạn tâm thần Các triệu chứng rối loạn tâm thần do nhiễm độc mạn tính thường kéo dài sau khi hết hội chứng cai sinh lý
- Cảm xúc: Triệu chứng phong phú, thường biểu hiện bằng cảm xúc không ổn định, dễ cáu giận bùng nổ
- Tri giác: Thường gặp là ảo thanh, ảo thị nội dung phong phú
- Tư duy: Triệu chứng rất phong phú Người bệnh có thể có những ý nghĩ kì
dị, tư duy hưng phấn hay ức chế Thường gặp các hoang tưởng bị hạn, bị theo dõi, hoang tưởng kỳ quái
Trang 15- Hành vi: Hành vi rối loạn thường do ảo giác và hoang tưởng chi phối: Kích động, gây hấn, hành vi kì dị
* Rối loạn nhân cách
Nhân cách người bệnh nghiện ma túy nói chung và nghiện ma túy chất dạng
am phetamine nói riêng thường là nhân cách chống đối xã hội: Chống lại những chuẩn mực xã hôi, những nội quy, phản ứng mang tính bùng nổ dữ dội
2.2 Cơ sở Thực tiễn
2.2.1 Quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy của Bộ Y tế
- Mục đích:
+ Giúp người bệnh vượt qua giai đoạn cai đỡ đau đớn, vật vã, khó chịu
+ Nâng đỡ thể trạng trong quá trình cai
+ Tạo cho người bệnh ý chí để khi ra viện có phương pháp, nghị lực chống tái nghiện
- Các bước chăm sóc:
+ Phải có phòng tiếp đón riêng biệt, kiểm tra kỹ tư trang, thay toàn bộ quần áo, giày dép, đồ dùng cá nhân để loại trừ ma túy
+ Hướng dẫn nội quy của khoa, phòng và Bệnh viện
+ Ký vào đơn xin cai nghiện ma túy tự nguyện trong Hồ sơ bệnh án
+ Giúp người bệnh lấy nước tiểu tìm chất gây nghiện
+ Đưa người bệnh đi làm các xét nghiệm cận lâm sàng: Xét nghiệm máu, HIV, X-quang, điện não đồ, test tâm lý
+ Quản lý không để người bệnh tiếp xúc với bên ngoài phòng tiếp tế chất gây nghiện
Hầu hết khi người bệnh thiếu ma túy đều chống đối điều trị: Bỏ chạy, lẩn trấn, phá phách, đánh lại nhân viên, gây hấn
+ Kiên trì giải thích, động viên, cảm thông với cơn đau đớn của người bệnh, không xa lánh người bệnh, luôn phải tiếp cận với người bệnh, xoa bóp cho người bệnh
+ Nếu có tình trạng nguy kịch phải báo cáo với bác sĩ kịp thời để xử trí
+ Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho người bệnh, tăng cường hoa quả, chất dinh dưỡng
Trang 16+ Nhân viên trực theo dõi sát người bệnh uống thuốc, các hội chứng cai, theo dõi chức năng sống theo chỉ định
+ Phát hiện những hành vi của người bệnh, quan hệ xung quanh, người thân đến thăm có những khả năng mang ma túy vào cho người bệnh
+ Trường hợp người bệnh chống đối không chấp nhận cai báo bác sĩ giải quyết kịp thời
+ Ghi nhận xét diễn biết bất thường, hội chứng cai vào phiếu theo dõi, phiếu chăm sóc điều dưỡng
2.2.2 Quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1
Bệnh tâm thần có đặc điểm tiến triển âm í, thời gian ủ bệnh dài, người bệnh thường nhập viện trong tình trạng rối loạn tâm thần nặng Điều dưỡng cấn có những
kỹ năng giải quyết tốt các tình huống, nắm được trạng thái tâm thần của người bệnh ngay từ khi nhập viện, đặc biệt những trường hợp người bệnh kích động, có hành vi
tự sát, chống đối ăn
+ Người bệnh kích động phải tìm cách động viên, an ủi người bệnh, thực hiện
y lệnh tiêm thuốc Nếu người bệnh kích động dữ dội hoặc có hành vi nguy hiểm phải quản lý người bệnh ở buồng riêng biệt hoặc cố định tại giường
+ Người bệnh có ý tưởng hành vi tự sát phải theo dõi chặt chẽ 24/24 giờ, sắp xếp người bệnh nằm buồng thoáng mát để dễ quan sát, thường xuyên gần gũi, tiếp xúc với người bệnh nhằm phát hiện những ý tưởng tự sát kịp thời ngăn chặn
+ Người bệnh chống đối không ăn cần phải động viên hoặc cho người bệnh ăn ống thông đáp ứng nhu cầu dùng thuốc của người bệnh
+ Quản lý theo dõi sát không để người bệnh có hành vi bỏ viện, đáp ứng các nhu cầu chăm sóc cơ bản như: Giúp người bệnh vệ sinh cá nhân, ăn ngủ đúng giờ, thực hiện các y lệnh chuyên môn của bác sĩ
+ Giai đoạn tâm thần ổn định: Động viên người bệnh tham gia các hoạt động phục hồi chức năng, giúp người bệnh khi ra viện sớm hòa nhập với cộng đồng Hướng dẫn giáo dục sức khỏe, tuân thủ điều trị
2.2.3 Quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy nhóm thuốc phiện
Trang 17- Nhóm thuốc phiện bao gồm thuốc phiện, Heroin và một số thuốc không dùng cho mục đích điều trị như Morphin, Dolargan Chất sử dụng bất hợp pháp phổ biến hiện nay là Heroin
- Nghiện ma túy nhóm thuốc phiện là tình trạng phụ thuộc chất ma túy nhóm thuốc phiện về tâm thần hoặc cơ thể, sau sử dụng lặp lại chất ma túy đó
- Hội chứng cai hay còn gọi là trạng thái cai ma túy nhóm thuốc phiện thường biểu hiện rất mãnh liệt cả về cơ thể và tâm thần, diễn biến thường xảy ra sau ngừng
sử dụng hoặc giảm liều sử dụng
Để chẩn đoán hội chứng cai Heroin theo ICD.10 cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
Có bằng chứng giảm liều hay ngừng liều sử dụng chất dạng thuốc phiện
Ba trong số các dấu hiệu sau có mặt
1 Cảm giác thèm khát đối với Heroin
2 Ngạt mũi hoặc hắt hơi
12 Ngủ không yên (rối loạn giấc ngủ)
- Chăm sóc theo quy trình hướng dẫn của Bộ Y tế
Người bệnh điều trị cai nghiện ma túy cần được hỗ trợ chăm sóc giúp người bệnh vượt qua giai đoạn cai đỡ đau đớn, vật vã, khó chịu Nâng đỡ thể trạng trong quá trình cai và tạo cho người bệnh ý chí, nghị lực khi ra viện có phương pháp chống tái nghiện
Cần có những nhu cầu và hành động chăm sóc:
+ Tâm lý tiếp xúc nhẹ nhàng, tạo cảm giác thoải mái để người bệnh yên tâm tin tưởng điều trị cai nghiện ma túy
Trang 18+ Sắp xếp người bệnh nằm buồng thoáng mát, yên tĩnh, dễ quản lý,theo dõi + Phục vụ chăm sóc ăn, uống đảm bảo đủ dinh dưỡng để nâng đỡ thể trọng trong quá trình cai
+ Thực hiện các y lệnh thuốc: Tiêm, truyền, cho người bệnh uống thuốc nhằm
hỗ trợ người bệnh giảm đau đớn, vật vã
+ Quản lý không để người bệnh tiếp xúc với bên ngoài đề phòng tiếp tế chất gây nghiện
+ Theo dõi, phát hiện những diễn biến bất thường thông báo cho bác sĩ kịp thời
xử lí
+ Luôn phải gần gũi, động viên, an ủi, xoa bóp cho người bệnh
+ Tuyên truyền, giải thích tác hại và hậu quả của sử dụng ma túy giúp người bệnh nhận thức được để khi ra viên có ý chí, nghị lực và phương pháp chống tái nghiện.[2]
- Chăm sóc theo quy trình hướng dẫn của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1
Chăm sóc chung như người bệnh tâm thần cấp tính và nghiện ma túy theo quy trình hướng dẫn của Bộ Y tế Cần có thêm những nhu cầu và hành động chăm sóc sau:
+ Theo dõi sát những diễn biến tâm lý, cảm xúc, hành vi của người bệnh + Theo dõi các biểu hiện của hội chứng cai
+ Theo dõi ý tưởng và hành vi bỏ viện, tự sát của người bệnh
+ Quản lý, giám sát người nhà thăm gặp người bệnh đề phòng tiếp tế chất gây nghiện
+Hướng dẫn người bệnh hoạt động phục hồi chức năng (bóng bàn, cờ tướng, bóng chuyền, hát Karaoke ) giúp người bệnh giảm cảm giác thèm ma túy
+Ghi nhận xét những diễn biến bất thường và hành động chăm sóc vào phiếu điều dưỡng trong Hồ sơ bệnh án
+ Đánh dấu hội chứng cai vào phiếu theo dõi [4]
- Theo một số y văn, người bệnh cắt cơn cai nghiện ma túy có các nhu cầu chăm sóc cơ bản sau:
*Giai đoạn nhập viện