Người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine thường nhập viện trong tình trạng rối loạn tâm thần, chống đối vào viện, kích động, nên người bệnh không làm chủ được bản thân, cai ngh
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ SINH
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ NGƯỜI BỆNH CAI NGHIỆN MA TÚY ĐÁ
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I NĂM 2022
Chuyên ngành: Tâm thần BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Th S LÊ THỊ VÂN
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ SINH
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC VÀ QUẢN LÝ NGƯỜI BỆNH CAI NGHIỆN MA TÚY ĐÁ
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
NĂM 2022
Chuyên ngành: Tâm thần BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Th S LÊ THỊ VÂN
NAM ĐỊNH - 2022
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ……… i
LỜI CAM ĐOAN……… ii
LỜI CẢM ƠN ……… iii
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 01
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN……… 03
1.1 Cơ sở lý luận ……… 03
1.1.1 Khái niệm về chất ma túy……… 03
1.1.2 Phân loại ma túy……… …… 03
1.1.3 Tình hình sử dụng ma túy……… 04
1.1.4 Nguyên nhân nghiện ma túy……… 05
1.1.5 Tác hại của ma túy 06
1.1.6 Các chất dạng Amphentamine 07
1.2 Cơ sở Thực tiễn 16
1.2.1 Quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy của Bộ Y tế 16
1.2.2 Các bước chăm sóc người nghiện ma túy chất dạng amphetamine 17
1.2.3 1.2.4 11.3 Xây dựng kế hoạch chăm sóc theo giai đoạn đối với người bệnh nghiện chất dạng amphetamine………
Các bước chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy theo Bộ Y tế năm 2002
Quản lý bệnh nhân nghiện amphetamine ngoài cộng đồng
19 23 24 CHƯƠNG II: MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP BỆNH 27
2.1 Khái quát bệnh viện Tâm thần Trung ương 1……… 27
2.2 Chăm sóc một trường hợp cụ thể 29
2.2.1 Quá trình bệnh lý 29
2.2.2 Khám bệnh ……… 30
Trang 42.2.3 Tiền sử……… 32
2.2.4 Hoàn cảnh gia đình, trình độ văn hóa……… 32
2.2.5 Kế hoạch chăm sóc ……… 32
2.3 Một số thực trạng còn tồn tại trong chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy 40
2.3.1 Về phía nhân viên y tế 40
2.3.2 Về phía người bệnh 41
2.3.3 Về phía gia đình người bệnh 41
2.4 Các ưu điểm, nhược điểm ……… 41
2.5 Nguyên nhân của những việc đã làm được và chưa làm được…… 42
2.5.1 Nguyên nhân của những việc đã làm được……… 42
2.5.2 Nguyên nhân của những việc chưa làm được……… 43
CHƯƠNG III: BÀN LUẬN ……… ……… 44
KẾT LUẬN……… 45
ĐỀ XUẤT……… ……… 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 48
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Trang 6
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo của riêng tôi Các kết quả trong chuyên
đề là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà nội, ngày tháng năm 2022 Người làm cam đoan
Nguyễn Thị Sinh
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị, các bạn và những đồng nghiệp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Bộ môn Tâm Thần Kinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề
Tôi xin chân thành cảm ơn Th S LÊ THỊ VÂN đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề
Cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, các nhân viên y tế bệnh viện Tâm Thần trung Ương I đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình làm việc, học tập tại Viện để chúng tôi có thể hoàn thành bài chuyên đề
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm chuyên đề đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh chuyên đề này
Trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, Tháng 10 năm 2022 Học viên viết chuyên đề
Nguyễn Thị Sinh
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiện ma túy là một bệnh mạn tính, gây tâm lý bất an, lo lắng trong gia đình, gây rối loạn an ninh trật tự xã hội, gây thiệt hại về kinh tế và sự suy thoái về đạo đức Nghiện ma túy là nguyên nhân của sự lây nhiễm HIV/AIDS, viêm gan B và C và đã trở thành một hiểm hoạ đang là mối nguy cơ lớn không chỉ vấn đề sức khỏe và cả sự phát triển của xã hội
Theo báo cáo tình hình ma túy thế giới 2015 của cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc, cho thấy có khoảng 246 triệu người, tương đương với khoảng hơn 5% dân số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 từng sử dụng ma túy trái phép Số người có vấn đề về sử dụng ma túy chiếm khoảng 27 triệu người và gần một nửa trong số họ là người tiêm chích ma túy Có khoảng 1,65 triệu người tiêm chích ma túy đang nhiễm HIV Đáng chú ý, nam giới sử dụng cần sa, cocain và anphetamin nhiều gấp ba lần nữ giới, trong khi nữ giới có
xu hướng lạm dụng thuốc giảm đau có chứa opiats và thuốc an thần [1]
Đối với Việt Nam qua báo cáo cho thấy, chất dạng thuốc phiện (opiats) vẫn
là loại ma túy được sử dụng rộng rãi nhất Tuy nhiên việc sử dụng ma túy tổng hợp dạng amphetamine (ATS) cũng đang tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây Theo Bộ Công an, tính đến cuối năm 2014, cả nước có 204.377 người sử dụng ma túy có hồ sơ quản lý, trong đó số người sử dụng opiats chiếm tới 72%, sau đó là ATS với 14,5% [1]
Việc cai nghiện nghiện ma túy nói chung rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn, trong đó có nhóm nghiện các chất dạng amphetamin Cắt cơn nghiện ma túy là giai đoạn đầu cho quá trình điều trị nghiện [2]; Nhu cầu cai nghiện ma túy
là vô cùng lớn, cả nước năm 2006, đã cai cắt cơn nghiện cho khoảng 207 nghìn lượt [1]
Công tác chăm sóc của điều dưỡng trong quá trình cai cắt cơn nghiện ma túy có những đặc điểm riêng so với các bệnh lý tâm thần khác Nhu cầu chăm sóc cai cắt cơn nghiện ma túy nhóm chất dạng amphetamin rất phức tạp, do các triệu
Trang 9chứng của hội chứng cai diễn biến nhanh, triệu chứng cả cơ thể và tâm thần, trên
Để có thể chăm sóc tốt người bệnh cai cắt cơn nghiện ma túy nhóm chất dạng amphetamin cần phải nắm rõ qui luật diễn biến của hội chứng cai ma túy, đặc điểm riêng, cũng như nhu cầu chăm sóc theo từng giai đoạn, đồng thời phải xây dựng kế hoạch chăm sóc chuyên biệt
Ở Việt Nam, vấn đề này trên phương diện chăm sóc của điều dưỡng chưa được đề cập nhiều và kế hoạch chăm sóc chưa được xây dựng riêng cho người bệnh cai cắt cơn nghiện ma túy nhóm chất dạng amphetamin Bộ Y tế chưa có hướng dẫn quy trình chăm sóc riêng cho người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine Người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine thường nhập viện trong tình trạng rối loạn tâm thần, chống đối vào viện, kích động, nên người bệnh không làm chủ được bản thân, cai nghiện chủ yếu theo yêu cầu điều trị rối loạn tâm thần và đề nghị của gia đình người bệnh Chính vì vậy, việc chăm sóc người bệnh nghiện ma túy chất dạng amphetamine khác với nghiện ma túy nhóm thuốc phiện (người nghiện ma túy nhóm thuốc phiện nhập viện điều trị chủ yếu là tự nguyện cai)
Với những đặc điểm trên, nhu cầu chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine có những đặc điểm riêng
Để góp phần làm sáng tỏ những nhu cầu chăm sóc chuyên biệt và hành động chăm sóc cần thiết trong công tác của điều dưỡng đối với người bệnh được điều trị nghiện ma túy nhóm Amphetamine, tôi tiến hành chuyên đề:
Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 năm 2022 " , trong đó, chúng tôi mô tả kế hoạch chăm sóc của một trường hợp nghiện ma túy dạng amphetamin với mục tiêu cụ thể như sau :
1 Mô tả thực trạng chăm sóc và quản lý người bệnh cai nghiện ma tuý đá tại bệnh viên tâm thần trung ương 1 năm 2022
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh cai nghiện
ma tuý đá tại Bệnh viện Tâm Thần trung ương 1
Trang 10Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận chung về ma túy
1.1.1 Khái niệm về chất ma túy
Ma túy là các chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi đưa vào
cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng tâm- sinh lý của cơ thể Sử dụng ma túy nhiều lần sẽ bị lệ thuộc về thể chất lẫn tâm lý, gây hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội
1.1.2 Phân loại ma túy
Việc phân loại chất gây nghiện hết sức phức tạp và có nhiều cách khác nhau: Phân loại theo mức độ chất gây nghiện:
+ Chất gây nghiện mạnh là loại chất gây nghiện có phản ứng dược lý mạnh, tất
cả các nước đều cấm sử dụng: Morphin, Codein, Heroin
+ Chất gây nghiện trung bình là loại chất gây nghiện có phản ứng tâm lý là chủ yếu, đồng thời có cả phản ứng sinh học: Amphetamin, các chất gây loạn thần
+ Chất gây nghiện nhẹ là loại chất gây nghiện có phản ứng tâm lý là chủ yếu, phản ứng sinh học là thứ yếu: Thuốc lá, Cafein, Seduxen…
Phân loại theo nguồn gốc, Ma túy được phân chia thành 3 loại:
+ Ma túy tự nhiên: Là sản phẩm của các cây trồng tự nhiên và các chế phẩm của chúng như thuốc phiện, cần sa, cocain
+ Ma túy bán tổng hợp: Là các chất ma túy được chế từ ma túy tự nhiên và một
số chất phụ gia khác, có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu Ví dụ; Heroin là một loại ma túy bán tổng hợp được chiết xuất từ cây thuốc phiện, bằng cách chế thuốc phiện với các hóa chất để tạo ra morphine và sau đó kết tủa thành heroin dạng thô
+ Ma túy tổng hợp: là các loại ma túy được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ hóa chất như: thuốc lắc, ma túy đá…
- Phân loại theo chính sách xã hội:
+ Chất gây nghiện hợp pháp trong xã hội: Rượu, cà phê, thuốc lá
Trang 11+ Chất gây nghiện hợp pháp trong y tế: Morphin, Codein, thuốc giải lo âu Benzodiazepin, thuốc ngủ Barbiturate
+ Chất gây nghiện bất hợp pháp và bị giới hạn: Chất dạng thuốc phiện (Thuốc phiện, Heroin ), cannibis (cần sa, hashich ), coain
- Phân loại thuốc theo tác dụng của chất gây nghiện lên hệ thần kinh trung ương: + Các chất ức chế, giảm đau: Rượu, Benzodiazepin, các chất dạng thuốc phiện (opioid), thuốc ngủ Barpiturate, cần sa
+ Các chất kích thích, kích thần: Amphetamin, nicotin, cocain, cafein
+ Các chất gây ảo giác: Ketamin, mescaline [13]
Độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có xu hướng trẻ hóa Cuối năm 2010, gần 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi 30 trong khi năm 1995 tỷ lệ này chỉ khoảng 42% Hơn 95% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam giới Tuy nhiên, tỷ lệ người nghiện là nữ giới cũng có xu hướng tăng trong những năm qua[18]
Như vậy, có thể thấy tình hình lạm dụng ma túy ở Việt Nam vẫn đang diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma túy mới Đa
số người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, chưa được đào tạo nghề và không
có việc làm ổn định, thường gặp các vấn đề về sức khỏe, kinh tế khó khăn, nhiều người không được sự hỗ trợ của người thân, gia đình Do vậy, việc tổ chức cai nghiện cho người nghiện ma túy là cần thiết nhằm giúp học từ bỏ sự phụ thuộc vào chất gây nghiện, đồng thời trang bị, phục hồi cho học các kỹ năng sống và kỹ năng lao động
để đảm bảo thực hiện đầy đủ các vai trò của mình trong gia đình và xã hội
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sự lệ thuộc vào chất ma túy chủ yếu là sự lệ thuộc
về mặt tâm thần Sự lệ thuộc về mặt cơ thể chỉ trong thời gian ngắn, cơ thể tự điều chỉnh để chấm dứt các triệu chứng của hội chứng cai trong vòng 1-2 tuần Cảm giác
Trang 12sảng khoái và bình thản do chất gây nghiện gây ra là cơ sở sinh học của thèm nhớ và
sử dụng lại các chất gây nghiện Đó là nguyên nhân làm cho hầu hết người nghiện tái
sử dụng lại chất gây nghiện sau một thời gian ngắn điều trị hội chứng cai nếu không được duy trì chống tái nghiện lâu dài Các tác giả sử dụng liệu pháp tập tính cho rằng trong thời gian dài sử dụng chất gây nghiện gây ra những phản ứng thường xuyên của
bộ não đối với chúng, từ đó hình thành một phản xạ có điều kiện mà việc xóa bỏ phản
xạ này là rất khó Cảm giác thèm và nhớ sự dễ chịu, sảng khoái do các chất gây nghiện đem lại đã tồn tại tiềm tàng và thường trực trong não Bởi vậy, khi gặp một kích thích gợi nhớ các chất này thì các dấu vết của phản xạ có điều kiện lại được hoạt hóa Xung động thèm chất xuất hiện trở lại và thúc đẩy người nghiện tái sử dụng Chính vì thế, một số người nghiện chất đã điều trị hội chứng cai và sử dụng nó trong một thời gian dài, lại có thể tái nghiện sau khi ra khỏi trại cai nghiện một thời gian ngắn [18]
1.1.4 Nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy
1.1.4.1 Chất gây nghiện
Các chất dạng thuốc phiện tự nhiên ở miền núi nước ta rất sẵn có và dễ trồng Mặc dù nước ta có chủ trương triệt phá cây thuốc phiện, chuyển đổi cây trồng, nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp Do địa hình nước ta gần vùng tam giác vàng, lượng ma túy xâm nhập vào Việt Nam rất dễ dàng và có xu hướng gia tăng Ngày càng xuất hiện chất ma túy (Heroin) bán tổng hợp mới, dễ vận chuyển, sử dụng đơn giản và tiện lợi Vì vậy việc kiểm soát sự lưu thông và buôn bán ma túy rất khó khăn [3]
1.1.4.2 Đối tượng có nguy cơ nghiện
- Lứa tuổi thanh thiếu niên đang trong quá trình hình thành nhân cách, dễ bị khủng hoảng tâm lý, dễ bị lợi dụng và thích tò mò mạo hiểm
- Những người bị stress lâm vào trạng thái lo âu, trầm cảm có thể tìm đến ma túy
- Đặc điểm tích cách có xu hướng nghiện [3]
1.1.4.3.Môi trường xã hội
- Gia đình có người nghiện ma túy, nội bộ gia đình xung đột, không quan tâm giáo dục hoặc quá nuông chiều con cái
Trang 13- Cơ chế thị trường, mở cửa, giao lưu quốc tế thuận lợi, nhận thức của người dân
dễ bị lây nhiễm HIV/AIDS Người nghiện thường biến đổi nhân cách, thiếu kiềm chế cảm xúc, hay xung đột với gia đình, lừa dối mọi người, tử bỏ mọi ham muốn, thường xuyên trong tình trạng nhiễm độc như lơ mơ, đi loạng choạng, dễ bị tai nạn và gây tai nạn cho người khác Ngoài ra còn có thể có các rối loạn tâm thần khác như: Lo âu, trầm cảm, hoảng tưởng, ảo giác [1]
1.1.5.2 Về kinh tế
Chi phí mà người nghiện ma túy phải chi trả ngày càng nhiều do phải tăng liều
và tăng số lần sử dụng trong khi thu nhập từ lao động ngày càng giảm, thậm chí không kiếm ra tiền Chính vì thế mà người nghiện ma túy phải lừa dối mọi người để
có tiền sử dụng ma túy bằng mọi giá như bán đồ đạc của người thân, trộm cắp và cuối cùng là phạm tội Ở nước ta, trung bình một người nghiện ma túy tiêu thụ từ 50.000 đến 200.000 đồng/ ngày, tính ra cả nước sẽ mất tới 10 tỷ đồng/ ngày Hằng năm nhà nước chi phí 50 tỷ đồng cho công tác phòng chống tệ nạn xã hội trong đó có nghiện ma túy Trên thế giới việc mua bán ma túy lên tới 500 tỷ USD/ năm, bằng 8%
tỷ trọng thương mại toàn cầu Phần lớn những người nghiện ma túy kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, 100% gia đình lâm vào cảnh sa sút kinh tế, 12% chủ doanh nghiệp bị phá sản, 4% bị mắc nợ và 14% bị đuổi việc [13]
1.1.5.3 Về gia đình
Ma túy làm đạo lý gia đình bị đảo lộn, vợ chồng li dị, con cái hư hỏng, lang thang, bụi đời Thống kê qua điều tra xã hội học gần đây có 27% người nghiện ma túy vợ hoặc chồng ly dị, 16,6% li thân từ bỏ nghĩa vụ đối với người nghiện, 8.33% con cái bị hư hỏng Nạn ma túy còn làm mất nhân phẩm, giá trị con người, nhân cách đồi bại [1]
Trang 141.1.5.4 Đối với xã hội
Gây mất trật tự an toàn xã hôi, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người, mại dâm, băng nhóm Ảnh hướng đến đạo đức thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc, làm giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội, tăng chí phí ngân sách xã hội cho các hoat động ngăn ngừa, khắc phục hậu quả do ma túy đem lại Từ đó gây hoang mang, căng thẳng đối với những người sống bên cạnh người nghiện ma túy cảm thấy không an toàn, né tránh người nghiện để tránh tai họa do người nghiện ma túy gây nên [1]
1.1.6 Các chất dạng amphetamines
1.1.6.1 Đặc điểm chung về các chất dạng amphetamine
Chất kích thích dạng amphetamine (ATS) là một nhóm ma túy tổng hợp là các dẫn xuất hóa học của hợp chất gốc alpha-methylphenethylamine, còn được gọi là amphetamine ATS phổ biến bao gồm amphetamine, methamphetamine , ephedrine ,
3,4-methylenedioxyamphetamine (MDA) và 3,4-methylenedioxyethylamphetamine (MDEA) Một số tên đường phố khác thường được biết đến như: băng, meth, pha lê, crank, bennies và tốc độ Trong nhóm các chất kích thích dạng amphetamine, cũng có các loại thuốc kê đơn bao gồm cả muối amphetamine hỗn hợp ,dextroamphetamine
và lisdexamfetamine
Các chất kích thích dạng amphetamine nói chung là giống các amin giao cảm có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương , cũng được chứng minh là gây mất ngủ, kích thích và giảm cảm giác đói Do tác dụng sinh lý và tâm lý của nó, ATS đã được
sử dụng để ngăn chặn sự thèm ăn, cải thiện hiệu suất nhận thức, cũng như điều trị ADHD, trầm cảm và chứng ngủ rũ Chất kích thích dạng amphetamine cũng được biết đến với đặc tính gây nghiện và vấn đề lạm dụng chất kích thích phổ biến Các tác dụng phụ của ATS, đặc biệt khi được sử dụng lâu dài, bao gồm khuynh hướng ám ảnh cưỡng chế , lo lắng , hoang tưởng ,ảo giác , hung hăng , hưng cảm và trong trường hợp cực đoan, rối loạn tâm thần do amphetamine
Trang 151.1.6.2 Các đặc điểm về dược học của chất dạng amphetamines
Các chất kích thích dạng amphetamine có thể được chia nhỏ dựa trên hoạt động của chúng trên hệ thần kinh trung ương, các hợp chất có đặc tính gây ảo giác là các hợp chất liên quan đến MDMA Tất cả các ATS hoạt động như chất kích thích tâm thần , tạo ra các hiệu ứng kích thích và dẫn đến tăng động và tăng vận động Trong khi các hợp chất liên quan đến MDMA có cấu trúc tương tự như mescaline và có đặc tính gây ảo giác bên cạnh đặc tính kích thích tâm thần
ATS tạo điều kiện cho dẫn truyền thần kinh monoamine bằng cách ngăn chặn các chất vận chuyển monoamine qua màng, dẫn đến sự thanh thải monoamine bị
ức chế Ví dụ về chất vận chuyển monoamine bao gồm chất vận chuyển dopamine , chất vận chuyển norepinephrine và chất vận chuyển serotonin
ATS cũng là chất đối kháng cạnh tranh cạnh tranh với chất dẫn truyền thần kinh monoamine do cấu trúc tương tự của chúng ATS sau đó xâm nhập vào tế bào thần kinh trước synap và ức chế chất vận chuyển monoamine dạng mụn nước
2 (VMAT2) để giảm tái hấp thu chất dẫn truyền thần kinh monoamine
ATS ức chế monoamine oxidase và do đó ức chế sự phân hủy monoamine
và một số trong số chúng có thể có tương tác với các thụ thể nội bào trước synap
để thúc đẩy dẫn truyền thần kinh monoamine.Ví dụ, methamphetamine hoạt động như một chất chủ vận của thụ thể sigma-1
Rối loạn liên quan đến sử dụng ATS có thể có liên quan đến hệ thống GABA Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng ATS sẽ ảnh hưởng đến chức năng bình thường của các thụ thể GABA-A Clonazepam , là một chất chủ vận thụ thể GABAA , được chứng minh là có thể ngăn chặn quá trình nhạy cảm với methamphetamine Chất đối kháng thụ thể GABA-A được chứng minh là có thể làm trầm trọng thêm các rối loạn sử dụng ATS Do đó, một cơ chế khả thi có thể
là việc kích hoạt thụ thể GABA-A làm giảm dẫn truyền thần kinh dopaminergic
và thụ thể GABAA có thể có vai trò ức chế trong các rối loạn do ATS gây ra ATS cũng ức chế các thụ thể GABA-B, axit glutamic decarboxylase (GAD), chất vận chuyển GABA (GAT) và thúc đẩy chuyển hóa GABA Điều này dẫn đến
Trang 16giảm biểu hiện GABA ngoại bào, ức chế sinh tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh GABA-nergic và suy giảm chức năng của các kênh GIRK thụ thể GABAB
ATS có thể được sử dụng qua đường uống (nuốt), qua đường mũi (hít hơi hoặc hít thở) và đường tĩnh mạch Dùng ATS bằng đường uống là đường dùng phổ biến nhất Thời gian đáp ứng và dược động học khác của ATS khác nhau đối với các đường dùng khác nhau
1.1.6.3 Tác dụng sinh học và ứng dụng của chất dạng amphetamin
Thuốc ức chế sự thèm ăn
Một nghiên cứu được thực hiện bởi công ty dược phẩm Smith, Kline & French (SKF) vào năm 1947 cho thấy amphetamine có thể ảnh hưởng đến trung tâm não để giảm cảm giác thèm ăn và giúp giảm cân Vào cuối những năm 1960, giảm cân là dấu hiệu phổ biến nhất đối với ATS Ngày nay, để ngăn chặn sự thèm
ăn, sự kết hợp giữa fenfluramine và phentermine vẫn được sử dụng
Điều trị chứng ngủ rũ
Thuốc kích thích dạng amphetamine có thể được sử dụng trong điều trị chứng ngủ rũ, một chứng rối loạn thần kinh hiếm gặp, do não không thể điều chỉnh cơ chế ngủ-thức Amphetamine gây ra sự gia tăng giải phóng dopamine, đây là cơ chế được đề xuất cho tác dụng thúc đẩy sự tỉnh táo của não bộ ATS như detroamphetamine được sử dụng trong điều trị chứng ngủ rũ khi mà chất kích thích thần kinh trung ương khác , modafinil không hiệu quả
Tăng hiệu suất nhận thức
Những người sử dụng chất kích thích dạng amphetamine có thể báo cáo rằng hiệu suất nhận thức và khả năng làm việc của họ được cải thiện Liều ATS
từ thấp đến trung bình giúp cải thiện đầu ra tâm lý mà không ảnh hưởng đáng kể đến trí nhớ, hiệu suất nhiệm vụ bằng lời nói và các biện pháp thông minh ATS có thể thúc đẩy thành tích học tập của một số học sinh thông qua các cơ chế cảm xúc làm tăng sự tự tin của họ Tuy nhiên, việc sử dụng hợp pháp các chất kích thích dạng amphetamine không được kê đơn cho việc sử dụng này
Lạm dụng
Trang 17Amphetamine thường được sử dụng để tạo khoái cảm và bị lạm dụng vì đặc tính gây nghiện Định nghĩa về lạm dụng ATS là một dạng sử dụng chất gây nghiện không tốt được biểu hiện bằng những hậu quả bất lợi đáng kể và tái diễn liên quan đến việc sử dụng nhiều lần chất gây nghiện Trong khi sự phụ thuộc đề cập đến việc sử dụng amphetamine 'kèm theo bằng chứng về sự dung nạp, cai nghiện hoặc hành vi cưỡng chế " Lạm dụng ATS là mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu Báo cáo Ma túy Thế giới của Liên hợp quốc cho biết rằng khoảng 0,3- 1,3% dân số toàn cầu có các vấn đề lạm dụng ATS, trong đó methamphetamine chiếm 71% các vụ co giật ATS toàn cầu
Tác dụng ngoại ý của ATS có thể do nhiều yếu tố gây ra, bao gồm dùng quá liều thuốc được kê đơn, hoặc sử dụng chất bất hợp pháp không an toàn ở bất kỳ liều lượng nào có liên quan đến dược lý Tử vong và độc tính liên quan đến ATS thường phát sinh do lạm dụng ATS, hơn là do phản ứng có hại của thuốc ATS
có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng với mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào liều lượng:
Tác dụng không mong muốn cấp tính Tác hại do sử dụng lâu dài
Tăng nhịp tim, huyết áp, thở nhanh
Nhiệt độ cơ thể cao, đổ mồ hôi
Hành vi bất thường, thay đổi tâm trạng
Buồn nôn và ói mửa
Quá kích thích, mất ngủ , nói nhiều,
bồn chồn, khó chịu, ảo giác ở liều cao
Co giật, loạn nhịp tim và / hoặc suy
tim , xuất huyết não
Hội chứng serotonin
Đồng tử giãn nở
Tâm lý lệ thuộc Suy dinh dưỡng , sụt cân Mất phương hướng , thờ ơ , kiệt sức do thiếu ngủ
Có khả năng trầm cảm , lo lắng , mệt mỏi
Khi sử dụng kéo dài, rối loạn tâm thần
do ATS có thể xảy ra
1.1.6.4 Chẩn đoán nghiện và hội chứng cai ma túy dạng chất Amphentamine 1.1.6.4.1.Chẩn đoán nghiện ma túy chất dạng amphetamine
Trang 18Theo tiêu chuẩn quốc tế “phân loại các rối loạn tâm thần và hành vi” lần thứ 10 (ICD.10), nghiện ma túy chất dạng amphetamine được xác định khi thoản mãn các tiêu chuẩn sau:
Ba hoặc nhiều hơn các biểu hiện sau đây cần phải xảy ra cùng nhau trong vòng ít nhất một tháng hoặc nếu tồn tại trong khoảng thời gian ngắn hơn một tháng thì cần lặp đi lặp lại cùng nhau trong khoảng thời gian 12 tháng
1 Ham muốn mạnh mẽ hoặc cảm giác buộc phải sử dụng ma túy chất dạng amphetamine
2 Tổn thương khả năng kiểm soát tập tính sử dụng chất dạng amphetamine về mặt thời gian bắt đầu , kết thúc hoặc mức sử dụng, được chứng minh bởi ma túy chất dạng amphetamine thường được sử dụng với khối lượng lớn hơn và trong thời gian dài hơn dự định; hoặc bởi dự thèm muốn dai dẳng hoặc với nỗ lực không thành để giảm bớt hoặc kiểm soát việc sử dụng chất dạng amphetamine đó
3 Một trạng thái cai sinh lý khi việc sử dụng chất dạng amphetamin bị ngừng lại hoặc giảm bớt, được chứng minh bởi hội chứng cai đặc trưng cho chất dạng amphetamine đó, hoặc phải sử dụng chất dạng amphetamine cùng loại hoặc gần giống, với ý định làm giảm nhẹ hoặc tránh các hội chứng cai
4 Có bằng chứng về hiện tượng dung nạp thuốc như có nhu cầu phải tăng đáng
kể lượng chất dạng amphetamine để đạt được các hiệu quả mong muốn hoặc gây ngộc độc, hoặc giảm đáng kể tác dụng với việc sử dụng tiếp tục cũng một khối lượng dạng chất amphetamine như cũ
5 Sao nhãng do sử dụng chất dạng amphetamine biểu hiện bằng sự thay đổi nhiều các thú vui hoặc mối quan tâm bị từ bỏ hoặc giảm sút do sử dụng chất dạng amphetamine, phần lớn thời gian cần để tìm kiếm hay sử dụng chất dạng amphetamine, hoặc hồi phục khỏi tác động của chất dạng amphetamine
Tiếp tục sử dụng mặc dù có bằng chứng rõ ràng về hậu quả có hại, được minh chứng bởi việc tiếp tục sử dụng khi người bệnh biết hoặc có thể xem như đã biết bản chất và mức độ hại [9]
1.1.6.4.2 Trạng thái cai ma túy chất dạng amphetamine
Trang 19Theo ICD.10 một trạng thái cai chất dạng amphetamine được chẩn đoán khi thỏa mãn các điều kiện sau:
G1 Phải có bằng chứng rõ ràng về việc mới ngừng hoặc giảm sử dụng chất dạng amphetamine sau khi đã sử dụng ma túy đó lặp đi lặp lại, thường với liều cao và thời gian kéo dài
G2 Các triệu chứng và dấu hiệu tương ứng với các đặc điểm đã biết của trạng thái cai của chất dạng amphetamine đặc biệt hoặc những chất ma túy nói chung G3 Các triệu chức và hội chứng không thể quy cho một bệnh nội khoa không liên quan đến việc sử dụng ma túy và không thể quy cho một rối loạn tâm thần hoặc một rối loạn hành vi khác [13]
Biểu hiện của trạng thái cai ma túy dạng chất amphetamine
Biểu hiện của trạng thái cai ma túy dạng chất amphetamine biểu hiện cả về tâm thần và cơ thể
A Các tiêu chuẩn đối với trạng thái cai (mục G1-G3) phải được đáp ứng
B Có rối loạn khí sắc(Buồn hoặc mất khoái cảm)
C Hai trong số các dấu hiệu sau phải có mặt
6 Có các giấc mơ khó chịu hoặc kỳ quặc
1.1.6.4.3 Rối loạn tâm thần thường gặp
Rối loạn tâm thần là một trong những hậu quả của nghiện ma túy đá nói chung
và nghiện ma túy dạng amphetamine nói riêng
Ma túy chất dạng amphetamine thuộc nhóm ma túy kích thích có thể gây rối loạn thần, đặc biệt là loạn thần sớm hơn so với một số ma túy khác, thường trong vòng 6 tháng
Rối loạn tâm thần có thể do tác dụng dược lý của ma túy hoặc do quá trình nhiễm độc mạn tính gây nên [8]
Trang 20a Rối loạn tâm thần do nhiễm độc cấp ma túy dạng amphetamine
Người bệnh sử dụng ma túy chất dạng amphetamine xuất hiện trạng thái kích thích tâm thần:
- Cảm xúc hưng phấn quá mức kiểm soát
- Hoang tưởng: Hoang tưởng cũng rất phong phú, thường gặp là hoang tưởng bị hại, hoang tưởng mang tính chất kì dị Hoang tưởng cũng là nguyên nhân gây rối loạn cảm xúc, hành vi của người bệnh
- Hành vi: Người bệnh thường có hành vi nguy hiểm, gây rối trật tự, tấn công, hành vi kì dị [6]
b Rối loạn tâm thần giai đoạn hội chứng cai ma túy chất dạng amphetamine
Hội chứng cai ma túy chất dạng amphetamine biểu hiện chủ yếu là triệu chứng suy nhược và trầm cảm Sau giai đoạn kích thích do nhiễm độc cấp người bệnh rơi vào trạng thái kiệt năng lượng và trầm cảm
Triệu chứng lo âu cũng thường gặp người bệnh ngủ nhiều, ít hoạt động, có những giấc mơ kì dị [10]
c Rối loạn tâm thần do nhiễm độc mạn tính ma túy chất dạng amphetamine
Nhiễm độc mạn tính ma túy chất dạng amphetamine gây rối loạn chức năng não
có thể gây rối loạn tâm thần Các triệu chứng rối loạn tâm thần do nhiễm độc mạn tính thường kéo dài sau khi hết hội chứng cai sinh lý
- Cảm xúc: Triệu chứng phong phú, thường biểu hiện bằng cảm xúc không ổn định, dễ cáu giận bùng nổ
- Tri giác: Thường gặp là ảo thanh, ảo thị nội dung phong phú
Trang 21- Tư duy: Triệu chứng rất phong phú Người bệnh có thể có những ý nghĩ kì dị,
tư duy hưng phấn hay ức chế Thường gặp các hoang tưởng bị hạn, bị theo dõi, hoang tưởng kỳ quái
- Hành vi: Hành vi rối loạn thường do ảo giác và hoang tưởng chi phối: Kích động, gây hấn, hành vi kì dị
* Rối loạn nhân cách
Nhân cách người bệnh nghiện ma túy nói chung và nghiện ma túy chất dạng am phetamine nói riêng thường là nhân cách chống đối xã hội: Chống lại những chuẩn mực xã hôi, những nội quy, phản ứng mang tính bùng nổ dữ dội
1.1.6.5 Nguyên tắc can thiệp, điều trị nghiện chất dạng Amphetamine
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo việc điều can thiệp, điều trị nghiện chất Amphetamine cần tuân theo các nguyên tắc sau:
Rối loạn sử dụng chất Amphetamine mặc dù phức tạp nhưng có thể được điều trị
và tác động đến não bộ, hành vi của người bệnh
Cần tiến hành sàng lọc, đánh giá, chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị cụ thể trước khi can thiệp
Can thiệp lạm dụng chất Amphetamine cần phải dựa trên bằng chứng
Không có hình thức can thiệp nào đáp ứng tốt với tất cả trường hợp bệnh nhân Các can thiệp điều trị nghiện chất phải sẵn có
Để đáp ứng nhu cầu thay đổi của từng người bệnh, cần đánh giá và điều chỉnh kế hoạch điều trị liên tục
Huy động gia đình và cộng đồng tham gia điều trị hướng đến lợi ích của người bệnh
Điều trị nghiện chất dạng Amphetamine
Tùy vào mục đích điều trị có các biện pháp can thiệp khác nhau như:
Điều trị ngộ độc hoặc quá liều sử dụng Amphetamine: Điều trị bằng thuốc
Điều trị làm giảm sử dụng Amphetamine: Dùng thuốc hoặc các liệu pháp tâm lý
xã hội
Điều trị rối loạn tâm thần trên bệnh nhân sử dụng Amphetamine: Dùng thuốc hoặc các liệu pháp tâm lý xã hội
Trang 22Các loại thuốc làm giảm sử dụng ma túy Amphetamine
Mặc dù, việc sử dụng thuốc để điều trị nghiện các chất dạng Amphetamine là chưa rõ ràng, tuy nhiên, có thể sử dụng một số loại thuốc để làm giảm lượng Amphetamine sử dụng, bao gồm:
D-amphetamine: Giảm nhẹ triệu chứng cai và mức độ nghiện, tuy nhiên lại không làm giảm số lần sử dụng
Methylphenidate: Giảm lượng sử dụng ma túy Amphetamine, đã được đánh giá cách tiêm tĩnh mạch và test nước tiểu cho kết quả âm tính
Bupropion: Giảm sử dụng Amphetamine trên bệnh nhân dùng với lượng ít
Mirtazapine: Giảm sử dụng Amphetamine kết hợp với tư vấn, được đánh giá bằng test nước tiểu cho kết quả âm tính, giảm hành vi tình dục nguy cơ cao
Naltrexone: Giảm sử dụng Amphetamine và có thể giúp giữ bệnh nhân không sử dụng
Liệu pháp tâm lý xã hội trong điều trị nghiện chất dạng Amphetamine
Việc lạm dụng các chất Amphetamine dẫn đến nghiện có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có các yếu tố tâm lý xã hội như mâu thuẫn gia đình, bạn bè,
là người buôn bán hoặc có hành vi sử dụng ma túy Khi đó, các liệu pháp tâm lý được thiết kế và đưa vào điều trị phù hợp với từng bệnh nhân.Trong quá trình can thiệp điều trị nghiện chất bằng các liệu pháp tâm lý, cần chú ý:
Giúp người bệnh hiểu được tác hại của các chất Amphetamine, vì vậy cần phải giữ không sử dụng, giúp người bệnh thiết lập mục tiêu cuộc sống
Bên cạnh tư vấn, cần phải quan tâm tới các vấn đề khác của người bệnh bao gồm hôn nhân, gia đình, công việc, tình trạng kinh tế và các mối quan hệ xã hội
Tạo dựng môi trường không kỳ thị bằng cách tư vấn cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp để hỗ trợ người bệnh
Can thiệp điều trị nghiện chất dạng Amphetamine bằng các liệu pháp tâm lý xã hội gồm có:
Tư vấn ngắn: Giúp người bệnh hiểu được tác động, ảnh hưởng của chất
Amphetamine
Can thiệp ngắn: Khuyến khích, động viên người bệnh điều trị tại cơ sở tuyến cao Can thiệp chuyên sâu Matrix đối với bệnh nhân ngoại trú: Giúp người bệnh phát triển các kỹ năng cần thiết để ngừng sử dụng và không tái sử dụng ma túy tổng hợp nói chung, chất dạng Amphetamine nói riêng
Trang 23Liệu pháp nhận thức hành vi: Giúp người bệnh thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và hành vi liên quan đến việc sử dụng chất dạng Amphetamine
Liệu pháp cộng đồng: Dựa vào cộng đồng hoặc các nhóm tự lực làm liệu pháp điều chỉnh hành vi
Chương trình phục hồi tích cực: Gia đình và cộng đồng kết hợp như liệu pháp điều chỉnh hành vi
Liệu pháp can thiệp gia đình: Vai trò của gia đình được nâng cao trong quá trình phục hồi sau điều trị nghiện chất dạng Amphetamine của người bệnh
Liệu pháp 12 bước: Dựa trên nguyên tắc 12 bước và nguyên tắc tự trợ giúp để trao quyền tự phát triển cho người bệnh
Quản lý trường hợp: Những trường hợp bệnh nhân có nhu cầu điều trị hiệu quả được quản lý phù hợp
Phỏng vấn tạo động lực và liệu pháp nâng cao động lực: Thông qua quá trình tự nhận thức giúp nâng cao điều chỉnh hành vi
Quản lý hành vi tích cực: Sử dụng phần thưởng kết hợp với các mô hình điều trị khác để củng cố việc ngừng sử dụng ma túy tổng hợp
Liệu pháp tâm lý xã hội được sử dụng điều trị nghiện chất
Ngoài ra, một số phương pháp khác như châm cứu hoặc điều trị bằng y học cổ truyền cũng đã được áp dụng như biện pháp hỗ trợ điều trị hoặc khuyến khích người bệnh tham gia điều trị
Điều trị nghiện chất dạng Amphetamine có thể là điều trị các triệu chứng ngộ độc hoặc quá liều sử dụng, điều trị làm giảm lượng sử dụng, điều trị rối loạn tâm thần trên bệnh nhân sử dụng chất dạng Amphetamine
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quy trình hướng dẫn chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy của Bộ Y tế
- Mục đích:
+ Giúp người bệnh vượt qua giai đoạn cai đỡ đau đớn, vật vã, khó chịu
+ Nâng đỡ thể trạng trong quá trình cai
+ Tạo cho người bệnh ý chí để khi ra viện có phương pháp, nghị lực chống tái nghiện
- Các bước chăm sóc:
+ Phải có phòng tiếp đón riêng biệt, kiểm tra kỹ tư trang, thay toàn bộ quần áo, giày dép, đồ dùng cá nhân để loại trừ ma túy
Trang 24+ Hướng dẫn nội quy của khoa, phòng và Bệnh viện
+ Ký vào đơn xin cai nghiện ma túy tự nguyện trong Hồ sơ bệnh án
+ Giúp người bệnh lấy nước tiểu tìm chất gây nghiện
+ Đưa người bệnh đi làm các xét nghiệm cận lâm sàng: Xét nghiệm máu, HIV, X-quang, điện não đồ, test tâm lý
+ Quản lý không để người bệnh tiếp xúc với bên ngoài phòng tiếp tế chất gây nghiện
Hầu hết khi người bệnh thiếu ma túy đều chống đối điều trị: Bỏ chạy, lẩn trấn, phá phách, đánh lại nhân viên, gây hấn
+ Kiên trì giải thích, động viên, cảm thông với cơn đau đớn của người bệnh, không xa lánh người bệnh, luôn phải tiếp cận với người bệnh, xoa bóp cho người bệnh
+ Nếu có tình trạng nguy kịch phải báo cáo với bác sĩ kịp thời để xử trí
+ Đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho người bệnh, tăng cường hoa quả, chất dinh dưỡng
+ Nhân viên trực theo dõi sát người bệnh uống thuốc, các hội chứng cai, theo dõi chức năng sống theo chỉ định
+ Phát hiện những hành vi của người bệnh, quan hệ xung quanh, người thân đến thăm có những khả năng mang ma túy vào cho người bệnh
+ Trường hợp người bệnh chống đối không chấp nhận cai báo bác sĩ giải quyết kịp thời
+ Ghi nhận xét diễn biết bất thường, hội chứng cai vào phiếu theo dõi, phiếu chăm sóc điều dưỡng [4]
1.2.2 Các bước chăm sóc người nghiện ma túy chất dạng amphetamine
Cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine là một lĩnh vực chăm sóc đặc thù mới Hiện nay, Bộ Y tế chưa có hướng dẫn quy trình chăm sóc riêng cho người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine [4]
Tổng hợp một số y văn liên quan đến biểu hiện lâm sàng và điều trị người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine Theo đa số các tác giả điều trị cai nghiện
Trang 25ma túy chất dạng amphetamine chia làm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có những biểu hiện lâm sàng và nhu cầu chăm sóc khác nhau
1.2.2.1 Giai đoạn nhập viện
Theo một số tác giả, người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine thường nhập viện trong tình trạng rối loạn tâm thần, chống đối vào viện, kích động, nên người bệnh không làm chủ được bản thân, cai nghiện chủ yếu theo yêu cầu điều trị rối loạn tâm thần và đề nghị của gia đình người bệnh Chính vì vậy, việc chăm sóc người bệnh nghiện ma túy chất dạng amphetamine khác với nghiện ma túy nhóm thuốc phiện (người nghiện ma túy nhóm thuốc phiện nhập viện điều trị chủ yếu là tự nguyện cai)
Với những đặc điểm trên, nhu cầu chăm sóc người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine có những đặc điểm riêng
Ngoài những nhu cầu chăm sóc chung đối với người bệnh nội khoa và cai nghiện
ma túy, người bệnh cai nghiện ma túy chất dạng amphetamine cần được chăm sóc như một trạng thái loạn thần cấp hoặc tình trạng kích động hay hành vi nguy hiểm, cần chăm sóc theo dõi toàn diện:
- Theo dõi toàn diện: Rối loạn tâm thần, hội chứng cai, theo dõi chung
- Thái độ tâm lý tiếp xúc cần nhẹ nhàng, hạn chế phản ứng kích động của người bệnh
- Các y lệnh thường phải thực hiện: Cố định, tiêm, truyền, phụ giúp lấy xét nghiệm cấp
- Quản lý người bệnh chặt chẽ
1.2.2.2 Giai đoạn cai cắt cơn
Theo đa số các tác giả, giai đoạn này thường bắt đầu từ sau 48 giờ ngừng sử dụng ma túy chất dạng amphetamine, trạng thái cai có thể kéo dài từ 5 đến 10 ngày Đặc điểm lâm sàng giai đoạn này chủ yếu là hội chứng cai và các triệu chứng trầm cảm, suy nhược Giai đoạn này cũng có thể có một số hoang tưởng, ảo giác và
có thể có hành vi kích động chống đối, không chấp hành điều trị
Trang 26Ngoài những nhu cầu chăm sóc chung, giai đoạn này người bệnh cai ma túy chất dạng amphetamine cần được theo dõi tình trạng rối loạn tâm thần, đặc biệt theo dõi tránh các tai biến do rối loạn tâm thần và rối loạn cơ thể gây nên
Việc chăm sóc, ăn uống cũng cần được quan tâm vì người bệnh thường ăn kém, ngủ lịm cả ngày
1.2.2.3 Giai đoạn hậu cai
Giai đoạn này thường sau 10 ngày nhập viện Theo đa số các y văn, giai đoạn này người bệnh có những biểu hiện diễn biến tâm lý, lâm sàng:
- Thèm ma túy chất dạng amphetamine, đòi ra viện, chống đối điều trị
- Người bệnh nghiện ma túy chất dạng amphetamine thường có rối loạn nhân cách với nhân cách chống đối xã hội vì vậy thường không chấp hành nội quy điều trị, kết thành nhóm chống đối nội quy và nhân viên
- Có thể tồn tại một số rối loạn tâm thần: Lo âu, trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác [8]
1.2.3 Xây dựng kế hoạch chăm sóc theo giai đoạn đối với người bệnh nghiện chất dạng amphetamine
* Giai đoạn nhập viện:
Người bệnh nhập viện thường trong tình trạng bắt buộc: Kích động, chống đối vào viện, rối loạn cảm xúc hành vi, gây hấn xung quang chiếm tỷ lệ cao: 68,2% người bệnh phải cố định, 100% người bệnh có y lệnh tiêm, truyền tĩnh mạch, 61,4% người bệnh phải thông tiểu lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm
Cần có các hành động chăm sóc:
+ Chủ động can thiệp khi có chống đối, kích động
+ Giải thích cho gia đình người bệnh người bệnh cố định là thủ thuật, tránh gây phản ứng, hiểu sai từ phía gia đình người bệnh
+ Hỗ trợ, giúp đỡ vệ sinh cá nhân, thay quần áo cho người bệnh
+ Phụ giúp bác sĩ thăm, khám bệnh
+ Hỗ trợ kỹ thuật viên lấy bệnh phẩm xét nghiệm
+ Thực hiện các y lệnh tiêm, truyền tĩnh mạch với 100% người bệnh
+Thực hiện các y lệnh khác (thông tiểu, thay băng, theo dõi hành vi )
Trang 27ủi động viện, theo dõi sát người bệnh Hướng dẫn người nhà chế biến thức ăn hợp khẩu vị, thức ăn mềm dễ tiêu đảm bảo vệ sinh, tránh các chất kích thích
* Giai đoạn hội chứng cai
Giai đoạn này các triệu chứng tâm thần giảm tuy nhiên vẫn còn 38,6% người bệnh chống đối điều trị, 25 % người bệnh kích động nhưng nhất thời Hội chứng trầm cảm 59,1%, ức chế vận động chiếm tỷ lệ cao 72,7%
Vì vậy ngoài những hành động chăm sóc chung cần phải:
+ Theo dõi sát các biểu hiện rối loạn tâm thần: lo âu, trầm cảm, chán nản, bi quan dẫn đến ý tưởng và hành vi tự sát của người bệnh
+ Hỗ trợ tinh thần, ăn uống, vệ sinh cá nhân cho người bệnh
+ Tăng cường, giúp đỡ, hỗ trợ cho người bệnh hoạt động, vận động (sinh hoạt nhóm, phục hồi chức năng ) vì giai đoạn này người bệnh mệt mỏi, ngủ nhiều, lười vận động
+ Động viên người bệnh cố gắng điều trị, giải thích tác hại và hậu quả của sử dụng ATS gây lên những hoang tưởng, ảo giác dẫn đến những hành vi nguy hiểm cho bản thân, gia đình, xã hội [10]
- Giáo dục sức khỏe
+ Với người bệnh:
Giữ đúng nội quy, tham gia các loại hình thể dục thể thao đều đặn, kiên trì điều trị Khi ra viện về nhà cần phải kiên trì điều trị và tập luyện, quyết tâm không sử dụng
ma túy nữa Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ
Nói chuyện với người bệnh về tác hại của ma túy, đặc biệt là ma túy chất dạng amphetamine
Tác hại đối với cơ thể
Trang 28Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp gây tăng tần số thở trong thời gian ngắn, sau đó sẽ gây ức chế hô hấp nhất là khi sử dụng quá liều Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn tới tử vong
Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn
có thể gây nhồi máu cơ tim Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp tim đe dọa tính mạng người dùng ma túy Ngoài ra còn gây nên tình trạng co mạch làm tăng huyết áp
Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc cũng có thế gây các tai biết như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quỵ
Ảnh hưởng đến bản thân
Làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh
bị tổn hại Dùng ma túy quá liều có thể dẫn đến tử vong
Tiêm chích ma túy dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm virut B,C đặc biệt là virut HIV và lây truyền cho vợ chồng con cái họ Thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật Mâu thuẫn
và bất hòa với bạn bè, thầy cô giáo và gia đình Mất lòng tin với mọi người, dễ bị người khác lợi dụng, học tập giảm sút hoặc bỏ học, ảnh hưởng đến tương lai, tiền đồ nếu đã có việc làm thì dễ bị mất việc làm
Ảnh hưởng đến gia đình
Làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình Nhu cầu cần tiền để mua ma túy của người nghiện là rất lớn, mỗi ngày từ 50.000-100.00 đồng thậm chí 1.000.000-2.000.000 đồng/ ngày Vì vậy khi lên cơn nghiện người nghiện ma túy có thể tiêu tốn hết tiền của, tài sản, đồ đạc của gia đình vào việc mua ma túy để thỏa mãn cơn nghiện của mình
Sức khỏe các thành viên khác trong gia đình giảm sút (lo lắng, mặc cảm, ăn không ngon, ngủ không yên vì trong gia đình có người nghiện) Gây ổn thất về tình cảm (thất vọng, buồn khổ, hạnh phúc gia đình tan vỡ, ly thân, ly hôn, con cái không