1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh cao bằng

106 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phòng Ngừa Rủi Ro Hoạt Động Tại Ngân Hàng Thương Mại
Trường học Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam
Thể loại bài luận
Thành phố Cao Bằng
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

““- Các lỗi sản phẩm; “ “- Không thực hiện điều tra tìm hiểu khách hàng theo đúng quy định…“ “* Thiệt hại về tài sản vật chất: Là các tổn thất phát sinh do mất mát hoặc hư hỏng tài sản

Trang 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG NGỪA RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 “Tầm quan trọng của phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại“

1.1.1 Khái niệm rủi ro hoạt động tại ngân hàng Thương mại

Rủi ro hoạt động, còn được gọi là rủi ro tác nghiệp hay rủi ro vận hành, là loại rủi ro có mặt trong hầu hết các hoạt động của ngân hàng nhưng lại khó lường nhất Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam và trên thế giới

đã phải gánh chịu những tổn thất không nhỏ do rủi ro hoạt động, ảnh hưởng rất lớn đến

uy tín và tài sản của NHTM.

Rủi ro hoạt động (RRHĐ) luôn hiện hữu hầu như trong tất cả các giao dịch và hoạt động của NHTM Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không đầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín” Rất nhiều

vụ RRHĐ nổi tiếng xảy ra gần đây trên thế giới và ở Việt Nam như vụ rủi ro tại Ngân hàng Societe Generale của Pháp năm 2008 làm thiệt hại 4,9 tỷ EUR Hoặc vụ việc nhân viên điểm giao dịch của một NHTM nhà nước giả mạo chữ ký khách hàng “thụt két” tới 24 tỷ đồng Tổ trưởng tổ kế toán một điểm giao dịch một NHTM cổ phần biển thủ 7 tỷ đồng cá độ bóng đá Cán bộ kho quỹ một NHTM cổ phần rút ruột 1,28 tỷ đồng

và 8 nghìn USD trái phiếu là tài sản cầm cố của khách hàng để chơi chứng khoán Thanh toán viên chọn nhầm loại tiền từ VND thành AUD Khách hàng chuyển 4 triệu VND bị hạch toán thành 4 triệu AUD (tương đương 48,5 tỷ VND).

Ủy ban Basel đã nhấn mạnh trong Basel II về vấn đề RRHĐ và quản trị RRHĐ của các NHTM bên cạnh hai loại rủi ro truyền thống là rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường (4 Nguyên nhân có thể gây ra RRHĐ như con người (nhân viên gian lận, cố

ý làm sai, NHTM mất hoặc thiếu nhân lực chủ chốt); quy trình (văn bản hợp đồng không đầy đủ, thiếu hướng dẫn; việc tuân thủ nội bộ và bên ngoài kém; sản phẩm quá

Trang 2

phức tạp hoặc tư vấn tồi), hệ thống (đầu tư công nghệ không phù hợp, lỗi tích hợp từ vận hành hệ thống, lỗ hổng an ninh hệ thống) Và các yếu tố bên ngoài (các hành vi tội phạm, việc sử dụng nguồn lực bên ngoài không hợp lý, thảm họa, cơ sở hạ tầng chung kém) RRHĐ có thể mang lại những tổn thất rất lớn cho NHTM như: các trách nhiệm pháp lý gây ra cho NHTM, tài sản hoặc uy tín của NHTM bị tổn thất hay mất mát, giảm vốn kinh doanh hay mất vốn, giảm lợi nhuận …

Trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập; công nghệ ứng dụng trong ngân hàng ngày càng hiện đại và đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính hiện nay, ngành ngân hàng cần phải cải cách mạnh mẽ để tăng cường quản trị rủi ro hoạt động Ủy ban Basel đã đưa vấn đề rủi ro hoạt động vào nội dung sửa đổi Basel II Hiện nay, nhiều ngân hàng trên thế giới đã áp dụng các biện pháp hiện đại để quản trị rủi ro hoạt động

Thời gian gần đây, các ngân hàng Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của

hệ thống quản trị rủi ro cũng như mối liên hệ giữa quản trị rủi ro và lợi nhuận Một ngân hàng quản lý rủi ro tốt, nghĩa là ngân hàng đó có sức đề kháng tốt, ít bị ảnh hưởng bởi những tác động không lường trước và có khả năng đưa ra những hành động kịp thời, hạn chế thấp nhất những tổn thất cho ngân hàng Quản lý rủi ro hoạt động là một nghiệp vụ không xa lạ đối với các nước tiên tiến nhưng với các ngân hàng ở Việt Nam thì những năm gần đây các ngân hàng mới quan tâm và bắt đầu nghiên cứu, ứng dụng Các nhà nghiên cứu

ở một số nước tiên tiến đã tính toán ảnh hưởng định tính bị mất vì rủi ro hoạt động trong các ngân hàng thương mại thông thường là 10% lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh - Theo nghiên cứu ảnh hưởng định tính của Uỷ ban Basel Mặt khác rủi ro hoạt động còn ảnh hưởng đến uy tín của một ngân hàng thương mại nếu như nó không được quản trị tốt, nếu mất uy tín trên thị trường thì việc kinh doanh sẽ trở nên rất khó khăn

Ngoài ra, trong xu thế phát triển của thời đại hiện nay, rủi ro hoạt động dường như tiếp tục tăng cao do: Môi trường kinh doanh phức tạp hơn, hành vi trái pháp luật tăng lên, hội nhập kinh tế ngày một tăng cả về quy mô và hình thức dẫn đến áp lực trong công việc của các banker, đòi hỏi kết quả làm việc phải cao hơn, đòi hỏi lòng trung thành của nhân viên cũng như sự quan tâm của các nhà lãnh đạo nhiều hơn Sự phụ thuộc vào công nghệ nhiều hơn, tốc độ và khối lượng giao dịch cần tăng hơn.

Trang 3

Với những lí do trên cho thấy việc quản trị rủi ro hoạt động của các ngân hàng ngày càng trở nên cấp thiết đối với xu thế hội nhập quốc tế ngày nay của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Trong một Tổ chức Tài chính nói chung và hệ thống Ngân hàng nói riêng, khái niệm về RRHĐ đã được phát triển trong thời gian dài với xuất phát điểm từ các nghiên cứu của các nhà khoa học lớn trên thế giới Theo Cooke (2004); Raz, T.,& Hillson (2005), RRHĐ được định nghĩa là những rủi ro liên quan đến những tổn thất mà nguyên nhân là do thiếu hiệu quả trong quá trình hoạt động của một tổ chức bao gồm chất lượng, môi trường, sức khỏe nghề nghiệp Theo Frame (2002), RRHĐ liên quan đến quá trình thiết lập Quy trình, không phải đơn thuần là các quản lý các sự vụ trong quá trình hoạt động Theo nghiên cứu của SAS (2007), RRHĐ là loại rủi ro khác biệt so vói các loại hình rủi ro khác, nếu như rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường được bao gồm trong rủi ro tài chính thì RRHĐ là rủi ro phi tài chính Rủi ro tài chính gây ra bởi sự biến đổi về mặt giá trị với xắc suất/khả năng xảy ra phá sản/vỡ nợ còn rủi ro phi tài chính gây

ra bởi chính các sự kiện RRHĐ RRHĐ theo các nghiên cứu trước đây chỉ được coi là phạm trù của rủi ro khác trong ngân hàng sau khi tính toán đến rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng Sau hàng loạt các nghiên cứu liên quan đến rủi ro, tiến trình thay đổi của RRHĐ được thể hiện khá rõ trong các nghiên cứu của ủy ban Basel như sau:

Rủi ro tín dụng

Rủi ro kinh doanh

trong ngân hàng

Rủi ro tín dụng

Rủi ro thị trường

Rủi ro hoạt động

Rủi ro tín dụng

Rủi ro thị trường Rủi ro tín dụng

Ví dụ Rủi ro còn lại: rủi ro danh tiếng, rủi

ro chiến lược

Basel I (1988) Basel I (1995)

Basel II (2004)

Trang 4

Hình 1 1: Tiến trình thay đổi của RRHĐ trong các nghiên cứu của Ủy ban Basel“

Nguồn: UB Basel II

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với các nghiệp vụ chủ yếu là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi đề cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ Ngân hàng khác

Rủi ro là khả năng các sự kiện, được dự đoán trước hay bất ngờ, có thể gây ra tác động bất lợi đối với vốn hay thu nhập của Ngân hàng.

Tuỳ theo từng cách tiếp cận mà rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng được phân thành nhiều loại khác nhau, song theo cách phân loại chung nhất (Uỷ ban Basel) thì rủi

ro Ngân hàng được phân chia thành 3 loại cơ bản gồm: Rủi ro tín dụng; Rủi ro thị trường và Rủi ro hoạt động Các Ngân hàng thương mại Việt Nam đang dần tiếp cận với các khái niệm này và từng bước quản lý các loại hình rủi ro theo thông lệ.

Rủi ro hoạt động được định nghĩa là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc thất bại, hay do các sự kiện bên ngoài.

Rủi ro hoạt động là loại rủi ro liên quan đến nhiều yếu tố như: con người (cẩu thả, gian lận), hệ thống, qui trình, thủ tục nội bộ và cả các sự kiện bên ngoài Đây là các yếu tố đa dạng và thường xuyên biến đổi Vì vậy cùng với sự phát triển mở rộng phạm vi hoạt động sang nhiều lĩnh vực khác nhau, các NHTM phải hứng chịu sự gia tăng rất lớn của rủi ro hoạt động

Đôi khi rủi ro hoạt động bị trùng lặp với các loại rủi ro khác Ví dụ như gian lận thương mại (trường hợp của Barings Singapore) là loại rủi ro được giám sát bởi cán bộ quản lý rủi ro thị trường nhưng được phân loại thuộc rủi ro hoạt động bởi vì nguyên nhân chính của những tổn thất như vậy không phải là nhân tố thị trường mà là

do hoạt động sai trái trong hoạt động, trong trường hợp này là không thực hiện đúng quy trình Các ví dụ khác của hiện tượng trùng lặp là các tổn thất trong tín dụng do không xử lý đúng các khía cạnh pháp lý của tài sản đảm bảo, tổn thất do cán bộ ngân hàng quản lý khách hàng vay vốn trực tiếp thu nợ của khách hàng nhưng không nộp

Trang 5

vào Ngân hàng mà giữ lại để chi tiêu cá nhân

Rủi ro hoạt động được phân loại bởi nhiều tiêu chí, theo khái niệm được chia ra bởi Hiệp định Basel II (2004) Rủi ro hoạt động được chia theo nhiều nguyên nhân như sau:

Bảng 1 1: Danh mục phân loại rủi ro hoạt động theo Basel II

CON NGƯỜI

- Gian lận, giả mạo, trộm cắp

- Hành động sai thẩm quyền, không đúng quy định

- Tổ chức quản lý nguồn nhân lực không hiệu quả

QUY TRÌNH - Quy trình hoạt động không phù hợp

Cụ thể:

động cố ý gian lận, biển thủ tài sản hoặc không tuân thủ các quy định, luật hay các quy định của Ngân hàng và liên quan đến ít nhất một bên giao dịch Các hành vi gian lận nội bộ có thể là:

- Các giao dịch không báo cáo (có chủ ý);

- Các loại giao dịch trái phép (tổn thất vật chất) ;

- Ghi chép sai số liệu (có chủ ý);

- Gian lận tín dụng, các khoản tiền gửi giả tạo, vô giá trị;

Trang 6

- Trộm cắp, chiếm đoạt, biển thủ, cướp;

- Tham ô tài sản, cố ý huỷ hoại tài sản;

- Giả mạo séc, giả mạo giấy tờ;

- Dựa vào các thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi mua bán kiếm lời không qua tài khoản của Ngân hàng…

động có ý định gian lận, biển thủ tài sản hoặc không tuân thủ luật pháp của một bên thứ ba Các hành vi gian lận và tội phạm từ bên ngoài có thể là:

- Các hành vi trộm cắp và gian lận như: trộm cắp, cướp, giả mạo giấy tờ, giả mạo séc …

- Các hành vi đe dọa sự an toàn của hệ thống thông tin như: xâm nhập và phá huỷ hay gây trục trặc hệ thống dữ liệu; Trộm cắp thông tin dẫn tới tổn thất vật chất…

* Các nguyên tắc làm việc của nhân viên và sự an toàn ở nơi làm việc:

Là nguy cơ xảy ra tổn thất phát sinh từ các hành động trái pháp luật hoặc các thoả thuận về lao động, sức khoẻ, an toàn; từ việc thanh toán các khoản đòi bồi thường tai nạn cá nhân Các hành động cụ thể bao gồm:

- Các vi phạm về vấn đề lương bổng, quyền lợi, chấm dứt hợp đồng lao động; Các hoạt động có tổ chức của người lao động.

- Các vi phạm về môi trường an toàn như: Vi phạm trách nhiệm chung về đảm bảo môi trường an toàn, vi phạm các quy tắc an toàn và sức khoẻ người lao động;

* Hành động sai trái liên quan đến khách hàng, sản phẩm và thông lệ kinh doanh:

Là nguy cơ xảy ra tổn thất phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ đối với các đối tượng khách hàng cụ thể do sơ xuất hoặc cẩu thả (bao gồm các yêu cầu về ủy thác

và khả năng thích ứng với yêu cầu của khách hàng), hoặc phát sinh từ bản chất hay cấu trúc của một sản phẩm Các hoạt động cụ thể làm phát sinh loại rủi ro này bao gồm:

- Làm trái/vi phạm các quy định về uỷ thác.

- Vi phạm bí mật thông tin cá nhân.

- Sử dụng các thông tin mật không đúng chỗ.

- Vi phạm các thông lệ về thị trường và kinh doanh như: vấn đề chống độc quyền; Thực hiện các hoạt động kinh doanh không được phép; Tạo nên các biến động

Trang 7

trên thị trường để thu lời bất chính; Dựa trên những thông tin nội bộ để mua bán kiếm lời (trên tài khoản của công ty); Rửa tiền

- Các lỗi sản phẩm;

- Không thực hiện điều tra tìm hiểu khách hàng theo đúng quy định…

* Thiệt hại về tài sản vật chất: Là các tổn thất phát sinh do mất mát hoặc hư

hỏng tài sản vật chất vì thiên tai (động đất, lũ lụt…) hoặc các nguyên nhân khác (khủng bố, phá hoại…)

* Gián đoạn công việc kinh doanh và hệ thống không hoạt động: Là nguy cơ

xảy ra tổn thất phát sinh do kinh doanh bị gián đoạn hoặc nguyên nhân hỏng hệ thống thông tin như hỏng phần cứng, hỏng phần mềm; sự gián đoạn của các thiết bị viễn thông; của các nguồn năng lượng…

* Thực hiện, bàn giao và quản lý quy trình: là nguy cơ xảy ra tổn thất do trục

trặc trong xử lý giao dịch hay quản lý quy trình, phát sinh từ các mối quan hệ với các đối tác thương mại và bên bán Các ví dụ cụ thể về loại rủi ro này có thể là: Đối tác không phải là khách hàng hoạt động yếu kém; tranh chấp với đối tác không phải là khách hàng, tranh chấp với người bán

1.1.3 Đo lường rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại

Khi sự kiện rủi ro hoạt động xảy ra, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng sẽ

bị ảnh hưởng trực tiếp, đó có thể là ảnh hưởng tài chính hoặc phi tài chính, tùy thuộc vào mức độ và tần suất xảy ra của sự kiện rủi ro hoạt động đó, Ngân hàng sẽ đo lường RRHĐ và có những phương thức để quản lý RRHĐ phù hợp.

Hình dưới đây mô tả ảnh hưởng của sự kiện rủi ro hoạt động tới hoạt động của Ngân hàng:

Hành động ngăn chặn

Hành động khắc phục

Trang 8

Hình 1 2: Ảnh hưởng của sự kiện rủi ro hoạt động đến Ngân hàng

Mức

độ

Tần suất

Rủi ro hoạt động

Đo lường

Trang 9

Hình 1 3: Phương thức đo lường RRHĐ theo Basel II

Nguồn UB BaselII

Đo lường rủi ro hoạt động sẽ được các Ngân hàng thương mại thực hiện sau

khâu nhận diện Các phương pháp đo lường được sử dụng bao gồm: phương pháp định

tính và phương pháp định lượng.

Phương pháp đo lường định tính là việc phân tích đánh giá, nhận xét chủ quan của mỗi Ngân hàng thương mại về mức độ tốt - xấu, lớn - nhỏ; tính nghiêm trọng của các dấu hiệu rủi ro đã được xác định Phương pháp định tính được sử dụng để đo lường các rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc; liên quan đến chính sách và các quy trình nội bộ.

Phương pháp đo lường định lượng là việc đánh giá bằng số liệu cụ thể về mức

độ rủi ro (xác suất xảy ra), tổn thất cụ thể của từng loại dấu hiệu rủi ro đã được xác định Phương pháp này chủ yếu dựa vào các số liệu thống kê của Ngân hàng và được

sử dụng để đo lường rủi ro hoạt động liên quan đến các lĩnh vực như hệ thống thông tin; các gian lận nội bộ hoặc bên ngoài

Với phương thức đo lường được hướng dẫn trong Basel II như trên, để đo lường được việc đầu tiên các nhà quản trị quản lý rủi ro hoạt động cần làm là xác định được mức độ ảnh hưởng và tần xuất xảy ra sự kiện rủi ro hoạt động đó trong khoảng thời gian nhất định, công tác đo lường quản lý rủi ro hoạt động được thực hiện trong quá trình quản lý rủi ro hoạt động và kết quả đo lường là thước đo để các nhà quản trị Ngân hàng xác định lại mục tiêu QLRRHĐ phù hợp với hoạt động kinh doanh và từ

đó các nhà quản lý rủi ro hoạt động thực hiện hệ thống quản lý rủi ro hoạt động hiệu

Trang 10

quả tương ứng vói mục tiêu quản lý rủi ro hoạt động của ban lãnh đạo Ngân hàng.

1.1.4 Sự cần thiết và ý nghĩa của phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại

Như phần mở đầu tác giả đã phân tích, xu thế hội nhập Quốc tế đòi hỏi các ngân hàng Thương mại Việt nam phải đáp ứng các yêu cầu quản trị nói chung và quản trị rủi ro nói riêng theo chuẩn mực Quốc tế, đồng thời mở ra các cơ hội để ngành Ngân hàng có thể tiếp cận nhanh hơn các chuẩn mực đó Hiện nay bên cạnh nỗ lực giải quyết các khoản nợ xấu từ hoạt động cho vay trong quá khứ, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị những bước dài hơi hơn bằng cách xây dựng hệ thống quản trị rủi ro hoạt động, xây dựng khẩu vị rủi ro hoạt động nhằm xây dựng giới hạn khẩu vị chịu đựng rủi ro trong hoạt động của mình để đưa ra một hệ thống phòng ngừa rủi ro tiến gần tới thông lệ Quốc tế, từ đó đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh thay vì để xảy ra rủi ro hoạt động rồi mới đi khắc phục.

Hiệp ước Basel 2 là một thước đo chung để quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Một ngân hàng tuân thủ hiệp ước Basel 2 đồng nghĩa với việc có một hệ thống quản trị rủi ro tiên tiến, hiện đại, tuân thủ các tiêu chuẩn về rủi ro theo Basel 2 chính

là việc thực hiện chuẩn mực tối thiểu đánh giá rủi ro, trong đó có rủi ro hoạt động mà ngân hàng phải đối mặt để đảm bảo đủ vốn, tăng hiệu quả hoạt động nói chung.

Khi đã xác định được khẩu vị rủi ro, khả năng chịu đựng được các giới hạn rủi ro cũng như đưa ra một hệ thống cảnh báo rủi ro hoạt động, các ngân hàng lúc đó mới có thể nâng cao quy trình, kiểm soát và quản lý nguồn lực Giải quyết các vấn đề về rủi ro hoạt động nhờ việc phòng ngừa tốt không chỉ đơn giản là chi phí thực hiện kinh doanh mà còn là con đường để hiểu rõ hơn hoạt động kinh doanh ngân hàng ( Hiểu rõ chính mình)

Việc phòng ngừa rủi ro hoạt động

+ Giúp ngân hàng đề ra các chiến lược kinh doanh: Quản trị rủi ro hoạt động giúp các NHTM có thể dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra để chủ động có phương án đối phó nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro Từ đó xây dựng chiến lược kinh doanh cho phù hợp để đảm bảo mang lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng và hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra

Trang 11

+ Phát huy lợi thế cạnh tranh của ngân hàng: Trong điều kiện hội nhập hiện nay thì cạnh tranh luôn luôn hiện hữu trong tất cả các lĩnh vực, và hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế đó Để phát huy được lợi thế cạnh tranh thì các NHTM cần phải làm tốt công tác quản trị rủi ro để hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng

+ Đo lường vốn tối thiểu và khả năng thanh toán của ngân hàng: Quản trị rủi

ro hoạt động tốt giúp NHTM chủ động trong việc xác định và đo lường mức vốn tối thiểu cần cho hoạt động và đo lường được khả năng thanh toán của ngân hàng một cách chính xác nhất khi đã lượng hoá được những rủi ro có thể gặp phải

+ Giúp lãnh đạo ngân hàng đưa ra các quyết định: Quản trị rủi ro hoạt động tốt giúp cho lãnh đạo ngân hàng có thể chủ động trong việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro, từ

đó có thể đưa ra những quyết định quản trị phù hợp

+ Giúp các phòng, ban liên quan định giá lại các khoản mục kinh doanh: quản trị rủi ro giúp cho ngân hàng chủ động trong việc nhận biết, phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Qua đó các phòng ban có thể định giá lại các khoản mục kinh doanh để có phương án kinh doanh phù hợp

+ Báo cáo và kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng: báo cáo và kiểm soát rủi ro là việc làm quan trọng trong công tác QTRR; QTRR và lập báo cáo rủi ro gửi lên ban quản lý rủi ro thì việc kiểm soát rủi ro sẽ mang lại hiệu quả.

+ Giúp ngân hàng quản lý danh mục đầu tư trong giao dịch: đầu tư là một trong những hoạt động kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, vì thế việc xác định được danh mục đầu tư phù hợp là rất quan trọng

1.2 “Nội dung phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại“

1.2.1 Hoạch định chiến lược phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại

Trong Ngân hàng thương mại, tất cả các bộ phận đều có trách nhiệm phải thực

Trang 12

hiện đánh giá và xác định rủi ro nhằm phát hiện sớm, kịp thời những dấu hiệu rủi ro trong quá trình hoạt động của mình, phân tích, xác định mức độ ảnh hưởng và hậu quả

Nội dung của chiến lược phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro hoạt động gồm tập hợp các quyết định về khẩu vị rủi ro của ngân hàng thương mại trong dài hạn và các biện pháp, các hệ thống văn bản chế độ, hệ thống pháp luật và chế tài phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng thương mại Hay nói cách khác các loại rủi ro hoạt động mà ngân hàng chấp nhận được ngân hàng tính đến trong chiến lược kinh doanh của mình và cần được hiểu thấu đáo, đo lường được kiểm soát và nằm trong phạm vi khả năng sẵn sàng ứng phó với những bất lợi có thể chấp nhận được Ngân hàng có thể họat động tốt khi mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được nằm trong phạm vi khả năng nguồn lực tài chính của ngân hàng.

1.2.2 Tổ chức hệ thống phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại

Theo lịch sử của các Ngân hàng, một hệ thống quản lý rủi ro hoạt động đảm bảo được mục tiêu quản lý rủi ro hoạt động thì nhân tố đầu tiên mà Ngân hàng tính đến

là Quan điểm lãnh đạo về quản lý rủi ro hoạt động của ban lãnh đạo cấp cao của Ngân hàng đó thể hiện ở khẩu vị rủi ro hoạt động của Ngân hàng trong quá trình hoạt động

Từ đó, các chính sách về quản lý rủi ro hoạt động được triển khai và được giám sát một cách phù hợp.

Vì rủi ro là nhân tố trừu tượng, rủi ro là tiềm ẩn và nguy cơ có thể xảy ra, rủi

ro hoạt động mang phạm vi rộng và tần suất khá lớn, vì vậy quản lý rủi ro hoạt động cần liên tục và mang tính kịp thòi quản lý rủi ro hoạt động không chỉ được thực hiện

Trang 13

khi khủng hoảng xảy ra hay giải quyết những hậu quả của một sự kiện rủi ro haọt động

mà bản chất của quản lý rủi ro hoạt động là nắm bắt được rủi ro để các nhà kinh doanh, cổ đông kinh doanh trên rủi ro theo mức độ/khẩu vị rủi ro của Ngân hàng theo từng thời kỳ Hệ thống quản lý rủi ro hoạt động cần được phân tích từng các nhân tố

để đảm bảo hệ thống hoạt động đáp ứng được mục tiêu quản lý rủi ro hoạt động từng thời kỳ.

Đến nay, tổng hợp từ các tài liệu nghiên cứu, hệ thống QLRR nói chung được đánh giá bởi rất nhiều các quan điểm và gồm rất nhiều các nhân tố khác nhau Theo quan điểm của (Gardner & Winder 1997), việc sử dụng thực hiện một hoặc nhiều hệ thống quản lý hoạt động được coi là một cách chủ động để quản lý và giảm thiểu RRHĐ.

Theo Grabowski và Roberts (1999) cho rằng có 4 nhân tố quan trọng trong hệ thống QLRR là:

Cơ cấu tổ chức;

Truyền thông rủi ro;

Văn hóa doanh nghiệp;

Sự tin tưởng.

Galorath (2006) trọng tâm vào tầm quan trọng của QLRR, bản chất của QLRR

và đánh giá quá trình thực hiện QLRR, theo đó 5 nhân tố quan trọng cần lưu ý trong mỗi hệ thống QLRR được ông lập luận gồm:

Sự ủng hộ của ban lãnh đạo cấp cao về QLRR;

Cơ cấu tổ chức và Quy trình QLRR;

Sự tham gia của các nhân viên;

Trang 14

Đánh giá mức độ quan trọng của các rủi ro cần được quản lý;

Điều chỉnh các nội dung được phán đoán;

Quản lý sự thay đổi;

Mối liên hệ giữa rủi ro và kinh doanh;

Thách thức về văn hóa;

Các vấn đề về lương và chế độ đãi ngộ.

Theo quan điểm của Hasanali (2002), các nhân tố để hệ thống QLRR thành công

Quan điểm của Lãnh đạo về QLRR;

Văn hóa QLRR;

Cơ cấu tổ chức, vại trò trách nhiêm của các bộ phân;,

Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tín;

Phương pháp đo lường QLRR.

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO 9001: 2008, một số nhân tố chính trong hệ thống quản lý chất lượng được mô tả như sau:

Chiến lược quản lý của Ban lãnh đạo: Mục tiêu, định hướng và phương thức thực hiện Ban lãnh đạo cần thiết phải duy trì môi trường kiểm soát để đảm bảo đạt được mục tiêu định hướng.

Phương thức tiếp cận: Các quy trình/hoạt động được thiết lập để thực hiện.

Hệ thống hỗ trợ: Xây dựng hệ thống theo dõi và xử lý nhằm đảm bảo các mục tiêu được thiết lập.

Theo Quy định về Quản lý rủi ro (AS/NZS 4360: 2014) một số các nhân tố để đảm bảo sự thành công của quản lý rủi ro hoạt động là:

Sự rà soát và kiểm soát các quy trình hiện tại;

Kế hoạch quản lý rủi ro;

Sự ủng hộ của Ban lãnh đạo;

Chính sách về QLRR.

Theo COSO, 2004, Hệ thống QLRR được chia theo 3 chiều quản lý (i) Chiều quản lý đầu tiên thể hiện 4 mục tiêu quản lý rủi ro là chiến lược, hoạt động, báo cáo và

Trang 15

tuân thủ; (ii) Chiều quản lý thứ 2 được phân chia thực hiện theo các cấp của tổ chức bao gồm công ty con, các đơn vị kinh doanh, các phòng/ban và các cấp thực hiện; (iii) Chiều thứ 3 thể hiện các cấu phần của hệ thống QLRR bao gồm:

- Môi trường nội bộ: Xây dựng nền tảng về cơ cấu quản lý rủi ro tại tổ chức.

- Cài đặt mục tiêu: Đảm bảo các mục tiêu được quản lý rủi ro được liên kết với các mục tiêu chiến lược được thiết lập.

- Nhận diện sự kiện: Xác định các nhân tố bên trong, bên ngoài để có thể ảnh hưởng đến chiến lược và mục tiêu đã được thiết lập.

- Phản ứng rủi ro: Xác định hành động phù hợp đối vói rủi ro căn cứ trên các

sự kiện rủi ro, thực hiện các hành động phù họp vói khẩu vị rủi ro của tổ chức.

- Các biện pháp kiểm soát: Thiết lập và thực hiện các chính sách để đảm bảo các hành động phản ứng rủi ro có hiệu quả cho tổ chức nhằm giảm thiểu rủi ro.

- Thông tin và truyền thông: Thực hiện các biện pháp nhằm thông tín và truyền thông/đào tạo về các vấn đề liên quan đến rủi ro tói tất cả các đơn vị của tổ chức.

- Giám sát: Đảm bảo rằng tất cả các nội dung về công tác quản lý rủi ro hoạt động phải được thực hiện ở tất cả các đơn vị theo đúng các quy định đã được thiết lập

Theo các nghiên cứu sâu rộng về hệ thống quản lý rủi ro hoạt động của các tổ chức, Thitíma Pitínanondha (2008) đề xuất các nhân tố trong hệ thống quản lý rủi ro hoạt động và phân tích các mức độ quan trọng và tác động của các nhân tố này để đảm bảo hệ thống quản lý rủi ro hoạt động hiệu quả và chất lượng Các nhân tố đó là:

Lãnh đạo cấp cao;

Lập kế hoạch và liên kết chiến lược;

Thực hiện quản lý rủi ro hoạt động ;

Giám sát và cải tiến liên tục về quản lý rủi ro hoạt động ;

Đào tạo quản lý rủi ro hoạt động ;

Quản lý nguồn nhân lực quản lý rủi ro hoạt động ;

Trang 16

Sự trao quyền cho nhân viên;

Truyền thông quản lý rủi ro hoạt động

Theo Basel II hệ thống quản lý rủi ro hoạt động của Ngân hàng cần được lập thành văn bản rõ ràng Ngân hàng cần có thủ tục để đảm bảo tuân thủ vói hệ thống chính sách, kiểm soát và Qui trình nội bộ đã văn bản hóa liên quan đến hệ thống quản

lý rủi ro hoạt động , trong đó phải có các chính sách để xử lý các vấn đề không tuân thủ (BCBS 128, 663d) Hệ thống quản lý rủi ro hoạt động được thiết lập trong đó một

số nội dung quan trọng như:

- Khẩu vị RRHĐ: Là quan điểm của ngân hàng về các mức độ chấp nhận rủi

ro trong mỗi hoạt động nghiệp vụ Khẩu vị rủi ro thể hiện ý chí của ban lãnh đạo trong việc quản lý rủi ro hoạt động và thể hiện Quan điểm lãnh đạo về quản lý rủi ro hoạt động của BLĐ cấp caocủa BLĐ cấp cao.

Cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro hoạt động : Đưa ra những chức năng, nhiệm vụ của Ban lãnh đạo cũng như của từng cá nhân/đơn vị trong việc thực hiện quản lý rủi ro hoạt động đặc biệt là các vấn đề thiết lập, văn hóa QLRR, các vấn đề liên quan đến nhân sự quản lý rủi ro hoạt động

Quản trị rủi ro tại NHTM hiện đại tại việt Nam đang dần được tổ chức theo

mô hình “ 3 vòng kiểm soát” và “3 lớp phòng vệ” với các đặc điểm quan trọng như

sau:

- Vòng kiểm soát thứ nhất: Là nơi trực tiếp thực hiện quản lý rủi ro hoạt động trong quá trình kinh doanh hoặc hỗ trợ nghiệp vụ thuộc lĩnh vực đơn vị phụ trách.

- Vòng kiểm soát thứ hai: Là nơi đầu mối xây dựng, thiết lập các chính sách/chương trình và công cụ quản lý rủi ro hoạt động, truyền thông và đào tạo quản lý rủi ro hoạt động cho tất cả các đơn vị trong Ngân hàng.

- Vòng kiểm soát thứ ba: Là noi độc lập giám sát và đánh giá hiệu quả của các chính sách/chương trình và công cụ quản lý rủi ro hoạt động

- Quá trình thực hiện quản lý rủi ro hoạt động bao gồm: Nhận diện và đánh giá; Kiểm soát và báo cáo; Kiểm soát và giảm thiểu, duy trì hoạt động kinh doanh liên

Trang 17

tục thông qua các công cụ và chính sách quản lý rủi ro hoạt động như LDC (Thu thập

dữ liệu tổn thất), RCSA (Nhận diện rủi ro và đánh giá biện pháp kiểm soát), KRI (Chỉ

số rủi ro chính), thuê ngoài, bảo hiểm, kỉnh doanh liên tục, Phân tích kịch bản

- Trách nhiệm công bố thông tin: Đưa ra nguyên tắc về công bố thông tin quản

lý rủi ro hoạt động.

Trong dự thảo của NHNN đang lấy ý kiến của các NHTM về hệ thống QLRR:

“Hệ thống QLRR là tập hợp các Chính sách, Quy trình, Quy định nội bộ, kế hoạch dự phòng, cơ cấu tổ chức của Tổ chức Tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài được xây dựng và tổ chức thực hiện để QLRR trong hoạt động Ngân hàng của Tổ chức Tín dụng, Chi nhánh Ngân hàng Nước ngoài” Như vậy, theo dự kiến hệ thống QLRR (trong đó có quản lý rủi ro hoạt động) được đưa ra cũng bao gồm các nhân tố (i) Cơ cấu tổ chức (ii) Các Chính sách/Quy định/Quy trình và kế hoạch dự phòng Các nhân

tố này được thực hiện để đảm bảo mục tiêu QLRR của Ngân hàng Riêng đối vói quản

lý rủi ro hoạt động, Dự thảo cũng đưa các quy định về 3 vòng kiểm soát, cơ cấu tổ chức và quy định về nhận diện, đánh giá, đo lường, giảm thiểu, giám sát và báo cáo tương tự như các nguyên tắc đặt ra trong quản lý rủi ro hoạt động của Basel II, Dự thảo cũng đưa ra các quy định mà quản lý rủi ro hoạt động phải đáp ứng bao gồm:

Cơ cấu tổ chức;

Công cụ đánh giá RRHĐ và hướng dẫn thực hiện;

Khả năng chấp nhận RRHĐ (Khẩu vị rủi ro của BLĐ);

Phương pháp giám sát RRHĐ;

Hệ thống thông tin quản lý;

Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ;

Giám sát độc lập theo 3 vòng kiểm soát.

Dựa trên các nghiên cứu trên, có thể nhận thấy hệ thống quản lý rủi ro hoạt động đã được xác định vói nhiều các nhân tố khác nhau Từ quan điểm và mục tiêu chung về quản

lý rủi ro hoạt động, tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, hệ thống quản lý rủi ro hoạt động có thể bao gồm rất nhiều các nhân tố được thể hiện Các nhân tố nghiên cứu về quản lý rủi ro hoạt động được tổng hợp trong Bảng dưới đây:

Trang 18

Các nhân tổ Các nghiên cứu kiểm chứng

Quan điểm lãnh đạo về

QLRRHĐ của BLĐ cấp cao

Galorath (2006); Hasanali (2002); ISO 9001: 2008;

AS/NZS 4360: 2014; Thitíma Pitínanondha (2008);

Basel

Cơ cấu tổ chức Grabowski và Rochart (1999); Galorath (2006); Hasanali

(2002); Basel n; Prapawadee Na Ranong (2009)

Quá trình QLRR

Galorath (2006); Hasanali (2002); ISO 9001: 2008;

AS/NZS 4360: 2014;COSO: 2004; Thitíma Pitínanondha (2008); Basel II

Công nghệ thông tin Hasanali (2002); ISO 9001: 2008; Basel n; Prapawadee

Na Ranong (2009)

Đào tạo Thitima Pitínanondha (2008); Basel n; Prapawadee Na

Ranong (2009)

Truyền thông Grabowski và Rochart (1999); coso, 2004; Thitíma

Pitinanondha (2008); Prapawadee Na Ranong (2009) Văn hóa doanh nghiệp/Văn

hóa QLRR

Grabowski và Rochart (1999); Hasanali (2002); Basel n; Prapawadee Na Ranong (2009)

Sự tin tưởng/sự trao quyền

cho nhân viên

Grabowski và Rochart (1999); Galorath (2006); Thitima Pitinanondha (2008); Prapawadee Na Ranong (2009) Các nhân tố khác Galorath (2006); Hasanali (2002); ISO 9001: 2008; AS/NZS 4360:2014’

HÐQT giám sát rủi ro một cách tách biệt với Ban điều hành.

- Lớp phòng vệ thứ 1 - Bản thân các đơn vị kinh doanh có trách nhiệm quản lý rủi ro trong phạm vi đơn vị.

- Lớp phòng vệ thứ 2 - Bộ phận quản lý rủi ro tập trung và độc lập có trách nhiệm phát triển, duy trì và giám sát quản lý rủi ro toàn ngân hàng.

- Lớp phòng vệ thứ 3 - Bộ phận kiểm toán, kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động độc lập, giám sát đảm bảo tính tuân thủ với chiến lược, chính sách và các quy định quản trị rủi ro đã đặt ra

Trang 19

Hình 1 4: Mô hình quản trị rủi ro “3 lớp phòng vệ”

Nguồn: Tài liệu Quản trị rủi ro của IFC

Việc tổ chức hệ thống phòng ngừa rủi ro cụ thể được thực hiện theo trình tự:

- Ban hành, sửa đổi, bổ sung chính sách, quy định, quy trình nghiệp vụ cho phù hợp

- Tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ.

- Kế hoạch đào tạo hoặc tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ.

- Kế hoạch sửa chữa, khắc phục các sai sót.

- Các hành động phòng tránh rủi ro hoặc dừng hoạt động có thể gây ra rủi ro

Trang 20

- Mua bảo hiểm hoặc thực hiện các biện pháp khác để giảm thiểu rủi ro.

- Kế hoạch phân bổ vốn để phòng ngừa rủi ro hoạt động.

Toàn bộ hệ thống quản lý rủi ro hoạt động của Ngân hàng được khái quát thông qua sơ đồ sau:

Hình 1 5: Quy trình quản lý rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại

Nguôn: KPMG international 2007

1.2.3 Kiểm soát phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại

Hoạt động kiểm soát phòng ngừa hay còn gọi là kiểm soát trước rủi ro hoạt động nhằm tránh những sai sót trước khi nó được xảy ra trong các hoạt động ngân hàng thương mại Ví dụ như Danh sách ủy quyền ( Kiểm tra xem mã ủy quyền có đúng hay không), hạn chế truy cập bảo mật …

Thường thường, để giảm thiểu chi phí trong hoạt động đồng thời để thực hiện tốt nhất việc kiểm soát phòng ngừa rủi ro hoạt động, các ngân hàng thương mại thực

CÁC RỦI RO CÓ THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC

KIỂM SOÁT CÁC RỦI RO ĐÃ

NHẬN DIỆN

CÁC RỦI RO KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC

CHUYỂN GIAO CÁC RỦI RO

CHỦ YẾU

TRÁNH CÁC RỦI RO CHƯA

ĐƯỢC NHẬN DIỆN

Trang 21

hiện việc ủy quyền hợp lý các hoạt động giao dịch bởi các nhà quản lý không có đủ thời gian và nhân lực để kiểm soát đến từng cá nhân được, vì vậy, việc thiết lập cơ chế

ủy quyền cho phép nhân viên được quyền hoạt động trong khuôn khổ các quy định đó Việc ủy quyền hợp lý các hoạt động làm giảm cơ hội để thực hiện gian lận hoặc khanh vùng sai phạm dễ dàng.

Đồng thời việc giao quyền cũng có thể dễ dàng phân chia trách nhiệm trong khâu nhận diện những rủi ro dựa trên những dấu hiệu hoặc những hệ thống cảnh báo đối với mỗi một mức ủy quyền có những mức cảnh báo khác nhau Các nhà quản lý sẽ theo dõi các hệ thống cảnh báo và thực tế hoạt động để có thể biết trước các rủi ro hoạt động từ đó thực hiện các biện pháp ngăn ngừa ngay từ khi nó chưa xảy ra hoặc có thể biết rõ được nguyên nhân, trách nhiệm để từ đó áp dụng các biện pháp, chế tài xử lý hiệu quả.

1.3 “Nhân tố ảnh hưởng đến phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng thương mại“

1.3.1 Nhân tố thuộc về ngân hàng thương mại

* Nhận thức của Ban lãnh đạo cấp cao mỗi ngân về tầm quan trọng của quản

lý rủi ro hoạt động

Đặc thù của QLRRHĐ là quản lý quá trình hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng, trong quá trình cung cấp các dịch vụ, sản phẩm của Ngân hàng tới khách hàng cũng như việc thực hiện quản lý các hoạt động Ngân hàng, trường hợp quan điểm về rủi ro của Lãnh đạo Ngân hàng là cao thì các hoạt động của Ngân hàng được thực hiện

và kiểm soát trên quan điểm đó Do vậy, nhân tố đầu tiên trong hệ thống QLRRHĐ là nhân tố quan điểm Lãnh đạo về RRHĐ của Lãnh đạo Ngân hàng Quan điểm này được thể hiện trên rất nhiều phương diện đặc biệt là Mục tiêu QLRRHĐ và Tuyên bố khẩu

vị rủi ro của Ngân hàng đó, nó cũng đồng thòi được thể hiện trên các quyết định trong quá trinh điều hành và quản lý các hoạt động kinh doanh Mục tiêu và Khẩu vị rủi ro

có thể thay đổi trong từng thòi kỳ nhưng nó luôn song hành với hoạt động kinh doanh

và thể hiện ý chí của mỗi Ngân hàng về QLRRHĐ.

Đây là nhân tố đầu tiên thuộc nhóm các nhân tổ chủ quan có ảnh hưởng lớn

Trang 22

tới hiệu quả công tác quản lý rủi ro hoạt động của bản thân mỗi Ngân hàng cần phải nhắc tới Nếu Ban lãnh đạo cao cấp nhất của Ngân hàng coi nhẹ tầm quan trọng của công tác quản lý rủi ro hoạt động thì đội ngũ nhân viên Ngân hàng sẽ không quan tâm, thậm trí không thực hiện các quy định về quản lý rủi ro; đồng thời Chính bản thân Ngân hàng đó sẽ không có được các chính sách, quy trình quản lý rủi ro hoạt động tốt nhất.

* Mô hình tổ chức bộ máy Quản lý rủi ro hoạt động

Bộ máy tổ chức Ngân hàng (trong đó có bộ máy tổ chức của bộ phận quản lý rủi ro) phải sắp xếp một cách khoa học, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ phận trong từng đơn vị kinh doanh, trong toàn hệ thống của NHTM trên

cơ sở công nghệ hiện đại sẽ tạo điều kiện cho chính Ngân hàng trong việc nhận diện

đo lường rủi ro được chính xác, kịp thời Qua đó giúp cho Ngân hàng đưa ra được các biện pháp và tổ chức phân công thực hiện các hành động ngăn ngừa và giảm nhẹ rủi ro một cách hiệu quả nhất.

Theo Basel II (128) [41], “Ngân hàng cần có hệ thống QLRRHĐ có qui định rõ ràng các trách nhiệm được giao cho bộ phận QLRRHĐ Bộ phận QLRRHĐ chịu trách nhiệm xây dựng các chiến lược để nhận diện, đánh giá, giám sát và kiểm soáưgiảm thiểu RRHĐ, hệ thống hóa các chính sách và Quy trình liên quan đến QLRRHĐ và các biện pháp kiểm soát rủi ro ở cấp toàn hàng; xây dựng và triển khai phương pháp luận đánh giá rủi ro của Ngân hàng và thiết kế và triển khai hệ thống báo cáo RRHĐ”

“ Vận hành cơ cấu tổ chức QLRRHĐ được thiết lập cần đảm bảo cơ cấu tổ chức

QLRRHĐ được thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ của từng cá nhân/đơn vị và mỗi cá nhân, đơn vị đáp ứng được về mặt năng lực, kinh nghiệm theo đúng yêu cầu đặt ra trong cơ cấu tổ chức QLRRHĐ Trên cơ sở đó Basel II [38] đã nêu ra các khuyến nghị cần thực hiện trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức QLRRHĐ cho mỗi Ngân hàng phải có đầy đủ các thành phần như sau:

“ỦybanQLRR “

“Bộ phận QLRRHĐ độc lập “

Trang 23

“Bộ phận kiểm soát tuân thủ độc lập “

“Bộ phận kiểm toán nội bộ “

“Các đơn vị chức năng liên quan đến QLRR “

BLĐ cấp cao cần đảm bảo rằng các cán bộ chịu trách nhiệm về quản lý rủi ro hoạt động phối hợp và trao đổi hiệu quả vói các cán bộ chịu trách nhiệm quản lý rủi ro tín dụng, thị trường, và các rủi ro khác, cũng như vói những cán bộ chịu trách nhiệm mua sắm các dịch vụ bên ngoài như chuyển giao rủi ro bảo hiểm và họp đồng thuê ngoài Nếu không làm như vậy có thể dẫn đến những chênh lệch đáng kể hoặc chồng chéo trong chương trình quản lý rủi ro tổng thể của Ngân hàng.

Như vậy, về mặt bản chất, cơ cấu tổ chức của QLRRHĐ là việc phân chia trách nhiệm của các cá nhân và tổ chức trong việc thực hiện QLRRHĐ trong Ngân hàng Cơ cấu tổ chức QLRRHĐ xác định năng lực kinh nghiệm cần phải có để đáp ứng vai trò, trách nhiệm của từng cá nhân/đơn vị trong hệ thống QLRRHĐ. “h

Cơ cấu tổ chức QLRRHĐ trong nghiên cứu này được đánh giá mức độ quan trọng thông qua các tiêu chí (i) thiết lập vai trò, chức năng rõ ràng (ii) năng lực, kinh

nghiệm của từng vị trí (iii) vận hành các chức năng nhiệm vụ theo đúng cơ cấu tổ chức

QLRRHĐ được thiết lập.

* Chính sách, quy trình quản lý rủi ro hoạt động của Ngân hàng

Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một Ngân hàng có thể vận dụng để đảm bảo rằng quản lý và phòng ngừa rủi ro hoạt động hiệu quả là phải thiết lập một chính sách hay khung quản lý rủi ro hoạt động bằng văn bản Khung quản lý rủi ro hoạt động bao gồm các yếu tố như: Mức chấp nhận rủi ro; phương pháp và quy trình nhận diện, đo lường rủi ro; các biện pháp ngăn ngừa rủi ro…

Hiệu quả quản lý rủi ro hoạt động phụ thuộc nhiều vào việc Ngân hàng có xây dựng được chính sách và quy trình quản lý phù hợp hay không Bất cứ NHTM nào muốn hiệu quả cao trong công tác QLRR hoạt động đều phải có chính sách, quy trình QLRR rõ ràng, thích hợp.

Dựa vào các chính sách thích hợp đó, các ngân hàng mới đưa ra cho mình

Trang 24

những công cụ quản lý thích hợp nhất, từ đó mới có thể phòng ngà rủi ro hoạt động một cách hiệu quả nhất

* Trình độ nghiệp vụ của nhân viên Ngân hàng

Đây là một nhân tố quan trọng và có thể nói nó mang tính chất quyết định sự tồn tại của một Ngân hàng Hay nói cánh khác chất lượng, hiệu quả các mặt nghiệp vụ của Ngân hàng phụ thuộc vào năng lực, trình độ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, phân tích dự án vay vốn, trình độ quản lý và giám sát tình hình sử dụng vốn vay của cán bộ nhân viên

Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể giải quyết kịp thời, có hiệu quả với các tình huống khác nhau của hoạt động kinh doanh Việc tuyển chọn nhân sự giỏi về chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp sẽ giúp cho Ngân hàng có thể ngăn ngừa được những rủi ro do vi phạm, sai phạm trong tất cả các khâu của quá trình kinh doanh.

* Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ

Theo Basel II 128 [41]: “Rủi ro tuân thủ” được xác định là rủi ro mà Ngân hàng phải chịu hình phạt pháp lý/luật định, tổn thất tài chính nghiêm trọng, hay tổn thất danh tiếng như là kết quả của việc không tuân thủ theo pháp luật, quy định, quy tắc, hay tiêu chuẩn hoạt động nội bộ, cũng như quy tắc ứng xử được áp dụng cho các hoạt động của Ngân hàng đó (“tuân thủ luật lệ, quy tắc và tiêu chuẩn”) Bất kể bộ phận tuân thủ được tổ chức như thế nào trong Ngân hàng, bộ phận này nên độc lập và có đủ nguồn lực; trách nhiệm của bộ phận nên được xác định rõ ràng, và các hoạt động của

bộ phận này nên được rà soát định kỳ và độc lập bởi kiểm toán nội bộ.

Đây là biện pháp giúp cho Ban lãnh đạo Ngân hàng có được các thông tin

về tình trạng rủi ro trong kinh doanh để có các biện pháp phòng ngừa và giảm nhẹ rủi ro một cách có hiệu quả Hiệu quả của công tác quản lý rủi ro hoạt động tuỳ thuộc vào khả năng rà roát các quy định về quản lý rủi ro; khả năng phát hiện kịp thời các sai sót, các hành vi gian lận trong hoạt động và trong công tác báo cáo rủi

ro hoạt động Để kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu quả, Ngân hàng cần có cơ cấu tổ chức hợp lý, có đội ngũ cán bộ nhân viên giỏi về nghiệp vụ, có kinh nghiệm,

Trang 25

trung thực; tạo được môi trường làm việc độc lập, khách quan cho hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ.

* Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin

Trong thời đại của khoa học công nghệ, thì ngoài các nhân tố nêu trên, Ngân hàng còn phải trang bị cho mình hệ thống công nghệ tiên tiến Việc áp dụng công nghệ thông tin sẽ giúp Ngân hàng nâng cao hiệu quả trong quản lý rủi ro, thể hiện:

- Có được phương pháp thu thập và xử lý thông tin liên quan đến rủi ro một cách khoa học, chính xác, kịp thời

- Có được các công cụ phần mềm sử dụng trong phân tích, đánh giá dự báo và ước lượng rủi ro một cách chính xác, đầy đủ phục vụ cho quá trình ra quyết định quản

lý điều hành của các cấp

- Quản lý được thông tin lịch sử, cơ sở dữ liệu về các dấu hiệu rủi ro cũng như các sự kiện gây ra tổn thất cho Ngân hàng.

* Các công cụ quản lý rủi ro hoạt động

 Công cụ Thu thập dữ liệu tổn thất (LDC)

Theo Basel II (BCBS 195 [44], 128 [41], 113 [40])., Việc theo dõi dữ liệu sự

kiện tổn thất rất quan trọng đối vói việc xây dựng và vận hành hệ thống đo lường RRHĐ Dữ liệu tổn thất nội bộ rất quan trọng trong việc gắn các ước lượng rủi ro vói kinh nghiệm tổn thất thực tế của Ngân hàng Điều này có thể đạt được theo nhiều cách, bao gồm sử dụng dữ liệu tổn thất nội bộ như cơ sở cho các ước lượng rủi ro thực tế, như một phương thức kiểm định đầu vào và đầu ra của hệ thống đo lường rủi ro, hay như mối quan hệ giữa tổn thất thực tế vói quyết định quản lý và kiểm soát rủi ro

Công cụ nhận diện rủi ro và đánh giá biện pháp kiểm soát (RCSA).

Theo Basel II BCBS 195, Đoạn 39d [44]: Tự đánh giá biện pháp kiểm soát rủi

ro (RCSA), về cơ bản là đánh giá rủi ro vốn có (rủi ro trước khi các biện pháp kiểm soát được xem xét), tính hiệu quả của môi trường kiểm soát, và rủi ro còn lại (khả năng xảy

ra rủi ro sau khi các biện pháp kiểm soát được xem xét) Thẻ tính điểm xây dựng dựa

trên RCSA bằng cách xác định trọng số đối vói các rủi ro còn lại để tạo ra phương tiện

để chuyển đổi kết quả đầu ra của RCSA thành các thước đo cho phép xếp hạng so sánh

Trang 26

đối vói môi trường kiểm soát BLĐ cấp cao nên đảm bảo vịệc nhận diện và đánh giá

RRHĐ vốn có trong mọi sản phẩm, hoạt động, Quy trình và hệ thống trọng yếu nhằm đảm bảo các rủi ro vốn có và động cơ được am hiểu tường tận.

Công cụ xây dựng và quản lý chỉ sổ rủi ro chính (KR1).

Theo Basel II BCBS 195, Đoạn 39d [44]: Các chỉ số rủi ro và hiệu quả hoạt

động chính là các thước đo rủi ro và/hoặc số liệu thống kê cho phép đánh giá khả năng phát sinh rủi ro của Ngân hàng Chỉ số rủi ro, thường được gọi là Chỉ số Rủi ro Chính (KRIs), được sử dụng để theo dõi các nhân tố chính dẫn đến trạng thái chịu rủi ro liên quan đến các rủi ro chính Các chỉ số hiệu quả hoạt động, thường được gọi là các chỉ

số hiệu quả hoạt động chính (KPIs), cho phép đánh giá trạng thái của các qui trình hoạt động, là cơ sở để đánh giá các điểm yếu về hoạt động, những thất bại và tổn thất tiềm tàng Các chỉ số rủi ro và các chỉ số hiệu quả hoạt động thông thường hiện hữu song song vói các cảnh báo mức độ để đưa ra cảnh báo khi mức độ rủi ro tiệm cận hoặc vượt quá ngưỡng hoặc giói hạn và kích hoạt các kế hoạch giảm thiểu rủi ro.

1.3.2 Nhân tố bên ngoài ngân hàng thương mại

* Chính phủ:

Chính phủ có vai trò lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế và các công cụ tiền tệ cũng như các chương trình chi tiêu của mình Trong mối quan hệ với các Doanh nghiệp, trong đó có ngân hàng, chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tài trợ, quy định, ngăn cấm, hạn chế, vừa là khách hàng quan trọng, đồng thời cũng là nhà cung cấp dịch vụ choi các DN như cung cấp về thông tinvĩ mô, các dịch vụ cộng đồng khác Để tận dụng cơ hội, giảm thiểu nguy cơ các DN phải nắm bắt cho được những quan điểm, những quy định, ưu tiên những chương trình chi tiêu phù hợp với chính phủ nhằm tạo ra môi trường hoạt động kinh doanh thuận lợi.

* Môi trường kinh tế:

Đây là một nhân tố quan trọng thu hút sự quan tâm của các nhà quản trị Ngân hàng Sự tác động của yếu tố môi trường này có tính chất trực tiếp và năng động so với một số các nhân tố khác của môi trơnừg tổng quát Những diến biến của môi trường

Trang 27

kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe dọa khác nhau đối với hoạt động kinh doanh của ngành Ngân hàng và có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển của ngân hàng đó.

* Sự phát triển của nền kinh tế:

Song hành cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế là sự gia tăng các hoạt động kinh tế của các chủ thể nói chung và sự gia tăng các nghiệp vụ kinh doanh của các Ngân hàng thương mại hoạt động trong chính nền kinh tế đó Nhờ có kinh tế phát triển mà các NHTM có điều kiện để mở rộng hoạt động kinh doanh và là cơ hội

để cung ứng ra thị trường ngày càng nhiều các sản phẩm dịch vụ có tính tiện ích cao Tuy nhiên cũng chính việc gia tăng hoạt động kinh doanh, gia tăng cạnh tranh trong hoạt động Ngân hàng đã làm tăng mạnh khối lượng công việc cũng như các chi phí liên quan đến quản lý Rủi ro hoạt động Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả quản lý rủi ro hoạt động của Ngân hàng

* Mức độ hội nhập của nền kinh tế và xu hướng toàn cầu hóa

Xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế là một tất yếu khách quan Với việc hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế của một quốc gia vào nền kinh tế quốc tế đã

mở ra một không gian thị trường rộng lớn, là cơ hội để các Ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh Thông qua hội nhập kinh tế quốc tế các NHTM có điều kiện tiếp thu học hỏi kinh nghiệm về mô hình, quy trình, công nghệ … tốt nhất về quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro hoạt động nói riêng và như vậy hiệu quả quản lý rủi ro của mỗi Ngân hàng sẽ được nâng cao Việc áp dụng mô hình, quy trình hay công nghệ tốt nhất

về quản lý rủi ro cũng đồng thời là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi Ngân hàng khi muốn

mở rộng hoạt động ra phạm vi toàn cầu

* Nhân tố xã hội:

Một trong ba nguyên nhân cơ bản của rủi ro hoạt động trong mỗi NHTM chính là nhân tố con người Chính vì vậy, các nhân tố xã hội như đạo đức xã hội; đạo đức kinh doanh; trình độ dân trí; các quy tắc, tập quán trong giao tiếp, ứng xử; văn hóa; lề lối làm việc… có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý rủi ro hoạt động trong mỗi Ngân hàng Ví dụ, trong thực tế cho thấy một chính sách, một quy trình quản lý

Trang 28

rủi ro của Ngân hàng có tốt đến đâu đi chăng nữa, nhưng đội ngũ nhân viên hoạt động của Ngân hàng đó có lề lối làm việc lạc hậu, thiếu khoa học hoặc thiếu ngăn ắp thì không thể đánh giá rằng hoạt động quản lý rủi ro của Ngân hàng đó là có hiệu quả

* Môi trường pháp lý:

Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Không có quy định của pháp luật hoặc pháp luật quy định không phù hợp yêu với cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động trong nền kinh

tế đó không thể tiến hành trôi chảy Với vai trò đảm bảo cho việc chuyển nền kinh tế thị trường từ tự phát, kém tổ chức sang một nền kinh tế thị trường văn minh thì pháp luật có nhiệm vụ tạo lập một môi trường pháp lý cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong đó có hoạt động của các Ngân hàng được tiến hành thuận tiện và đạt kết quả cao, là cơ sở để giải quyết, xử lý các hành vi xâm phạm đến lợi ích chung của cả

xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân Vì vậy nhân tố pháp luật

có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động quản

lý rủi ro của Ngân hàng Một Hệ thống pháp lý chặt chẽ, đồng bộ sẽ giúp ngăn chặn các hành vi gian lận (bên trong và bên ngoài) gây ra các tổn thất cho các Ngân hàng cũng như là cơ sở để các Ngân hàng có thể giảm thiểu các tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt động như các biện pháp truy cứu trách nhiệm bồi thường vật chất, các quy định về xử phạt hành chính

* Môi trường văn hóa xã hội:

Bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà những chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng, bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể Sự thay đổi của các yếu tố văn hoá xã hội một phần là hệ quả của sự tác động lâu đài của các yếu tố vĩ

mô khác, do vậy nó thường xảy ra chậm hơn so với các yếu tố khác Một số những đặc điểm mà các nhà quản trị Ngân hàng cần chú ý là sự tác động của các yếu tố văn hoá

xã hội thường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác, thậm chí nhiều lúc khó mà nhận biết được Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường rất rộng: "nó xác định cách thức người ta sống làm việc, sản xuất, và bán các sản phẩm và dịch vụ" Như vậy những hiểu biết về mặt văn hoá - xã hội sẽ là những cơ

Trang 29

sở rất quan trọng cho các nhà quản trị Ngân hàng trong quá trình quản trị chiến lược trong đó có quản trị rủi ro hoạt động

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA RỦI RO HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM -

Trang 30

+ Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế;

+ Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận.

- Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng.

- Cung ứng các phương tiện thanh toán.

- Cung ứng các dịch vụ thanh toán:

+ Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ;

+ Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế;

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo văn bản chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và theo quy định của pháp luật.

- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt nam dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Vay vốn các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.

- Mở tài khoản:

+ Mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước.

+ Mở tài khoản thanh toán tại tổ chức tín dụng khác.

+ Mở tài khoản tiền gửi, tài khoản thanh toán ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối.

- Tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán:

+ Tổ chức thanh toán nội bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia

+ Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế.

- Góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.

- Tham gia đấu thầu tín phiếu kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt nam và các

Trang 31

giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ.

- Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác theo văn bản chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và quy định của pháp luật.

- Uỷ thác, nhận uỷ thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

- Các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng thương mại:

+ Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính, các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn

+ Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư.

+ Mua, bán trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

+ Cung cấp dịch vụ môi giới tiền tệ,

+ Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng theo văn bản chấp thuận của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các quy định của pháp luật.

BIDV Cao Bằng là một đơn vị hạch toán phụ thuộc ngân hàng BIDV Hoạt động của ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ngân hàng Nhà nước, BIDV, UBND Tỉnh Cao Bằng, UBND thành phố Cao Bằng Đó là một trong những thuận lợi của chi nhánh Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế hiện nay thì hệ thống các ngân hàng Việt Nam nói chung và BIDV Cao Bằng nói riêng gặp nhiều khó khăn

do thị trường có nhiều biến động: thị trường chứng khoán suy giảm, thị trường bất động sản đóng băng, cầu nội địa giảm mạnh, hàng tồn kho lớn, sản xuất ngưng trệ, doanh nghiệp đóng cửa hàng loạt, kinh tế vĩ mô bất ổn và tiềm ẩn rủi ro cao, diễn biến

Trang 32

thị trường tài chính tiền tệ phức tạp khó lường Các ngân hàng cạnh tranh tiếp tục mở rộng mạng lưới đến các phường trên địa bàn thành Tỉnh Cao Bằng Sự cạnh tranh về lãi suất, công nghệ, dịch vụ sản phẩm mới ngày càng trở nên gay gắt… Bên cạnh việc cạnh tranh với các ngân hàng nội thì cạnh tranh với các ngân hàng ngoại cũng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Trước những biến động đó, hoạt động của BIDV Cao Bằng trong thời gian qua cũng không tránh khỏi những khó khăn nhất định Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo quyết liệt, chủ động, linh hoạt bằng những quyết sách mạnh mẽ, kịp thời của Ban lãnh đạo cùng sự nỗ lực chung của toàn bộ tập thể cán bộ nhân viên, hoạt động của BIDV Cao Bằng đã đạt được những kết quả rất khả quan, trong đó các lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng là huy động, tín dụng và hoạt động dịch vụ cũng đã để lại những dấu ấn đậm nét.

Bảng 2 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Cao Bằng

Trang 33

Trong thời gian qua, nền kinh tế đã có những biến động lớn, gây không ít khó khăn cho hoạt động của ngành ngân hàng, nhưng hoạt động kinh doanh của chi nhánh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của BIDV Cao Bằng vẫn đạt được những thành tựu nhất định thể hiện ở bảng 2.1.

Bảng 2 2: Cơ cấu nguồn vốn huy động của BIDV Cao Bằng

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

Số tiền

Tỷ trọng (%)

1.Theo loại tiền

2.Theo nhóm KH

Trang 34

-Tiền gửi của

Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp BIDV Cao Bằng

Nhìn chung, quy mô nguồn vốn huy động của chi nhánh tương đối lớn, tốc độ

tăng trưởng tương đối ổn định Năm 2015 và Năm 2016, trong điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, BIDV Cao Bằng đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch được giao, khẳng định được vị thế và tạo được niềm tin đối với khách hàng Tính đến 31/12/2017, tổng nguồn vốn huy động đạt 3.502 tỷ đồng hoàn thành 125% kế hoạch, tăng 385 tỷ đồng tương đương tăng 12% so với năm 2016 Trong đó nguồn vốn nội tệ 3.492 tỷ đồng, tăng 380 tỷ đồng tăng 12% so với năm 2016; bên cạnh đó, nguồn vốn ngoại tệ (quy đổi ra VNĐ) đạt 10,5 tỷ đổng, tăng 5,4 tỷ đồng so với năm 2016

Tính đến 31/12/2018, tổng nguồn vốn huy động đạt 3.837 tỷ đồng, tăng 10 %

so với năm 2017 (tương đương 335 tỷ đồng), so kế hoạch đạt 122%.Trong đó: Vốn huy động VNĐ 3.805 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 99% tổng nguồn vốn, tăng 9% so với năm 2017 Vốn huy động ngoại tệ tăng nhưng không đáng kể qua các năm và chiểm tỷ trọng ngày càng thấp so với tổng huy động vốn, đến cuối năm 2018 huy động vốn ngoại tệ quy đổi VND đạt 32,3 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,84% tổng nguồn vốn, tăng 21,8 tỷ đồng so với năm 2017 Nguyên nhân huy động vốn ngoại tệ đạt thấp là do mấy năm gần đây tỷ giá ngoại tệ đã tương đối ổn định cộng thêm lãi suất huy động ngoại tệ theo quy định của Ngân hàng nhà nước là 0% nên xu hướng khách hàng quy đổi ngoại

tệ ra VND để gửi và được hưởng lãi suất cao hơn.

Đơn vị: tỷ đồng

Trang 35

Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp – BIDV Cao Bằng

Hình 2 1: Tăng trưởng huy động vốn của BIDV Cao Bằng giai đoạn 2015 – 2018

tổ chức kinh tế luôn là những nguồn tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh.

Trong những năm qua, chi nhánh đã chú trọng hơn đến công tác mạng lưới, cụ thể: thực hiện mở mới và nâng cấp các quỹ tiết kiệm thành hòng giao dịch, đổi tên, chuyển sang địa điểm mới khang trang hơn, gần tụ điểm dân cư; đồng thời cải thiện cách thức làm việc và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên, để có thể tư vấn đưa ra các hình thức huy động vốn hiệu quả hơn đối với từng đối tượng khách hàng Tuy còn nhiều hạn chế nhưng nó đã bước đầu góp phần tăng trưởng nguồn vốn huy động của chi nhánh Năm 2018, chi nhánh đã tăng tỷ trọng tiền gửi dân cư (chiếm 81,67% trên tổng nguồn vốn huy động) và các tổ chức kinh tế (chiếm 8,3% trên tổng nguồn vốn huy động) tuy nhiên nguồn vốn các định chế tài chính lại trồi sụt không ổn định (Năm 2015

là 7,2%, năm 2016 là 6 %, năm 2017 là 9 % và năm 2018 là 10%)

- Tỷ trọng nguồn vốn huy động từ dân cư luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn của chi nhánh và tăng đều qua các năm ( lần lượt 81%, 83%; 82% và 81% các Năm 2015, 2016, 2017 và 2018) Nguyên nhân chi nhánh luôn thu hút được nguồn tiền gửi của dân cư tăng trưởng cao và ổn định là do chi nhánh có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, tận tâm đồng thời khách hàng trên địa bàn ưa thích sử dụng các sản

Trang 36

phẩm huy động vốn dân cư của BIDV vì có mức lãi suất cạnh tranh, thanh toán linh hoạt và có nhiều tiện ích khác cho khách hàng Các chương trình tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm khuyến mại của BIDV được khách hàng tham gia nhiệt tình vì giải thưởng lớn, số lượng giải nhiều nên xác suất trúng giải cao Đặc biệt, trong năm 2015 đến năm

2018, chi nhánh đã có nhiều khách hàng trúng đến giải Đặc biệt của chương trình, đồng thời chi nhánh đã tích cực quảng bá sự kiện trên khách hàng càng quan tâm và tham gia nhiều các chương trình TKDT BIDV triển khai.

Huy động vốn của các tổ chức kinh tế tăng không đáng kể và chiếm tỷ trọng ngày càng thấp trong tổng nguồn vốn của chi nhánh ( Lần lượt là 11,8%, 11%, 9%, 8,3% các năm 2015, 2016, 2017, 2018) Nguyên nhân là do khó khăn chung từ nền kinh

tế dẫn đến các tổ chức kinh tế không có nhiều khoản tiền nhàn rỗi để gửi Ngân hàng Các khách hàng Doanh nghiệp của Cao Bằng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, siêu nhỏ, năng lực tài chính thấp, tiền nhàn rồi hầu như không có Đối với nguồn tiền gửi của

tổ chức kinh tế thường là nguồn tiền gửi thanh toán không kỳ hạn ( Thường chiếm khoảng 60% tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức kinh tế) nên đây chính là nguồn huy động vốn giá rẻ mang lại chênh lệch cao cho chi nhánh tuy nhiên nguồn vốn này thấp và không ổn định chính là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

rõ rệt, nợ khó đòi giảm và đặc biệt không để phát sinh mới

Do kế hoạch tín dụng cuối kỳ hội sở chính giao cho chi nhánh thực hiện trong giới hạn được giao nên chi nhánh luôn tuân thủ đúng và hoàn thành theo giới hạn HSC phân giao Cụ thể:

+ Dư nợ tín dụng cuối kỳ năm 2015 đạt 100% KH năm, 2016 đạt 100% KH giao, năm 2017 đạt 95,7% và năm 2018 đạt 98,9% KH giao

+ Dư nợ tín dụng bình quân năm 2015 đạt 101% KH giao, năm 2016 đạt

Trang 37

103% KH giao, năm 2017 đạt 97,2%, năm 2018 đạt 98,5% KH giao.

Kết quả dư nợ tín dụng của BIDV Cao Bằng giai đoạn 2015 - 2018 được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 2 3: Kết quả dư nợ tín dụng của BIDV Cao Bằng

Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp – BIDV Cao Bằng

Hình 2 2: Tăng trưởng tín dụng cuối kỳ và tín dụng bình quân 3 năm

Trang 38

Hình 2 3: So sánh tăng trưởng TD bình quân, TD cuối kỳ 4 năm

Nguồn: Phòng Kế hoạch tổng hợp – BIDV Cao Bằng

Trong giai đoạn 2015- 2018, hoạt động tín dụng của chi nhánh có sự tăng trưởng nhưng không đồng đều Năm 2015 dư nợ tăng trưởng khá cao tỷ lệ tăng trưởng cuối kỳ và bình quân lần lượt là 20 và 18% Năm 2016 chi nhánh có mức tăng trưởng 16% so năm 2015; dư nợ bình quân tăng 15,5%, tăng trưởng bình quân trong 3 năm

2014 - 2016 là 13,88%, gần sát so với mức tăng trưởng chung của toàn ngành Tuy nhiên, mức tăng trưởng dư nợ qua các năm của chi nhánh không ổn định và đồng đều, chủ yếu là tăng cao trong năm 2016 với mức tăng trưởng dư nợ cuối kỳ lên tới 20%,

dư nợ bình quân tăng trưởng tới 18%, chủ yếu là do chi nhánh giải ngân cho các dự án hợp vốn, đồng tài trợ và đầu tư dự án Thuỷ điện Pác Khuổi của công ty cổ phần Thanh Duy trên địa bàn Năm 2017, không có giải ngân dự án lớn và theo định hướng phát triển của toàn ngành, hoạt động tín dụng của chi nhánh có bước tăng trưởng chậm lại vì vậy chi nhánh chỉ tiếp tục giải ngân các dự án đã ký kết từ năm 2016 như các dự án thuỷ điện của Tập đoàn điện lực Việt Nam, Dự án khách sạn Sông Bằng của Hợp tác xã sản xuất Sông Bằng Giang … Vì vậy dư nợ năm 2016 vẫn tăng trưởng Bước sang năm 2018 mặc dù tình hình khó khăn chung trong hoạt động tín dụng của chi nhánh vẫn tăng trưởng tốt và năm

2017 dư nợ tín dụng cuối kỳ đạt 2.517 tỷ đồng, tăng 316 tỷ đồng tương đương 12 % so với năm 2016 Năm 2018 mặc dù nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi, lãi suất vay giảm dần nên khách hàng có nhu cầu vay nhiều hơn nhưng mức tăng trưởng cuối năm 2018 dư nợ chỉ đạt 2.770 tỷ đồng tăng 266 tỷ đồng tương đương 10% so với năm 2017.

Giai đoạn 2015 - 2018, BIDV Cao Bằng đã kiểm soát được các chỉ tiêu về cơ cấu,

Trang 39

chất lượng tín dụng và giới hạn tín dụng kế hoạch giao Phát triển và duy trì được nhiều khách hàng tốt, sàng lọc khách hàng yếu kém đảm bảo hoạt động tín dụng được an toàn, hiệu quả; Bên cạnh việc quan tâm đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng với mục tiêu hoàn thành kế hoạch kinh doanh hàng năm được giao, Ban lãnh đạo chi nhánh Cao Bằng đã luôn quan tâm đến chất lượng tín dụng như: yêu cầu khách hàng đối chiếu công nợ, định giá lại tài sản đảm bảo, kiểm tra lại tài sản đảm bảo, kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay theo đúng quy định

Ta có thể thấy rõ tình hình thực hiện các chỉ tiêu cơ cấu, chất lượng tín dụng thông qua bảng 2.4 sau đây:

Bảng 2 4: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về cơ cấu, chất lƣợng tín dụng của BIDV

Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp BIDV Cao Bằng

Năm 2015, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tuy nhiên tỷ lệ nợ nhóm 2 trên tổng dư

nợ lại khá cao 6,2 do một số khách hàng trên địa bàn có dấu hiệu kinh doanh thu lỗ, không có khả năng trả nợ ngân hàng … chỉ tiêu này sang năm 2016 đã đwocj cải thiện, tuy nhiên, chỉ tiêu nợ quá hạn năm 2016 là khá cao 1,8%/ tổng dư nợ Ngay từ đầu năm

2017, chi nhánh đã triển khai rà soát đánh giá lại toàn bộ khách hàng để cơ cấu lại danh mục tín dụng, thay đổi tư duy tín dụng, khai thác tiềm năng của khách hàng hiện có và tăng trưởng khách hàng mới theo hướng đảm bảo an toàn, hiệu quả Chi nhánh đã chủ động kiểm soát chất lượng nợ, cơ bản kiềm chế nợ nhóm 2 và nợ xấu.

- Tỷ lệ nợ xấu: Tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh đã được cải thiện đáng kể do chi nhánh đã tập trung hơn trong công tác đôn đốc xử lý, thu hồi các khoản nợ xấu Đặc biệt, trong năm 2017 đã xử lý dứt điểm và thu hồi một số món nợ tồn đọng lâu năm như: một phần món NQH của DNXD Hải Xuân, Cty THHH Tâm Trung và thu hồi hết

Trang 40

nợ của Cty SXVL & XD Vinh Hằng Tỷ lệ nợ xấu là 0,76%, giảm 0.49 % so năm

2017 Qua các năm, tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh luôn thấp hơn giới hạn được giao.

- Tỷ lệ nợ nhóm II: Trong năm 2016, tỷ lệ nợ nhóm II của chi nhánh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi giảm trên 5% so năm 2015 Tuy nhiên, đến năm 2017,

tỷ lệ nợ nhóm II của chi nhánh tăng cao hơn Nguyên nhân là do Dự án khai thác cát của công ty Thái Ninh gặp khó khăn tạm thời không trả được nợ ( dư nợ 15.3 tỷ đồng) Đến nay, dự án đã bắt đầu đi vào hoạt động và có nguồn thu ổn định Chi nhánh đang tích cực phối hợp với chủ đầu tư để thu hồi dần dần gốc và lãi phát sinh.

So với kế hoạch được giao hàng năm, chi nhánh đều hoàn thành Cụ thể: Thu dịch vụ ròng năm 2015 đạt 100% KH giao, năm 2016 đạt 105% KH giao, năm 2017 đạt 101%, năm 2018 đạt 114%% KH giao Cụ thể:

Bảng 2 5: Kết quả thu dịch vụ ròng của BIDV Cao Bằng

Nguồn: Phòng kế hoạch tổng hợp BIDV Cao Bằng

Qua bảng số liệu trên ta thấy các thu dịch vụ ròng của BIDV Cao Bằng giai đoạn 2015 - 2018 qua các năm đạt ở mức 11- 24 tỷ đồng Hoạt động dịch vụ của BIDV trong nhiều năm liền chịu sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thương mại trên địa bàn, đặc biệt là cơ chế giảm giá phí dịch vụ và chuyển tiền trong nội bộ các ngân hàng đã làm giảm doanh thu phí dịch vụ của chi nhánh BIDV Cao Bằng Nhận thức rõ tầm quan trọng trong phát triển dịch vụ ngân hàng, năm 2017 chi nhánh đã

triển khai nhiều biện pháp để đẩy mạnh hoạt động dịch vụ Bên cạnh các dịch vụ

truyền thống như thanh toán chuyển tiền trong nước, bảo lãnh …chi nhánh tiếp tục đẩy

Ngày đăng: 03/04/2023, 22:12

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN