1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH TRẦM CẢM TẠI ĐƠN NGUYÊN ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN NGƯỜI GIÀ VIỆN SỨC KHỎE TÂM THẦN BỆNH VIỆN BẠCH MAI

56 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại đơn nguyên điều trị tâm thần người già viện Sức Khỏe Tâm Thần Bệnh Viện Bạch Mai
Tác giả Tạ Thị Hằng
Người hướng dẫn TS. Trương Tuấn Anh
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Chăm sóc sức khỏe tâm thần
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 893,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (10)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (10)
      • 1.1.1. Các khái niệm (10)
      • 1.1.3. Vài nét lịch sử về bệnh trầm cảm (13)
      • 1.1.4. Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm theo ICD-10 (14)
      • 1.1.5. Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm theo ICD – 10 (15)
      • 1.1.6. Bệnh nguyên, bệnh sinh của rối loạn trầm cảm (17)
      • 1.1.7. Chẩn đoán trầm cảm (20)
      • 1.1.8. Tiến triển, tiên lượng và tái phát của bệnh trầm cảm (21)
      • 1.1.9. Điều trị trầm cảm (22)
      • 1.1.10. Quy trình chăm sóc người bệnh trầm cảm (27)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (29)
      • 1.2.1. Nghiên cứu về trầm cảm trên thế giới (29)
      • 1.2.2. Nghiên cứu về trầm cảm tại Việt Nam (30)
  • CHƯƠNG 2. MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH (31)
    • 2.1. Khái quát Viện Sức Khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai (31)
      • 2.1.1 Mục tiêu (33)
      • 2.1.2 Sứ mệnh (33)
      • 2.1.3. Tầm nhìn (34)
      • 2.1.4. Kế hoạch chiến lược (34)
    • 2.2. Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể (34)
    • 2.3. Một số ưu điểm và tồn tại (44)
      • 2.3.1. Ưu điểm (44)
      • 2.3.2. Tồn tại (45)
  • CHƯƠNG 3. BÀN LUẬN (47)
    • 3.1. Bàn luận thực trạng chăm sóc người bệnh trầm cảm tại đơn nguyên điều trị tâm thần người già Viện Sức Khoẻ Tâm thần -Bệnh viện Bạch Mai (47)
    • 3.2. Nguyên nhân của các tồn tại (48)
    • 3.3. Đề xuất giải pháp (49)
      • 3.3.1. Giải pháp về quản lý (49)
      • 3.3.2. Giải pháp về kỹ thuật và đào tạo (49)
      • 3.3.3. Đối với gia đình người bệnh (50)

Nội dung

Tuổi già gắn liền với nhiều vấn đề sức khỏe thể chất cũng như sức khỏe tâm thần trong đó trầm cảm là rối loạn thường gặp trong các bệnh lý của người già và làm tăng nguy cơ tự sát, suy g

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

Trầm cảm là một rối loạn tâm lý, thể hiện qua việc ức chế cảm xúc, tư duy và hoạt động vận động, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động tâm thần của con người.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới các lứa tuổi được sắp xếp như sau 9 : 45 tuổi đến 59 tuổi: người trung niên; 60 tuổi đến 74 tuổi: người có tuổi; 75 tuổi đến

90 tuổi: người già; 91 tuổi trở lên: người già sống lâu

Tại Việt Nam, Luật người cao tuổi năm 2009 xác định người cao tuổi là những cá nhân từ 60 tuổi trở lên Để nghiên cứu các bệnh lý liên quan đến người cao tuổi, các chuyên gia thường phân loại theo độ tuổi.

1.1.2 Đặc điểm sinh lý, tâm lý xã hội ở người già

*Những thay đổi sinh học ở người già 14 a) Thay đổi ở hệ thần kinh

Quá trình lão hóa ở người cao tuổi liên quan đến nhiều rối loạn não bộ do suy giảm khả năng kết nối và truyền tải tín hiệu Mất chức năng não bộ là nỗi lo lớn nhất của người già, với các bệnh lý thoái hóa như Alzheimer, Parkinson và đột quỵ ngày càng trở nên phổ biến Đặc biệt, có sự teo vỏ não nghiêm trọng ở hồi hải mã, vùng não quan trọng cho việc lưu giữ trí nhớ, cùng với sự giãn rộng của các rãnh não thất.

Thay đổi về nhận thức

Suy giảm nhẹ về độ chính xác trong các hoạt động nhận thức thường xuất hiện ở người già, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của những năm 60, với tiến triển chậm Mặc dù vậy, người già khỏe mạnh vẫn duy trì khả năng chú ý tốt Tuy nhiên, sự suy giảm chức năng nhận thức thường thấy ở người cao tuổi thể hiện qua tốc độ xử lý thông tin chậm, giảm trí nhớ làm việc và khả năng ức chế các kích thích từ môi trường Sự suy giảm này theo tuổi tác không chỉ làm tăng nguy cơ thương tích mà còn ảnh hưởng đến các hoạt động chức năng hàng ngày và gia tăng nguy cơ tử vong.

Trí nhớ, học tập và trí tuệ

Quá trình lão hóa tự nhiên dẫn đến teo vỏ não, giãn rộng khe não và suy giảm tưới máu não Những thay đổi này làm giảm hiệu quả kết nối giữa các tế bào não, ảnh hưởng đến khả năng truy xuất thông tin, học tập và trí tuệ, đặc biệt là trí thông minh linh hoạt trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp mới.

Thay đổi ở các giác quan

Giảm tính dẫn truyền và cảm giác thính giác, đặc biệt là khó khăn trong việc nghe âm sắc cao và phân biệt phụ âm, là vấn đề phổ biến ở người già Mất cảm giác vị giác thường xảy ra do giảm số lượng và chất lượng tuyến nước bọt cũng như mật độ chức năng của nụ vị giác Hơn nữa, chức năng khứu giác suy giảm cũng ảnh hưởng đến khả năng phân biệt mùi Sự thay đổi ở da và giảm lưu thông máu đến các thụ cảm thể ở da, não bộ và tủy sống dẫn đến suy giảm xúc giác Các thụ thể cảm nhận áp lực, nhiệt độ và cảm giác đau có mặt ở da, cơ, gân, khớp và các cơ quan nội tạng Sự suy giảm này ảnh hưởng đến kỹ năng vận động đơn giản, sức mạnh tay nắm và khả năng thăng bằng.

Lão hóa bình thường gây ra sự giảm khối lượng xương và cơ, đồng thời làm tăng lượng mỡ trong cơ thể Sự suy giảm khối lượng và sức mạnh cơ bắp làm tăng nguy cơ gãy xương, dẫn đến tình trạng già yếu, giảm chất lượng cuộc sống và mất khả năng độc lập Ngoài ra, quá trình lão hóa cũng ảnh hưởng đến hệ tim mạch.

Hệ thống tuần hoàn trải qua nhiều thay đổi theo tuổi tác, bao gồm giảm tốc độ dẫn truyền của tế bào cơ tim, phì đại tâm thất trái, và tăng số lượng tế bào mô liên kết Ngoài ra, còn có sự lắng đọng canxi và lipofuscin, thoái hóa amyloid, thoái hóa mỡ vôi hóa, xơ hóa van tim và xơ vữa thành mạch.

Khi tuổi tác tăng lên, kích thước của khí quản và phế quản giảm, dẫn đến sự suy giảm thể tích sống và thể tích hô hấp tối đa Đồng thời, độ đàn hồi của phổi và số lượng tiểu phế quản, phế nang cũng giảm, ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng hô hấp.

Người già thường gặp phải các vấn đề như tụt nướu, mất răng, và giảm tiết nước bọt, chất nhày Ngoài ra, họ cũng trải qua sự suy giảm trong việc tiết dịch vị, nhu động ruột, cũng như chức năng của tụy và gan Hệ thống sinh dục tiết niệu cũng có những thay đổi đáng kể trong độ tuổi này.

Giảm kích thước và trọng lượng thận, lưu lượng máu và thể tích lọc cầu thận suy giảm, cùng với độ thanh thải creatinin giảm, dẫn đến dung tích và sức co bóp của cơ bàng quang yếu Ở nữ giới, tình trạng teo khô âm đạo xảy ra, trong khi nam giới gặp phải phì đại xơ hóa tuyến tiền liệt.

* Thay đổi về tâm lý xã hội ở người già

Lão hóa theo tuổi ảnh hưởng đến cảm xúc, thái độ và hoạt động của người già trong gia đình và xã hội Sự chuẩn bị cho tuổi già và khả năng thích ứng với quá trình lão hóa đóng vai trò quan trọng trong lão hóa tâm lý xã hội Thái độ chấp nhận tuổi già giúp người cao tuổi cảm thấy hạnh phúc và hài lòng, trong khi thiếu điều này có thể dẫn đến cảm giác cô đơn và đau khổ về mặt thể chất và tâm thần.

Có 5 kiểu thái độ phổ biến đáp ứng lại với giai đoạn tuổi già:

Thái độ mang tính chất xây dựng: đặc trưng bởi sự chấp nhận quá trình lão hóa, tương tác hài hòa với những người xung quanh

Thái độ phụ thuộc: đặc trưng bằng sự phụ thuộc và thụ động

Thái độ phòng thủ: từ chối nhận sự giúp đỡ từ người khác mặc dù họ cần điều đó, nhìn nhận tuổi già một cách bi quan

Thái độ thù địch với thế giới: hung hăng, nghi ngờ, không hài lòng với mọi người xung quanh, cô lập bản thân với xã hội

Thái độ thù địch với chính bản thân: tự phê bình, trách cứ đổ lỗi cho bản thân mình

Có mối liên hệ rõ ràng giữa sang chấn tâm lý và trầm cảm ở người già, đặc biệt là khi họ phải đối mặt với sự cô đơn do mất mát người thân Nghiên cứu của Susan E Hardy trên 754 người cao tuổi cho thấy 42% trong số họ cảm thấy trống trải và tủi thân, đặc biệt khi sống một mình Sự mất mát, nhất là mất đi người bạn đời, có thể là yếu tố chính dẫn đến trầm cảm ở người cao tuổi.

Sự thu hẹp hoạt động xã hội ở người già và giảm vai trò trong công việc có thể dẫn đến việc giảm tham gia vào các hoạt động giao tiếp xã hội, từ đó trở thành nguyên nhân hoặc yếu tố thúc đẩy trầm cảm.

Vấn đề hưu trí và khó khăn kinh tế, cùng với sự thiếu hụt hỗ trợ xã hội, là những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng trầm cảm ở người cao tuổi Thời kỳ mới về hưu, đặc biệt là khi hưu trí không theo ý muốn, thường gây ra khó khăn trong việc thích nghi và có thể dẫn đến trầm cảm ở người già.

1.1.3 Vài nét lịch sử về bệnh trầm cảm

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nghiên cứu về trầm cảm trên thế giới

Tại Châu Âu, khủng hoảng đã dẫn đến sự gia tăng đột biến số người mắc bệnh trầm cảm và tự tử Khoảng 1/4 dân số Châu Âu, tương đương 215 triệu người, sẽ phải đối mặt với rối loạn tâm lý do những khó khăn trong cuộc sống.

Theo nghiên cứu của Scott Patten năm 2006 tại Canada, tỷ lệ trầm cảm trong suốt cuộc đời là 12,2%, với phụ nữ có tỷ lệ mắc cao hơn (5%) so với nam giới (2,9%) Nhóm tuổi từ 15 đến 25 có tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ này dao động từ 5 đến 6% Khoảng 80% người mắc trầm cảm cho biết tình trạng này ảnh hưởng đến khả năng làm việc, duy trì cuộc sống gia đình và các hoạt động xã hội Tổng thiệt hại ước tính lên đến 80 tỷ USD vào năm 2000 do năng suất lao động kém và nghỉ việc Hơn 300.000 người tự tử mỗi năm, trong đó 60% là người mắc bệnh trầm cảm.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở Australia cao hơn nhiều nước khác, với khoảng 20-30% dân số mắc bệnh Tại Trung Quốc, theo tác giả Chen R., tỷ lệ trầm cảm ở người già trên 60 tuổi là 6% ở khu vực nông thôn và 3,6% ở khu vực thủ đô Hàng năm, Trung Quốc ghi nhận khoảng 300.000 ca tự tử, với tỷ lệ nữ tự sát cao hơn nam giới là 3:1, và tỷ lệ tự tử ở nông thôn cũng cao hơn thành phố với tỷ lệ tương tự.

1.2.2 Nghiên cứu về trầm cảm tại Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Siêm năm 2010 tại xã Quất Động, Thường Tín, Hà Tây cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm là 8,35% dân số ≥

Tại độ tuổi 15, tỷ lệ bệnh nhân nữ/nam là 5/1 Tỷ lệ mắc bệnh ở độ tuổi 30-59 chiếm 58,21%, trong khi đó, tỷ lệ ở người từ 60 tuổi trở lên là 36,9% Tỷ lệ mới mắc bệnh là 0,48%, với 94,24% bệnh nhân mắc bệnh trên 1 năm Đặc biệt, 70,3% bệnh nhân đã mắc bệnh trên 4 năm, cho thấy tính chất tiến triển mạn tính rõ rệt, với 93,6% trường hợp là trầm cảm tái diễn.

Nghiên cứu của Trần Văn Cường (2011) cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh tâm thần là 12,5% tại 8 địa điểm khác nhau, trong đó rối loạn trầm cảm F32 chiếm 2,4% dân số Tỷ lệ người bệnh khám tại cơ sở y tế nhà nước là 31,9%, trong khi tại cơ sở y tế tư nhân là 21,9%, và 68,5% người bệnh chưa bao giờ đi khám Thái độ của gia đình và cộng đồng đối với người bệnh vẫn còn xa lánh và hắt hủi, chiếm 68,5%.

Trầm cảm sau sinh là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt ở phụ nữ, với tỷ lệ mắc lên đến 11,6% theo nghiên cứu của tác giả Lương Bạch Lan (2009) Các yếu tố như thời gian nằm viện của trẻ trên 30 ngày, sức khỏe kém trong thai kỳ và tử vong sơ sinh có thể làm gia tăng nguy cơ mắc trầm cảm ở các bà mẹ.

MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH

Khái quát Viện Sức Khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai

✔Địa điểm: Tòa nhà T4, T5, T6 Viện Sức khỏe Tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai

✔Website: www.nimh.gov.vn

Cơ cấu tổ chức và nhân sự của đơn vị bao gồm tổng cộng 91 cán bộ nhân viên, trong đó có 02 phó giáo sư, 07 tiến sỹ, 04 bác sỹ chuyên khoa cấp II, 22 thạc sỹ, 01 bác sỹ, 16 cử nhân đại học chuyên ngành điều dưỡng và tâm lý, 03 điều dưỡng cao đẳng, 28 điều dưỡng trung cấp, 05 hộ lý và 03 nhân viên khác, bao gồm lái xe và kỹ thuật viên.

Viện trưởng -Bí thư Chi bộ- chủ nhiệm bộ môn: PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn

● TS BSCKII Nguyễn Văn Dũng

● TS Trần Thị Hà An

● Chủ tịch Công đoàn: Ths Đặng Thanh Tùng

● Bí thư Đoàn thanh niên: Ths Bùi Văn Lợi

● Điều dưỡng trưởng: ThS Phạm Thị Thu Hiền

✔Quá trình hình thành và phát triển:

1 Năm 1911, Khoa Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai (tiền thân của Viện Sức khoẻ Tâm thần ngày nay) được thành lập

2 Năm 1959, Khoa Tâm thần sát nhập với Khoa Thần kinh thành Khoa Tinh Thần kinh

3 Năm 1969, Khoa Tinh Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai được tách ra thành hai khoa: Khoa Tâm thần và Khoa Thần Kinh

4 Ngày 08/8/1991, Viện Sức khoẻ Tâm thần được thành lập theo Quyết định số 784/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế trên cơ sở kết hợp Khoa Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai, Bộ môn Tâm thần -Trường Đại Học Y Hà Nội và Bệnh viện Tâm thần Trung Ương I

5 Năm 2012: Thực hiện chuyên khoa hoá Phân loại cơ sở khám chữa bệnh theo WHO, ngành tâm thần học Việt Nam hướng tới nền Tâm thần học phát triển trong tương lai

Viện Sức khỏe Tâm thần, thuộc Bệnh viện Bạch Mai, là cơ sở hàng đầu về Tâm thần học, đảm nhận nhiều chức năng và nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực này.

Chúng tôi tiếp nhận tất cả bệnh nhân mắc rối loạn tâm thần, bao gồm cả những người đến trực tiếp và những bệnh nhân được chuyển từ các bệnh viện khác, để thực hiện cấp cứu, khám bệnh và điều trị nội trú cũng như ngoại trú.

- Nghiên cứu và chỉ đạo các cơ sở chuyên khoa nghiên cứu những vấn đề về Tâm thần học và tâm lý xã hội cấp bách hiện nay

Đào tạo và nâng cao trình độ cho cán bộ chuyên khoa Tâm thần ở bậc đại học và sau đại học nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần trong cộng đồng.

- Kết hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương trong công tác chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật chuyên khoa Tâm thần học trong cả nước

- Cùng với Viện Giám định Pháp y Tâm thần Trung ương thực hiện nhiệm vụ giám định pháp y tâm thần

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật về Tâm thần học là cần thiết để phát triển và nâng cao hoạt động chuyên ngành Tâm thần tại Việt Nam.

Phối hợp với các Bệnh viện Tâm thần Trung ương và các cơ quan liên quan để tuyên truyền và giáo dục kiến thức về chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng.

Viện Sức khỏe Tâm thần hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế, tập trung vào kế hoạch, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế Các hoạt động khác của viện được thực hiện theo quy chế của Viện nghiên cứu trong Bệnh viện Bạch Mai Theo Thông tư 07/2011/TT-BYT, điều dưỡng tại viện có nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh.

- Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe

- Chăm sóc về tinh thần

- Chăm sóc vệ sinh cá nhân

- Chăm sóc phục hồi chức năng

- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật

- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh

- Chăm sóc NB giai đoạn hấp hối và NB tử vong

- Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng

- Theo dõi, đánh giá NB

- Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc NB

- Ghi chép hồ sơ bệnh án

Sức khỏe tâm thần cần được bảo vệ và tăng cường, đồng thời các rối loạn tâm thần phải được phòng ngừa hiệu quả Người mắc rối loạn tâm thần cần được tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế và xã hội chất lượng, kịp thời và phù hợp với văn hóa Mục tiêu là đạt được sức khỏe tâm thần tốt nhất, tăng cường khả năng phục hồi và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.

Viện chúng tôi cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng cao và chuyên nghiệp, luôn nỗ lực đổi mới và hoàn thiện mọi hoạt động để đảm bảo sự hài lòng tối đa cho bệnh nhân.

Môi trường làm việc tại Viện được xây dựng trên nền tảng đoàn kết, chuyên môn cao và đạo đức nghề nghiệp, với cam kết cống hiến tài năng cho sự nghiệp chữa bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống Chúng tôi phấn đấu để trở thành nơi mà người bệnh có thể đặt trọn niềm tin, nhận được sự thân thiện, tận tâm và chu đáo từ đội ngũ y bác sĩ và cán bộ nhân viên.

Viện Sức khỏe Tâm thần cam kết trở thành sự lựa chọn hàng đầu cho người bệnh trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần Chúng tôi đồng hành cùng người bệnh và gia đình bằng cách cung cấp các dịch vụ toàn diện, chuyên nghiệp và hiệu quả, nhằm nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần.

Nâng cao chất lượng dịch vụ phòng bệnh, điều trị và chăm sóc sức khỏe tâm thần là rất quan trọng Cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học để làm cơ sở và chứng minh cho các thực hành y khoa hiệu quả.

Tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi kiến thức khoa học kỹ thuật về lĩnh vực Tâm thần.

Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể

1 Họ và tên:NGUYỄN HÀ T

4 Địa chỉ: Hồng Lam -Tiên Điền- Nghi xuân – Hà Tĩnh

8 Người cung cấp thông tin

Người bệnh : Độ tin cậy cao (tỉnh táo, hợp tác kể bệnh)

Con trai người bệnh : Độ tin cậy cao (sống cùng NB, hợp tác kể bệnh)

12 Khi cần báo tin cho :

Con Trai Nguyễn Hà Trung Kiên (Cùng địa chỉ trên)

1 Lý do vào viện: buồn chán bi quan, mệt mỏi mất ngủ

Theo lời người bệnh và người nhà (con trai NB) kể:

NB là con đầu lòng trong gia đình có bốn người con Quá trình mang thai và sinh đẻ của mẹ NB diễn ra bình thường, và NB phát triển tâm thần vận động ổn định Từ nhỏ, NB có tính cách lo lắng, sống nội tâm, chu đáo, cẩn thận và tỉ mỉ Sau khi hoàn thành lớp 10, NB đã phục vụ trong quân đội và hiện đã nghỉ hưu.

Sau 14 năm chỉ làm việc nhà, bệnh nhân đã kết hôn và có ba người con ngoan ngoãn, khỏe mạnh Hiện tại, bệnh nhân sống cùng vợ và con út trong một gia đình có kinh tế ở mức trung bình Mối quan hệ gia đình hòa thuận, không có xích mích gì.

Bệnh nhân đã có triệu chứng đau đầu, mệt mỏi, mất ngủ và giảm năng lượng trong 3 năm qua, kèm theo cảm giác buồn chán và bi quan về tương lai Mặc dù đã được điều trị tại viện sức khỏe tâm thần và duy trì thuốc sertraline 50mg và quetiapine 200mg, bệnh nhân đã ngừng thuốc cách đây 5 tháng và không đi khám lại.

Sau 20 ngày, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng mất ngủ, mệt mỏi, buồn chán, bi quan, giảm năng lượng và ngại giao tiếp Gia đình đã quyết định đưa bệnh nhân đến Viện Sức khỏe tâm thần Bạch Mai để được điều trị.

Sau 20 ngày điều trị, bệnh nhân đã tỉnh táo và có thể giao tiếp Tuy nhiên, họ vẫn cảm thấy bi quan, mệt mỏi, buồn chán và lo lắng Giấc ngủ không đủ và khẩu vị ăn uống chưa được cải thiện Mặc dù vậy, bệnh nhân đã chủ động hơn trong việc giao tiếp và vận động nhanh nhẹn hơn.

Tiền sử sản nhi tâm thần vận động bình thường

Không sử dụng chất kích thích, gây nghiện

Không có tiền sử viêm não, chấn thương sọ não, bệnh lý nội - ngoại khoa trước đó

Không có tiền sử dị ứng

Tính cách hay lo lắng, suy nghĩ

Họ hàng hai bên nội ngoại ba đời gần đây không có ai mắc các bệnh lý tâm thần, động kinh, bệnh lý di truyền

Vợ con NB có sự quan tâm, chăm sóc NB

+ Thể trạng trung bình: Cân nặng: 64kg, chiều cao 1m68, BMI: 22,6 kg/m 2

+ Da niêm mạc hồng, không phù, không xuất huyết dưới da

✔Tỉnh, tiếp xúc được, hợp tác

✔Quần áo, đầu tóc phù hợp

+ Ý thức: không rối loạn các năng lực định hướng thời gian, không gian, bản thân, xung quanh

+ Cảm giác, tri giác: không có ảo giác, ảo tưởng, không có tri giác sai thực tại, giải thể nhân cách

✔ Hình thức: Nhịp chậm, liên quan, đúng ngữ pháp, phát âm chuẩn

✔ Nội dung: không hoang tưởng

+ Cảm xúc: Khí sắc trầm, buồn chán, bi quan

✔ Hoạt động ý chí: Suy giảm hoạt động nghề nghiệp

✔ Hoạt động bản năng: Ăn uống chưa ngon miệng, ngủ ít (3tiếng/ ngày), ngủ không sâu giấc

+ Chú ý: Không suy giảm tập trung chú ý

✔ Giảm trí nhớ gần, trí nhớ tức thời

✔ Trí nhớ xa còn duy trì

+ Trí tuệ: Không có rối loạn trí tuệ, các năng lực phán đoán suy luận, ra quyết định còn duy trì

+ Khám vận động, cơ lực 2 bên bình thường

+ Không có rối loạn cảm giác

+ Không có phản xạ bệnh lý

+ Phản xạ gân xương, trương lực cơ 2 bên bình thường

+ Không liệt các dây thần kinh sọ não

+ Không rối loạn cơ tròn

+ Không có hội chứng màng não, hội chứng tăng áp lực nội sọ

+ Mỏm tim đập ở khoang gian sường V, đường giữa đòn T + T1, T2 nghe rõ, Không có tiếng thổi

+ Mạch: 80lần/phút; Huyết áp 130/80 mmHg

+ Lồng ngực 2 bên cân đối, tham gia nhịp thở tốt

+ Rì rào phế nang nghe rõ, không có rale

+ Gan lách không sờ thấy

+ Không có điểm đau khu trú trên thành bụng

+ Không có cầu bàng quang

+ Không có điểm đau niệu quản

- Các cơ quan khác: Hiện chưa phát hiện bất thường

Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng loạn thần

HC: 5,3T/L BC: 13,02 G/L TC: 252 G/L Điện não đồ: Không phát hiện bất thường Điện tim: Không phát hiện bất thường

7 Các thuốc đang dùng cho người bệnh

Luvox 100mg x 02 viên uống sáng -tối

Seroquel 300mg x 01viờn uống sỏng 1/2 tối ẵ

Seduxen 5mg x 02 viên uống sáng 1 tối 1

Scanneuron 100mg x 02 viên uống sáng

Trong thời gian người bệnh nằm viện 20 ngày, tôi đánh giá hoạt động hàng ngày của NB như sau (Từ ngày 05/09/2022 đến ngày 25/09/2022)

- NB tỉnh, tiếp xúc được, trả lời chậm chạp, nhiều câu hỏi được hỏi một lúc sau NB mới trả lời, giọng nói yếu ớt như thiếu sức sống

- Khí sắc trầm, buồn chán, bi quan, lo lắng về bệnh, không biểu lộ cảm xúc, nét mặt không thay đổi khi giao tiếp,

- NB ngủ ít, ăn kém

- NB chăm sóc vệ sinh cá nhân kém và hoạt động thể lực kém

- Buồn chán, bi quan liên quan đến rối loạn cảm xúc

- Ăn ngủ kém liên quan đến tình trạng bệnh

- Người bệnh mệt mỏi liên quan đến ngủ kém

- Nguy cơ mất các hoạt động tự chăm sóc bản thân và giao tiếp xã hội liên quan đến yếu tố bệnh lý

- Gia đình và NB lo lắng liên quan đến bệnh tái phát

3 Lập kế hoạch chăm sóc

Dựa vào triệu chứng của bệnh nhân và chẩn đoán điều dưỡng, chúng ta xây dựng kế hoạch chăm sóc cụ thể Trong quá trình lập kế hoạch, cần xác định vấn đề ưu tiên, quyết định vấn đề nào cần thực hiện trước và vấn đề nào thực hiện sau, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

-Theo dõi dấu hiệu sinh tồn, ý thức

- Theo dõi các diễn biến tâm lý, sinh hoạt, ăn ngủ để phát hiện sớm ý tưởng tiêu cực

-Đảm bảo an toàn cho NB và người xung quanh

- Làm giảm, mất ý nghĩ bi quan, buồn chán cho NB

- Theo dõi các hoang tưởng, phát hiện hoang tưởng mới (nếu có)

- Thực hiện y lệnh cho NB

- Làm tốt công tác tâm lý tiếp xúc với NB, giải thích động viên NB

- Đảm bảo đủ dinh dưỡng cho NB

- Vệ sinh giấc ngủ cho NB

- Cải thiện khả năng tự chăm sóc bản thân và chủ động tham gia các hoạt động của NB

-Tư vấn, giải thích, động viên NB trong thời gian nằm viện và trước khi ra viện

4 Thực hiện kế hoạch chăm sóc Đặc điểm của NB trầm cảm là ngày càng nặng dần, nếu không được điều trị và chăm sóc kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng NB

Khi vào viện điều dưỡng, nhân viên y tế sẽ tiếp xúc với bệnh nhân và người nhà để phổ biến các nội quy, quy định của Viện và Bệnh viện, đồng thời động viên bệnh nhân yên tâm trong quá trình điều trị.

NB được sắp xếp vào buồng bệnh thoáng mát, đủ ánh sáng và có bệnh nhân ổn định để thuận tiện cho việc quản lý, theo dõi và chăm sóc Hướng dẫn NB thay ga trải giường, thay quần áo của Viện, và vệ sinh buồng bệnh sạch sẽ nhằm tạo không gian yên tĩnh, khô ráo, tránh tiếng ồn.

- 8h: Đo dấu hiệu sinh tồn :

- Theo dõi sát diễn biến bệnh 24/24h, quản lý NB tại khu vực dễ quan sát

Để đảm bảo an toàn, cần loại bỏ các vật dụng sắc nhọn và nguy hiểm, ghi chép vào phiếu theo dõi chăm sóc và sổ bàn giao bệnh hàng ngày, đồng thời thông báo cho toàn Viện Hiện tại, bệnh nhân tỉnh táo nhưng có dấu hiệu chậm nói và giọng nói yếu ớt, như thiếu sức sống Bệnh nhân chưa tham gia vào các hoạt động đi bộ, tập thể dục và các liệu pháp khác.

+Thường xuyên gần gũi tiếp xúc với NB, động viên an ủi NB yên tâm + Các dấu hiệu bệnh lý khác chưa có vấn đề gì đặc biệt

- Thực hiện y lệnh thuốc hàng ngày lúc 8h00-9h00 và 20h00-21h00, đầy đủ, chính xác và kịp thời

Luvox 100mg x 02 viên uống sáng -tối

Seroquel 300mg x 01viờn uống sỏng 1/2 tối ẵ

Seduxen 5mg x 02 viên uống sáng 1 tối 1

Scanneuron 100mg x 02 viên uống sáng

NB uống cốc nước cam (250ml) thường vào lúc 10h sáng

Điều dưỡng đã khuyến khích bệnh nhân (NB) ăn uống trong không khí vui vẻ và thoải mái, nhưng qua quan sát, NB vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày Để cải thiện tình hình, cần cung cấp cho NB thức ăn mềm, dễ tiêu hóa, giàu chất xơ và đảm bảo bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng, cân đối về thành phần và đủ năng lượng Hiện tại, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, cả NB và người nhà đều chọn ăn cơm tại bệnh viện, và NB đã tiêu thụ được 1/2 suất cơm của viện.

Để đảm bảo giấc ngủ cho người bệnh (NB), điều dưỡng cần hướng dẫn rằng NB không nên ngủ trưa và không đi ngủ quá sớm vào buổi tối Cần tránh để NB nằm trên giường suốt cả ngày và khuyến khích NB vận động trong suốt thời gian trong ngày.

-14h00: Đo dấu hiệu sinh tồn ghi kết quả vào hồ sơ bệnh án

- 15h00: Tiếp xúc, gần gũi, động viên, trò chuyện với NB để tạo niềm tin cho NB, để NB yên tâm, tin tưởng và hợp tác điều trị

+ NB nằm nhiều ít giao tiếp, ít vận động

Khuyến khích người bệnh (NB) tham gia giao tiếp với những người cùng phòng, đi lại xem ti vi, ra sân chơi cầu lông và tập thể dục Đồng thời, gần gũi và hướng dẫn NB thực hiện một số công việc như dọn dẹp đồ đạc trong phòng và đi bộ quanh khuôn viên của Viện.

Điều dưỡng đã giao tiếp và động viên người bệnh, giúp họ chia sẻ những suy nghĩ và cảm xúc Qua đó, điều dưỡng có thể hỗ trợ tinh thần và tìm hiểu nguyên nhân khiến người bệnh cảm thấy buồn chán.

Điều dưỡng hướng dẫn chế độ dinh dưỡng cho người bệnh, bao gồm bữa sáng với cháo hoặc phở, bữa trưa với cơm, canh rau và thịt, và bữa tối với hai bát cơm, thịt, rau và đậu Ngoài ra, gia đình nên bổ sung sữa tươi và trái cây cho người bệnh.

Một số ưu điểm và tồn tại

- NB có tiến triển tốt trong quá trình điều trị, chăm sóc và quản lý tại Viện

- Không xảy ra tai biến hay biến chứng khi nằm viện

Bệnh nhân (NB) đã được điều dưỡng theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình điều trị, thực hiện đầy đủ các y lệnh của bác sĩ như sử dụng thuốc, theo dõi dấu hiệu sinh tồn, tiến hành các xét nghiệm cần thiết và sắp xếp giường cho bệnh nhân.

- Điều dưỡng đã thực hiện đúng quy trình chăm sóc theo thông tư 07/2011TT-BYT

- Thực hiện quy chế quản lý buồng bệnh và buồng thủ thuật

- Điều dưỡng đã hướng dẫn NB và người nhà NB cụ thể các nội quy khoa phòng và Viện

Điều dưỡng thực hiện chăm sóc theo đúng phân cấp, đảm bảo phân công cụ thể và báo cáo kịp thời những diễn biến bất thường cho bác sĩ điều trị để có biện pháp xử trí kịp thời.

- Ghi những thông số, dấu hiệu, triệu chứng bất thường của NB và cách xử trí vào phiếu theo dõi chăm sóc theo đúng quy định

- Nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ y lệnh của thầy thuốc

- Thực hiện chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật

- Tham gia thường trực theo đúng quy chế thường trực dưới sự phân công của Điều dưỡng trưởng khoa

Trong quá trình bàn giao người bệnh, cần thực hiện giữa giờ hành chính và giờ trực cho điều dưỡng, đồng thời ghi chép lại các y lệnh còn lại trong ngày cùng với những yêu cầu theo dõi và chăm sóc cho từng bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân nặng.

- Đã hướng dẫn cho NB thực hiện chế độ dinh dưỡng phù hợp với tình trạng bệnh, tạo không khí vui vẻ thân thiện trong bữa ăn

- Tham gia hướng dẫn NB làm bài trắc nghiệm tâm lý, thư giãn luyện tập

- Làm các kỹ thuật: Đo lưu huyết não, điện tâm đồ, điện não đồ

- Tham gia công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe và hướng dẫn thực hành về công tác chăm sóc NB khi được điều dưỡng trưởng khoa phân công

Tham gia cùng phòng công tác xã hội để hiểu rõ hoàn cảnh khó khăn của bệnh nhân, từ đó hỗ trợ họ về cả vật chất lẫn tinh thần, giúp người nhà và bệnh nhân yên tâm trong quá trình điều trị.

- Bản thân thực hiện tốt quy định y đức và chuẩn đạo đức nghề nghiệp 2.3.2 Tồn tại

Điều dưỡng đã lắng nghe tâm tư và nguyện vọng của bệnh nhân để hỗ trợ họ về mặt tâm lý Tuy nhiên, do số lượng bệnh nhân nội trú đông, thời gian tiếp xúc và trò chuyện với bệnh nhân còn hạn chế.

- Thời gian điều dưỡng tiếp xúc với NB còn ít, chưa thực sự lắng nghe tâm tư nguyện vọng của NB để hỗ trợ họ về mặt tâm lý

Điều dưỡng thực hiện giáo dục sức khỏe cho người bệnh, nhưng vẫn chưa đầy đủ Họ chủ yếu hướng dẫn về chăm sóc, ăn uống và vệ sinh, trong khi việc giải thích về bệnh và nguyên nhân gây bệnh còn thiếu rõ ràng.

Điều dưỡng chưa phát huy hết khả năng và nhiệm vụ của mình trong việc chăm sóc bệnh nhân, khi công việc hàng ngày chủ yếu chỉ dừng lại ở việc cho bệnh nhân uống thuốc, tiêm truyền theo y lệnh, và nhắc nhở bệnh nhân tự vệ sinh cá nhân hoặc nhờ người nhà hỗ trợ.

Môi trường cho bệnh nhân chưa hoàn toàn an toàn, với một số ổ điện sạc điện thoại và dây điện để bừa bãi Ngoài ra, người nhà còn lén lút mang theo đồ như móc nhôm quần áo vào phòng bệnh.

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 09/05/2023, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Kim Việt, Nguyễn Văn Tuấn (2016), Giáo trình bệnh học tâm thần, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh học tâm thần
Tác giả: Nguyễn Kim Việt, Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2016
3. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Xiêm (1991), Rối loạn trầm cảm , Bách khoa thư bệnh học, Hà Nội, tr. 215 – 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Xiêm
Nhà XB: Bách khoa thư bệnh học
Năm: 1991
4. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Xiêm (1991), Rối loạn trầm cảm , Bách khoa thư bệnh học, Hà Nội, tr. 215 – 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Xiêm
Nhà XB: Bách khoa thư bệnh học
Năm: 1991
5. Phan Ngọc Hà. Nhận xét lâm sàng trầm cảm trầm cảm trong bệnh viện tâm thần phân liệt theo ICD – 10 ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Hà Nội 11 – 195, tr.57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét lâm sàng trầm cảm trầm cảm trong bệnh viện tâm thần phân liệt theo ICD – 10 ở Quảng Nam – Đà Nẵng
Tác giả: Phan Ngọc Hà
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 195
7. Trần Văn Long(2009), “ Bài giảng GDSK dành cho đối tượng cao đẳng, đại học “ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng GDSK dành cho đối tượng cao đẳng, đại học
Tác giả: Trần Văn Long
Năm: 2009
8. Nguyễn Văn Ngân(1996), Rối loạn trầm cảm, Một số chuyên đề tâm thần học, Học viện quân y, Hà Nội, tr 62 - 63, 66 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm, Một số chuyên đề tâm thần học
Tác giả: Nguyễn Văn Ngân
Nhà XB: Học viện quân y
Năm: 1996
9. Trần Viết Nghị, Nguyễn Văn Siêm, Nguyễn Viết Thiêm, Trần Văn Cường (2001), “Nghiên cứu dịch tễ - lâm sàng rối loạn trầm cảm tại một số quần thể cộng đồng” , Nội san tâm thần học, Hội tâm thầ học, số 5, Hà Nội, tr.21-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tễ - lâm sàng rối loạn trầm cảm tại một số quần thể cộng đồng
Tác giả: Trần Viết Nghị, Nguyễn Văn Siêm, Nguyễn Viết Thiêm, Trần Văn Cường
Nhà XB: Nội san tâm thần học
Năm: 2001
10. Andrade L., Caraveo-Anduaga J.J., Berglund P. et al. (2003). The epidemiology of major depressive episodes: results from the International Consortium of Psychiatric Epidemiology (ICPE) Surveys.Int J Methods Psychiatr Res, 12(1), 3–21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The epidemiology of major depressive episodes: results from the International Consortium of Psychiatric Epidemiology (ICPE) Surveys
Tác giả: Andrade L., Caraveo-Anduaga J.J., Berglund P
Nhà XB: Int J Methods Psychiatr Res
Năm: 2003
11. Kessler R.C., Ormel J., Petukhova M. et al. (2011). Development of lifetime comorbidity in the World Health Organization world mental health surveys. Arch Gen Psychiatry, 68(1), 90–100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development of lifetime comorbidity in the World Health Organization world mental health surveys
Tác giả: Kessler R.C., Ormel J., Petukhova M
Nhà XB: Arch Gen Psychiatry
Năm: 2011
12. Nguyễn Viết Thiêm, Lã Thị Bưởi (2001), Bệnh học tâm thần phần nội sinh (Tập bài giảng dành cho sau đại học), Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học tâm thần phần nội sinh (Tập bài giảng dành cho sau đại học)
Tác giả: Nguyễn Viết Thiêm, Lã Thị Bưởi
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2001
13. Lépine J.-P., Briley M. (2011). The increasing burden of depression. Neuropsychiatr Dis Treat, 7(Suppl 1), 3–7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The increasing burden of depression
Tác giả: Lépine J.-P., Briley M
Nhà XB: Neuropsychiatr Dis Treat
Năm: 2011
14. Davison K. (2006). Historical aspects of mood disorders. Psychiatry, 5(4), 115–118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Historical aspects of mood disorders
Tác giả: Davison K
Nhà XB: Psychiatry
Năm: 2006
15. Tổ chức Y tế Thế giới (1992), Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi
Tác giả: Tổ chức Y tế Thế giới
Năm: 1992
16. American Psychiatric Association (2013) Generalized Anxiety disorder Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Edition,222 17. Kendler K.S., Gatz M., Gardner C.O. et al. (2006). A Swedish nationaltwin study of lifetime major depression. Am J Psychiatry, 163(1), 109–114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Edition
Tác giả: American Psychiatric Association
Năm: 2013
18. Shadrina M., Bondarenko E.A., Slominsky P.A. (2018). Genetics Factors in Major Depression Disease. Front Psychiatry, 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genetics Factors in Major Depression Disease
Tác giả: Shadrina M., Bondarenko E.A., Slominsky P.A
Nhà XB: Front Psychiatry
Năm: 2018
19. Dalton V.S., Kolshus E., McLoughlin D.M. (2014). Epigenetics and depression: return of the repressed. J Affect Disord, 155, 1–12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epigenetics and depression: return of the repressed
Tác giả: Dalton V.S., Kolshus E., McLoughlin D.M
Nhà XB: J Affect Disord
Năm: 2014
20. Nutt D.J. (2008). Relationship of neurotransmitters to the symptoms of major depressive disorder. J Clin Psychiatry, 69 Suppl E1, 4–7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship of neurotransmitters to the symptoms of major depressive disorder
Tác giả: Nutt D.J
Nhà XB: J Clin Psychiatry
Năm: 2008
21. Delgado P.L., Miller H.L., Salomon R.M. et al. (1993). Monoamines and the mechanism of antidepressant action: effects of catecholamine depletion on mood of patients treated with antidepressants.Psychopharmacol Bull, 29(3), 389–396 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monoamines and the mechanism of antidepressant action: effects of catecholamine depletion on mood of patients treated with antidepressants
Tác giả: Delgado P.L., Miller H.L., Salomon R.M
Nhà XB: Psychopharmacol Bull
Năm: 1993
22. Dunlop B.W., Nemeroff C.B. (2007). The role of dopamine in the pathophysiology of depression. Arch Gen Psychiatry, 64(3), 327–337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of dopamine in the pathophysiology of depression
Tác giả: Dunlop B.W., Nemeroff C.B
Nhà XB: Arch Gen Psychiatry
Năm: 2007
23. Sanacora G., Mason G.F., Rothman D.L. et al. (1999). Reduced cortical gamma-aminobutyric acid levels in depressed patients determined by proton magnetic resonance spectroscopy. Arch Gen Psychiatry, 56(11), 1043–1047 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reduced cortical gamma-aminobutyric acid levels in depressed patients determined by proton magnetic resonance spectroscopy
Tác giả: Sanacora G., Mason G.F., Rothman D.L
Nhà XB: Arch Gen Psychiatry
Năm: 1999

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w