Microsoft Word Mai Huy Thông BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH MAI HUY THÔNG THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH LOẠN THẦN CẤP DO RƯỢU TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1 NĂM 2022 BÁO CÁO CHUYÊN[.]
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
Uống rượu đã có mặt từ lâu trong nhiều nền văn minh và là một phần của văn hóa xã hội Mặc dù uống rượu ở mức độ vừa phải có thể mang lại cảm giác vui vẻ và tăng cường giao tiếp, nhưng khi tiêu thụ quá nhiều, người uống dễ rơi vào trạng thái say xỉn, mất kiểm soát, thậm chí có thể dẫn đến hôn mê hoặc ngộ độc Những người thường xuyên uống rượu để giải trí hoặc để quên đi khó khăn trong cuộc sống có thể được coi là lạm dụng rượu Ranh giới giữa lạm dụng rượu, phụ thuộc rượu và nghiện rượu là rất mong manh.
Nghiện rượu là một bệnh mạn tính, gây ra bởi nhu cầu uống rượu không được thỏa mãn, dẫn đến thèm rượu bắt buộc Tình trạng này ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất công tác, sức khỏe tâm thần và thể chất, cũng như làm tổn thương các mối quan hệ gia đình và đời sống xã hội Tỷ lệ nghiện rượu ở người lớn dao động từ 1-10% dân số.
Nghiên cứu cho thấy nghiện rượu là tình trạng phụ thuộc cả về thể chất lẫn tâm lý sau thời gian dài sử dụng Biểu hiện của nghiện rượu bao gồm sự dung nạp, với xu hướng tăng liều để đạt được hiệu quả dược lý mong muốn, cùng với hội chứng cai khi giảm hoặc ngừng sử dụng rượu.
Rối loạn tâm thần do rượu là một bệnh loạn thần phát sinh từ nghiện rượu, có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng này Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, loạn thần do rượu chiếm 10% trong số các trường hợp nghiện rượu mãn tính.
1.1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu
Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD-10 một người được coi là đã nghiện rượu khi có 3 trong 6 biểu hiện sau trở lên và biểu hiện trong vòng
Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy áp lực phải sử dụng rượu, cùng với khó khăn trong việc kiểm soát thời gian bắt đầu và kết thúc uống, cũng như mức độ tiêu thụ hàng ngày, là những dấu hiệu quan trọng cần chú ý.
Khi ngừng uống rượu thì xuất hiện trạng thái cai
Có bằng chứng về số lượng uống ngày càng gia tăng (khả năng dung nạp)
Sao nhãng những thú vui trước đây, dành nhiều thời gian để tìm kiếm rượu, uống rượu
Vẫn tiếp tục uống mặc dù đã hiểu rõ tác hại của rượu gây ra về cả cơ thể và tâm thần
Theo ICD-10, Chuẩn đoán mã bệnh bệnh theo triệu chứng nổi bật trên lâm sàng loạn thần do rượu gồm [21]:
F10.4 Hội chứng cai rượu với mê sảng (Sảng rượu)
F10.40 Sảng rượu không co giật
F10.41 Sảng rượu có co giật
F10.50 Rối loạn loạn thần (RLLT) do rượu giống phân liệt
F10.51 RLLT do rượu, hoang tuởng chiếm ưu thế
F10.52 RLLT do rượu, ảo giác (AG) chiếm ưu thế
F10.53 RLLT do rượu, chủ yếu đa dạng
F10.54 RLLT do rượu, các triệu chứng trầm cảm chiếm ưu thế
F10.55 RLLT do rượu, các triệu chứng hưng cảm chiếm ưu thế
F10.56 RLLT do rượu, trạng thái hỗn hợp
F10.7 Trạng thái loạn thần di chứng và khởi phát muộn do rượu
F10.8: Các RLTT và hành vi khác do rượu
F10.9: RLTT và hành vi không biệt định do rượu
Chẩn đoán lạm dụng rượu và nghiện rượu theo DSM-IV(28)
Một kiểu uống không hợp lý có thể dẫn đến suy giảm hoặc suy nhược nghiêm trọng về mặt lâm sàng, với ít nhất một trong những dấu hiệu sau đây xuất hiện trong vòng 12 tháng.
Việc sử dụng rượu liên tục có thể dẫn đến việc không hoàn thành các nghĩa vụ quan trọng tại cơ quan, trường học hoặc trong gia đình Điều này bao gồm việc vắng mặt nhiều lần, kết quả công việc kém, nghỉ học, đình chỉ hoặc đuổi học, cũng như việc bỏ bê con cái và các trách nhiệm trong hộ gia đình.
Sử dụng rượu trong các tình huống nguy hiểm về thể chất, như lái xe ô tô hoặc vận hành máy móc, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Việc tiêu thụ rượu khi cơ thể bị suy yếu làm tăng nguy cơ tai nạn và gây hại cho bản thân cũng như người khác.
3.Các vấn đề pháp lý liên quan đến rượu tái diễn (ví dụ: bắt giữ vì hành vi gây rối liên quan đến rượu)
Tiếp tục tiêu thụ rượu mặc dù gặp phải các vấn đề xã hội hoặc mâu thuẫn cá nhân kéo dài, thậm chí trở nên nghiêm trọng hơn do ảnh hưởng của rượu, chẳng hạn như tranh cãi với vợ/chồng về hậu quả của việc say rượu.
(B) Chưa đáp ứng các tiêu chí về nghiện rượu
Hình thức uống không hợp lý có thể dẫn đến suy giảm hoặc suy nhược nghiêm trọng về mặt lâm sàng, được biểu hiện qua ba hoặc nhiều hơn các triệu chứng xảy ra trong cùng khoảng thời gian 12 tháng.
1 Cần lượng rượu tăng lên rõ rệt để đạt được trạng thái say hoặc hiệu quả mong muốn; hoặc giảm tác dụng rõ rệt khi tiếp tục sử dụng cùng một lượng rượu
2.Hội chứng cai nghiện rượu đặc trưng; hoặc uống (hoặc sử dụng một chất có liên quan chặt chẽ) để làm giảm hoặc tránh các triệu chứng cai nghiện
3 Uống với số lượng lớn hơn hoặc trong một thời gian dài hơn dự định
4 Mong muốn dai dẳng hoặc một hoặc nhiều nỗ lực không thành công để cắt giảm hoặc kiểm soát việc uống rượu
5.Các hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc giải trí quan trọng bị từ bỏ hoặc giảm đi vì uống rượu
6.Rất nhiều thời gian dành cho các hoạt động cần thiết để có được, sử dụng hoặc phục hồi sau các tác động của việc uống rượu
Tiếp tục tiêu thụ rượu mặc dù nhận thức được rằng có những vấn đề về thể chất hoặc tâm lý kéo dài hoặc tái phát có thể bị gây ra hoặc trở nên nghiêm trọng hơn do việc uống rượu.
Không có tiêu chí thời lượng cụ thể nào được chỉ định, nhưng một số tiêu chí phụ thuộc cần phải xảy ra lặp lại theo các định tính thời lượng kết hợp với tiêu chí, chẳng hạn như "liên tục" và "tiếp tục".
Tiêu chí về Rối loạn Sử dụng Rượu theo DSM-5
Theo DSM-5, rối loạn sử dụng rượu được định nghĩa là một tình trạng sử dụng rượu có vấn đề, dẫn đến suy giảm hoặc đau khổ nghiêm trọng về mặt lâm sàng Để chẩn đoán, cần có ít nhất hai trong số các tiêu chí được liệt kê, xảy ra trong khoảng thời gian 12 tháng.
Nếu một người đã trải qua bất kỳ hai triệu chứng nào từ các tiêu chí dưới đây trong năm qua, họ có thể được chẩn đoán mắc rối loạn sử dụng rượu (AUD).
1.Bệnh nhân thường uống với lượng lớn hơn hoặc trong một thời gian dài hơn dự định [Bạn có uống nhiều hơn mức bạn muốn không?]
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nghiên cứu về loạn thần do rượu trên thế giới
Nghiên cứu của Preuss và cộng sự (2017) chỉ ra rằng rối loạn sử dụng rượu có tỷ lệ mắc cao với các rối loạn tâm thần, theo hướng dẫn S3 của Đức Đồng thời, việc tiêu thụ rượu cũng đóng vai trò quan trọng trong các rối loạn ái tình và lo âu.
Năm 2018, nghiên cứu của Charnotte M Gabriels, Muiruri Macharia và Lize Weich về bệnh tâm thần và chất lượng cuộc sống ở 101 bệnh nhân rối loạn tâm thần do sử dụng rượu cho thấy 55,6% bệnh nhân mắc nhiều hơn một rối loạn tâm thần, và tỷ lệ mắc nhiều bệnh rối loạn tâm thần này có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của họ.
Năm 2012, Suzanne Yan và cộng sự đã chỉ ra mối liên hệ đáng kể giữa các dấu hiệu tâm thần do sử dụng rượu và bạo lực cộng đồng ở bệnh nhân rối loạn lưỡng cực và trầm cảm, đồng thời nhấn mạnh sự gia tăng nguy cơ mắc các chứng rối loạn sử dụng chất kích thích.
Nghiên cứu của U W Preuss (2018) cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa rối loạn sử dụng rượu và các bệnh tâm thần, theo hướng dẫn S3 của Đức Tỷ lệ mắc rối loạn sử dụng rượu cao hơn ở những người mắc các rối loạn tâm thần, trong khi việc tiêu thụ rượu cũng có ảnh hưởng đáng kể đến các rối loạn như ái kỷ, lo âu, tâm thần phân liệt và nhiều rối loạn tâm thần khác.
Nghiên cứu của Brian M Quigley (2018) chỉ ra rằng việc sử dụng rượu có thể làm tăng cường mối quan hệ giữa các triệu chứng bệnh tâm thần và hành vi hung hăng Các mối liên hệ này thường mạnh hơn khi có sự tham gia của rượu Mặc dù các phát hiện phù hợp với mô hình nhiều ngưỡng về sự gây hấn liên quan đến rượu, nhưng tác động của việc sử dụng rượu lại rất phức tạp, phụ thuộc vào loại rối loạn tâm thần và giới tính của cá nhân.
1.2.2 Nghiên cứu về loạn thần do rượu tại Việt Nam
Năm 2017, Đào Trần Thái và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tại Bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy rằng nghiện rượu có thể dẫn đến nhiều rối loạn tâm thần nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh, trong đó phổ biến nhất là sảng run và loạn thần do rượu.
Năm 2015, Vũ Minh Hạnh đã nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và đánh giá đáp ứng điều trị của sảng rượu, cho thấy 100% bệnh nhân có rối loạn năng lực định hướng, trong đó rối loạn định hướng về thời gian chiếm tỷ lệ cao nhất (73,9%) Rối loạn định hướng không gian và môi trường xung quanh lần lượt là 67,4% và 58,7%, trong khi rối loạn bản thân ít gặp hơn (26,1%) Triệu chứng rối loạn ý thức thường kéo dài cả ngày và nặng lên vào buổi tối, với khí sắc tăng (41,3%) và cảm xúc không ổn định (30,4%) Bệnh nhân cũng gặp phải ảo giác thị giác (65,2%), thường thấy các con vật nhỏ hoặc người lạ, dẫn đến hành vi chạy trốn và lo sợ (56,5%) Các triệu chứng khác bao gồm mất ngủ (100%), thèm rượu (47,8%), và run tay (100%) Tư duy rời rạc (71,7%) và hoang tưởng bị hại (56,5%) cũng là những biểu hiện phổ biến trong nhóm bệnh nhân này.
Nghiên cứu của tác giả Trần Văn Trường (2019) về rối loạn tâm thần và hành vi phạm tội ở đối tượng RLLT do sử dụng rượu cho thấy triệu chứng rối loạn tư duy rất đa dạng, với 64,4% nói một mình và 53,3% có nhịp trung bình Tỷ lệ ảo thanh và ảo thị giác lần lượt là 57,8% và 53,5%, trong khi khí sắc giảm và cảm xúc không ổn định chiếm 51,1% Triệu chứng lười nhác trong lao động và ít giao tiếp xung quanh cũng đạt tỷ lệ cao nhất (51,1%) Hành vi phạm tội chủ yếu là giết người, chiếm 60%, thường xảy ra với những người thân cận như gia đình (33,3%) và hàng xóm (26,7%).
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
Một vài nét về Bệnh viện Tâm thần trung ương 1
Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 được thành lập theo quyết định số 519/ BYT-QĐ ngày 07/06/1963 Tiền thân là khu điều dưỡng cán bộ miền Nam tập kết
Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, tọa lạc tại huyện Thường Tín, Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây), được thành lập với quy mô ban đầu 100 giường Hiện nay, bệnh viện đã được nâng cấp lên hạng I theo phân hạng của Bộ Y tế, với chỉ tiêu 620 giường bệnh.
- Trong đó có 387/633 là Nữ = 61%; BV thực hiện làm việc theo giờ hành chính
Chức danh BS Dược ĐD KTV CCVC
HL,Y công Phó giáo sư 01
Tỉ lệ điều dưỡng CKI 28/312 đạt 8,97% và dự kiến sẽ tăng lên 12,8% vào cuối năm 2022, cho thấy sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện đối với sự phát triển của đội ngũ điều dưỡng Đặc biệt, 100% điều dưỡng CKI đều được đào tạo tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.
* Chức năng của bệnh viện:
• Khám chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần ở tuyến cao nhất
• Là cơ sở tham gia đào tạo cán bộ chuyên ngành tâm thần và chỉ đạo tuyến
Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ hiện đại là cần thiết để nâng cao sức khỏe cộng đồng, đồng thời đảm bảo rằng các phương pháp này đạt tiêu chuẩn quốc tế và khu vực.
• Nhiệm vụ của bệnh viện:
• Trực tiếp khám chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần các tỉnh, thành phố từ Huế trở ra
• Chỉ đạo tuyến trước về chuyên môn kỹ thuật
Thực trạng Quy trình chăm sóc người bệnh loạn thần cấp do rượu
Bệnh viện thực hiện chăm sóc người bệnh theo Thông tư 31/2021/TT-BYT, có hiệu lực từ ngày 27/2/2022, thay thế Thông tư 07/2011 quy định về hoạt động điều dưỡng trong bệnh viện.
+ Tiếp nhận và nhận định người bệnh
+ Xác định và thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng
+ Đánh giá kết quả thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng
Quy trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân nội trú được thực hiện theo quyết định số 19 ngày 04 tháng 6 năm 2008 của giám đốc bệnh viện, trong đó có khoa nghiện chất Tuy nhiên, thực tế cho thấy bệnh nhân nghiện rượu vẫn nằm rải rác ở các khoa lâm sàng khác.
2.2.1 Quy trình chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện
- Lập kế hoạch chăm sóc:
- Thực hiện kế hoạch chăm sóc:
Một số hình ảnh liên quan đến công tác chăm sóc người bệnh tại bệnh viện tâm thần trung ương 1
Hình ảnh 2.1: Cố định người bệnh khi có hành vi nguy hiểm cho bản thân, người xung quanh,
Hình ảnh 2.2: Hỗ trợ chăm sóc người bệnh tại khoa
Hình ảnh 2.3: Kiểm soát chặt người bệnh khi uống thuốc
Hình ảnh 2.4: Góc thư viện, đọc sách và sáng tác nghệ thuật
Hình ảnh 2.5: Hàng tháng người bệnh được tham gia các cuộc thi do khoa HĐLP tổ chức
2.2.2 Thực trạng chăm sóc bệnh nhân loạn thần cấp do rượu tại bệnh viện Tâm thần trung ương 1 Bảng 2.1 Số liệu người bệnh điều trị liên quan đến rượu 9 tháng đầu năm 2022
STT Nội dung Tổng số Tỷ lệ
1 Số người bệnh điều trị nội trú 3.167 100
2 Số người bệnh điều trị liên quan đến rượu 245/3.167 7,7
3 Số người bệnh theo dõi loạn thần cấp do rượu
Trong 9 tháng đầu năm 2022, khoảng 7,7% tổng số bệnh nhân nội trú là những người mắc các bệnh rối loạn tâm thần do rượu Trong số này, loạn thần cấp chiếm tỷ lệ 12,6%.
Chúng tôi đã thực hiện khảo sát với 31 bệnh nhân nhập viện điều trị trong 9 tháng đầu năm 2022, những người có biểu hiện loạn thần cấp do rượu Kết quả khảo sát cho thấy những thông tin quan trọng về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Bảng 2.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân loạn thần cấp do rượu
Tổng (n,%) Ý thức Tỉnh, tiếp xúc được 28(92,3)
Không tỉnh, Khó tiếp xúc 3(9,7)
Có biểu hiện quên các sự kiện mới (rối loạn trí nhớ) 25(80,6) Đi lại loạng choạng 30(96,8)
Hoang tưởng bị hại, ghen tuông, truy sát 31(100)
Rối loạn năng lực định hướng 26(83,8)
Có vết thương trên cơ thể do bị ngã 3(9,67)
Run chân tay, vã mồ hôi do rối loạn thần kinh thực vật 26(83,8)
Có nguy cơ trốn viện do thèm rượu 17(54,8)
Có nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng do người bệnh đầy bụng, khó tiêu, chán ăn 25(80,6)
Khó khăn trong việc tự vệ sinh cá nhân
Tất cả các bệnh nhân khảo sát đều trải qua hoang tưởng về sự bị hại, ghen tuông và bị truy sát Triệu chứng phổ biến nhất bao gồm ảo giác như cảm giác kiến bò trong người, rắn rết bò trên tường, nhìn thấy ma quỷ, cùng với tình trạng ngủ ít, bồn chồn và khó chịu (93,5%) Ngoài ra, rối loạn ý thức và khả năng định hướng cũng xuất hiện ở 83,8% bệnh nhân, kèm theo triệu chứng đi lại loạng choạng Hơn nữa, 83,8% bệnh nhân gặp phải tình trạng run chân tay và vã mồ hôi do rối loạn thần kinh thực vật Rối loạn giấc ngủ là triệu chứng phổ biến ở tất cả bệnh nhân loạn thần cấp (100%) Trong giai đoạn cấp, một số bệnh nhân có thể gặp co giật và tự gây tổn thương cho bản thân và người xung quanh, dẫn đến vết thương trên cơ thể ở 9,67% bệnh nhân.
Bảng 2.3 Thực trạng nhận định điều dưỡng ở đối tượng khảo sát
Tổng (n,%) Nhận định tình trạng ý thức của bệnh nhân loạn thần do rượu 31(100) 31(100)
Nhận định các chỉ số sinh tồn ( mạch, nhiệt độ, huyết 31(100) áp)
Nhận định đẩy đủ các bệnh lý đi kèm của bệnh nhân loạn thần do rượu 28(90,3)
Nhận định thể trạng, tình trạng dinh dưỡng 31(100)
Nhận định tình trạng tự chăm sóc bản thân, vệ sinh cá nhân
Nhận định các bất ổn về mối quan hệ giữa bệnh nhân với gia đình và xã hội
Nhận định tình trạng suy nghĩ, tư duy, logic 12(38,7)
Nhận định, mô tả đầy đủ các triệu chứng, dấu hiệu lâm sàng và các thay đổi trong quá trình diễn biến bệnh
Tất cả bệnh nhân đều được đánh giá tình trạng ý thức, các chỉ số sinh tồn, chiều cao, cân nặng và tình trạng dinh dưỡng ngay từ khi tiếp nhận Tuy nhiên, việc theo dõi triệu chứng và tình trạng lâm sàng còn sơ sài, với 26% thông tin bị bỏ sót và phụ thuộc vào nhận định của bác sĩ Các vấn đề tâm lý, tư duy và mối quan hệ xã hội của bệnh nhân chưa được chú trọng đầy đủ, với tỷ lệ tương ứng chỉ đạt 58% và 38,7%.
Bảng 2.4 Thực trạng chẩn đoán của điều dưỡng ở đối tượng khảo sát
Nội dung Chẩn đoán được (n,%) Tổng(n,%) Nhận biết được người bệnh có hoang tưởng bị hại, ghen tuông, truy sát 31(100) 31(100)
Người bệnh có thể nhận biết qua các triệu chứng như cảm giác kiến bò trong người, rắn rết bò trên tường, hoặc nhìn thấy ma quỷ Họ thường cảm thấy bồn chồn và khó chịu.
Nhận biết người bệnh có rối loạn ý thức và năng lực định hướng, đi lại loạng choạng là rất quan trọng Ngoài ra, việc nhận diện cơn co giật do cai rượu cũng cần được chú ý.
Nhận biết được người bệnh có vết thương trên cơ thể do bị ngã 3(100) 3(100)
Nhận biết được người bệnh có run chân tay, vã mồ hôi do rối loạn thần kinh thực vật
Nhận biết được người bệnh có nguy cơ trốn viện do thèm rượu
Nhận biết được người bệnh có nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng do người bệnh đầy bụng, khó tiêu, chán ăn
Nhận biết rối loạn giấc ngủ ở bệnh nhân loạn thần do rượu
Nhận biết được bệnh nhân có giảm tương tác xã hội 13(42) 31(100)
Nhận biết được người bệnh có khó khăn trong quá trình suy nghĩ, tư duy logic 26(83,9) 31(100)
Nhận biết được bệnh nhân có khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân 31(100) 31(100)
Đa số điều dưỡng nhận biết bệnh nhân gặp khó khăn trong mối quan hệ với gia đình và người thân, với 77,4% bệnh nhân có triệu chứng hoang tưởng như bị hại, ghen tuông và truy sát Các triệu chứng ảo giác như cảm giác kiến bò, nhìn thấy ma quỷ, rối loạn ý thức và khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân cũng được ghi nhận Hơn 80% bệnh nhân gặp rối loạn giấc ngủ, run tay chân và vã mồ hôi do rối loạn thần kinh thực vật, cùng với nguy cơ trốn viện Tuy nhiên, các khó khăn trong suy nghĩ, tư duy và giảm tương tác xã hội của bệnh nhân chỉ được chú ý ở mức thấp, với tỷ lệ tương ứng là 42%, 12,9% và 29%, mặc dù đây là vấn đề thường gặp ở bệnh nhân loạn thần do rượu.
Bảng 2.5 Thực trạng chăm sóc của điều dưỡng ở đối tượng khảo sát
Tỷ lệ (%) Theo dõi tình trạng ý thức của bệnh nhân loạn thần do rượu 31 100
Theo dõi các chỉ số sinh tồn (mạch, nhiệt độ, huyết áp), chiều cao, cân nặng 31 100
Có biện pháp hạn chế các kích thích, tiếng động cho bệnh nhân 27 87
Để hỗ trợ bệnh nhân tái hòa nhập và tăng cường tương tác xã hội, cần tổ chức các nhóm hoạt động và đối xử với họ bằng ánh mắt cảm thông, thấu hiểu Lời nói nên được truyền đạt một cách chậm rãi, điềm tĩnh và ôn hòa.
Theo dõi sát các biểu hiện hoang tưởng, ảo giác, kích động, lo lắng 31 100
Giao tiếp, giải thích với bệnh nhân bằng ngôn ngữ dễ hiểu, chậm rãi, điềm đạm và kiên nhẫn 29 93,5 Động viên tinh thần bệnh nhân 18 58
Tư vấn chế độ ăn 19 61
Chăm sóc phục hồi chức năng 8 9,7
Hướng dẫn và theo dõi dùng thuốc 17 54,8
Ghi chép đầy đủ hồ sơ bệnh án 25 80,6
Tư vấn chế độ sinh hoạt, giáo dục sức khỏe 13 41,9
Có biện pháp ngăn chặn bệnh nhân trốn viện 31 100 Chăm sóc vết thương cho bệnh nhân loạn thần do rượu 31 100
Tư vấn cho bệnh nhân và người nhà hiểu tác hại của rượu và cách cai rượu 28 90,3
Biết cách chăm sóc, xử lý bệnh nhân khi có co giật 31 100
Có biện pháp phòng ngừa việc tự gây tổn thương cho chính bệnh nhân và người xung quanh 31 100
Tư vấn, chăm sóc giấc ngủ cho bệnh nhân loạn thần do rượu 7 22,6
Tất cả bệnh nhân đều được quản lý chặt chẽ tại buồng bệnh, với đội ngũ điều dưỡng thực hiện quy trình chăm sóc một cách hiệu quả Điều này không chỉ đảm bảo an toàn cho bệnh nhân mà còn áp dụng các biện pháp ngăn chặn tình trạng bệnh nhân trốn viện và tự gây tổn thương cho bản thân cũng như người xung quanh.
Tất cả bệnh nhân đều có rối loạn ý thức và rối loạn định hướng, được điều dưỡng theo dõi và chăm sóc Đội ngũ y tế hỗ trợ và hướng dẫn người nhà phối hợp trong việc chăm sóc Mỗi bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ về ý thức và các chỉ số sinh tồn theo chỉ định của bác sĩ.
Việc tư vấn giấc ngủ, chế độ sinh hoạt, giáo dục sức khỏe và động viên tinh thần cho người dân là cần thiết, nhưng hiện tại còn gặp khó khăn do quỹ thời gian hạn chế và thiếu tính cá thể hóa.
Việc ghi chép hồ sơ bệnh án điều dưỡng mô tả còn sơ sài, còn phụ thuộc nhiều vào nhận xét của bác sỹ (19,4%)
Theo số liệu 9 tháng đầu năm 2022, khoảng 7,7% tổng số bệnh nhân nội trú là người mắc các bệnh rối loạn tâm thần do rượu Trong đó, loạn thần cấp chiếm 12,6% số bệnh nhân điều trị liên quan đến rượu Nghiên cứu của Jonna Perọlọ chỉ ra rằng tỷ lệ hiện mắc suốt đời đối với loạn thần do sử dụng rượu là 0,5%, với tỷ lệ cao nhất (1,8%) ở nam giới trong độ tuổi lao động Các yếu tố như tuổi bắt đầu nghiện rượu trẻ, tình trạng kinh tế xã hội thấp, sức khỏe tâm thần của cha, và việc điều trị nhiều lần tại bệnh viện đều liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc loạn thần do rượu.