Phương hướng hoạt động của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cao Bằng giai đoạn 2020 – 2025

Một phần của tài liệu Phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh cao bằng (Trang 82 - 93)

TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH CAO BẰNG

3.1. Phương hướng hoạt động của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cao Bằng giai đoạn 2020 – 2025

3.1.1. Bối cảnh ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Cao Bằng

3.1.1.1 Bối cảnh chung

Cao Bằng là một tỉnh miền núi, biên giới địa đầu của Tổ quốc, có diện tích trên 6.700km2, dân số gần 52 vạn người. Dù diện tích rộng, có đường biên giới dài, tài nguyên đất, nước, khoáng sản tương đối đa dạng, tuy nhiên phát triển kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn do địa hình chia cắt, dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống phân tán, phân tán, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển. Đặc biệt là hạ tầng về giao thông hạn chế, cách xa các trung tâm, thành phố lớn của cả nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội của toàn địa bàn.

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế địa bàn bình quân giai đoạn ở mức trung bình khá, đạt 5.81%/năm. GRDP/người tăng 6.09%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng ngành dịch vụ tăng dần qua các năm, tuy nhiên tốc độ còn chậm. Thu NSNN trên địa bàn tăng bình quân 5.04%/năm và mới đáp ứng được khoảng 10% ngân sách chi. Hoạt động xuất nhập khẩu tuy có tăng trưởng trong giai đoạn nhưng không ổn định qua các năm, phụ thuộc nhiều vào chính sách của Trung Quốc trong từng thời kỳ.

- Thu nhập bình quân/người còn ở mức rất thấp, có khoảng cách xa so với các thành phố lớn. Đại bộ phận người dân là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống chủ yếu khu vực nông thôn,vùng sâu vùng xa.Trình độ đại bộ phận người dân còn hạn chế, mức thu nhập, tiêu dùng còn rất thấp và rất ít có tích lũy. Quan niệm, thói quen tự

cung tự cấp trong đời sống, còn rất phổ biến , dẫn tới kinh tế hàng hóa, thương mại và dịch vụ của địa bàn rất khó khăn để phát triển, mở rộng thị trường.

- Các đơn vị SXKD số lượng ít, hầu hết đều quy mô nhỏ, ít có dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng sản xuất do năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh hạn chế.

Số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm ít, một số doanh nghiệp xây lắp, chế biến khoáng sản vẫn còn hoạt động cầm chừng, chưa hoàn toàn phục hồi sau ảnh hưởng của hậu suy thoái.

- Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch chưa chuyển biến rõ nét. Công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch còn nhiều hạn chế, chủ yếu mới chỉ ở bề mặt theo chỉ tiêu kế hoạch, chưa đi vào thực chất.

Định hướng, mục tiêu phát triển KTXH tỉnh Cao Bằng đến 2020, định hướng 2025.

Tại QĐ số 512/QĐ-TTg ngày 11/04/2014, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Cao Bằng đến năm 2020, định hướng 2025. Theo đó, mục tiêu tổng quát và một số chỉ tiêu phấn đấu giai đoạn 2016 -2020 như sau:

* Mục tiêu tổng quát:

Phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên các lợi thế về điều kiện tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, lịch sử, xã hội và được vận hành trên cơ sở nền hành chính cải cách theo hướng cởi mở, thân thiện. Đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người đạt mức khá trong khu vực và khoảng cách ngày càng được rút ngắn so với mức trung bình cả nước; đời sống tinh thần được duy trì và phát triển trên cơ sở nền văn hóa đa dân tộc; nền an ninh, quốc phòng, trật tự xã hội, môi trường sống của người dân luôn được củng cố và cải thiện vững chắc

* Một số chỉ tiêu phấn đấu giai đoạn 2016 – 2020: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) khoảng 13,4%/năm; Đến năm 2020: Cơ cấu kinh tế các ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, nông - lâm nghiệp - thủy sản tương ứng là 33,4%, 46,6% và 20,2%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 2.484 USD/năm; thu ngân sách đạt khoảng 4.300 tỷ đồng/năm. Phấn đấu tốc độ tăng dân số khoảng 0,6%/năm; tạo việc làm mới bình quân mỗi năm khoảng 9.500 người; giảm tỷ lệ hộ nghèo khoảng 3%/năm.

Theo đó, các định hướng phát triển và ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên trong giai đoạn như sau:

- Đối với sản xuất nông lâm, ngư nghiệp: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa kết hợp với mô hình trang trại quy mô vừa và nhỏ với kinh tế hộ. Tiếp tục hình thành và phát triển các vùng chuyên canh sản xuất nguyên liệu, hàng hóa gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ

- Đối với công nghiệp và xây dựng:

+ Khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao mức độ cơ giới hóa các cơ sở sản xuất chế biến, hạn chế tổn thất tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái. Tập trung thăm dò, đánh giá trữ lượng tài nguyên khoáng sản; nghiên cứu đánh giá chi tiết về tiềm năng các loại khoáng sản có triển vọng khai thác theo quy mô công nghiệp bao gồm gặng sắt, quăng Mangan, đá vôi…

+ Tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao sản lượng và chất lượng các sản phẩm vật liệu xây dựng đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trên địa bàn Tỉnh; tổ chức tốt việc khai thác các loại vật liệu sẵn có tại địa phương như: Đá, cát, sỏi.; Tiếp tục phát triển ngành nghề thủ công, các làng nghề truyền thống góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông nghiệp và nông thôn

+ Rà soát lại quy hoạch hệ thống thủy điện vừa và nhỏ, tập trung nguồn lực hoàn thành các dự án thủy điện đang triển khai; đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng hệ thống điện hạ thế, thực hiện tốt nội dung quy hoạch phát triển điện lực theo từng giai đoạn.

- Đối với thương mại, dịch vụ: Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các ngành thương mại, dịch vụ có tiềm năng như du lịch, khách sạn, nhà hàng, vận tải. Khai thác tốt thị trường du lịch Quảng Tây - Trung Quốc; nâng cao chất lượng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, công nghệ thông tin, vận tải…. Tiếp tục thu hút các nguồn vốn đầu tư khai thác các điểm du lịch Pác Bó , thác Bản Giốc - động Ngườm Ngao, hồ Thang Hen, khu nghỉ mát và du lịch sinh thái Phja Oắc - Phja Đén

- Đầu tư phát triển hạ tầng, giao thông

+ Khẩn trương triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng khu đô thị Đề Thám theo quy hoạch như các khu tái định cư, đường trục chính trong khu đô thị, giao thông nội

vùng, điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, trung tâm hội nghị tỉnh, các công sở của tỉnh,…. Tiếp tục chỉnh trang khu đô thị cũ, tạo sự hoàn thiện đồng bộ hạ tầng đô thị.

+ Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải cải tạo, nâng cấp các tuyến quốc lộ 4A, quốc lộ 34, quốc lộ 4C, đường nối quốc lộ 3 với quốc lộ 4A (tuyến tránh thành phố Cao Bằng. Nghiên cứu việc xây dựng sân bay Cao Bằng, đường cao tốc Cao Bằng - Lạng Sơn, quốc lộ 3 (đoạn Bắc Kạn - Cao Bằng) theo hướng tuyến mới tránh các đèo và đáp ứng nhu cầu vận tải.

- Phát triển kinh tế cửa khẩu: Tiếp tục đầu tư hạ tầng các khu kinh tế cửa khẩu, các lối mở và cặp chợ biên giới, xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu trở thành vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh. Xúc tiến xây dựng khu hợp tác xuyên biên giới Long Bang ( Quảng Tây, Trung Quốc) - Hùng Quốc, Trà Lĩnh (Cao Bằng). Đầu tư hoàn thành các tuyến tỉnh lộ, đường hành lang biên giới; thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại vùng Đông Bắc (Việt Nam) với vùng phía Nam (Trung Quốc); Triển khai nhiều chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư tại các khu kinh tế cửa khẩu ;

Cơ hội, thách thức:

* Cơ hội:

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế dự kiến sẽ tiếp tục được duy trì ở mức khá và tương đối ổn định, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng. Nền kinh tế đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản, có nhu cầu tín dụng, đặc biệt là tín dụng TDH tương đối lớn, là cơ hội để chi nhánh gia tăng thị phần tín dụng trên địa bàn.

+ Mức sống và trình độ dân trí của đại bộ phận người dân đang ngày càng gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh thu hút nguồn tiền nhàn rỗi và thu hút khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại.

+ Với trọng tâm phát triển của địa bàn trong giai đoạn tới là kinh tế cửa khẩu, hoạt động ngân hàng cũng có nhiều cơ hội phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, tìm kiếm thị trường mới hơn.

* Thách thức:

- Điểm xuất phát về kinh tế - xã hội của tỉnh còn thấp, tuy có tăng trưởng nhưng chậm so các vùng, miền, nguy cơ tụt hậu cao. Thu NSNS trên địa bàn chỉ hơn 10% tổng chi hàng năm. Cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, được chính phủ quan tâm

hỗ trợ đầu tư, tuy nhiên do năng lực thiết kế, đầu tư và thi công còn hạn chế nên nguồn đầu tư hàng năm thường tồn đọng với số lượng khá lớn.

- Là tỉnh miền núi biên giới nằm xa các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, cũng như của cả nước bạn Trung Quốc nên giao thông đi lại rất khó khăn, việc giao thương buôn bán rất khó mở rộng, khó khăn trong thu hút đầu tư, tiêu thụ sản phẩm. Sức cạnh tranh và khả năng hội nhập kinh tế của các doanh nghiệp còn yếu.

- Cơ cấu kinh tế chưa chuyển dịch kịp thời theo sự biến động của thị trường trong nước và quốc tế, trình độ công nghệ, nguồn nhân lực và năng lực tiếp nhận chuyển giao công nghệ còn thấp. Do đó, sẽ rất khó khăn để tìm kiếm các dự án thực sự hiệu quả để đầu tư.

- Quy mô của thị trường nhỏ bé, tốc độ tăng rất chậm. Thu nhập, tiêu dùng và tích lũy của người dân còn ở mức thấp, trình độ dân trí hạn chế nên hoạt động ngân hàng nói chung, ngân hàng bán lẻ nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Sự xuất hiện ngày càng nhiều ngân hàng thương mại hoạt động trên địa bàn sẽ tiếp tục gia tăng sức ép cạnh tranh, chia sẻ thị phần.

3.1.1.2 Phân tích môi trường kinh doanh ngành ngân hàng tại Cao Bằng Hoạt động ngân hàng trên địa bàn giai đoạn 2016 -2018

- Trên địa bàn tỉnh, hiện có 4 NHTM cùng hoạt động gồm các chi nhánh của Agribank, BIDV, Viettinbak và Lienvietpostbank. Mặc dù số lượng NHTM hoạt động không nhiều nhưng do quy mô thị trường nhỏ hẹp, số lượng khách hàng ít, kinh tế kém phát triển nên mức độ cạnh tranh diễn ra gay gắt. So với các NHTM trên địa bàn, quy mô hoạt động huy động vốn, tín dụng của chi nhánh BIDV Cao bằng đứng thứ 2, sau Agribank, các chỉ tiêu hiệu quả được duy trì ổn định, tăng trưởng hàng năm, chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt, tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp. Số dư HĐV bình quân và HĐV bình quân/cán bộ chi nhánh cũng đang ở mức cao nhất trên địa bàn.

Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa qua, hoạt động của Chi nhánh chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các ngân hàng trên địa bàn, thị phần tiếp tục theo xu hướng phân chia lại do có thêm Lienivietpostbank tham gia vào thị trường, đưa ra nhiều chính sách khách hàng ưu đãi về lãi suất, phí nhằm lôi kéo, thu hút khách hàng, đặc biệt là hoạt động HĐV dân cư và dịch vụ thanh toán trong nước. Vì vậy, HĐV chi nhánh có tốc độ

tăng trưởng thấp hơn mức tăng bình quân của địa bàn, thu dịch vụ hàng năm cũng đạt thấp hơn mức bình quân các chi nhánh trong khu vực và hệ thống.

Phân tích đối thủ cạnh tranh:

* AgriBank: Là NHTM có truyền thống bề dày và uy tín hoạt động trên địa bàn tương đương BIDV, là đối thủ cạnh tranh chính của BIDV trên địa bàn. Có mạng lưới chi nhánh cấp 2 rộng khắp ở cả 13/13 huyện thị và 6 phòng giao dịch và hệ thống máy ATM, rất thuận lợi cho việc cung cấp sản phẩm tới khách hàng và công tác khuyếch trương, quảng bá thương hiệu. Ngoài ra có lợi thế lớn về cơ sở vật chất từ hội sở đến chi nhánh các cấp (trụ sở khang trang, đặt tại các tuyến phố lớn, giao thông thuận lợi, vị trí mặt tiền rộng, thuận tiện cho quan sát và giao dịch với khách hàng). Tại địa bàn các huyện, thương hiệu Ngân hàng Nông nghiệp đã rất quen thuộc đối với người dân và gần như độc quyền trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng Thời gian gần đây, Agribank còn này có nhiều đổi mới, cơ cấu lại tổ chức bộ máy hoạt động, tích cực chăm sóc, tiếp thị khách hàng, giảm lãi suất cho vay và phí dịch vụ, trẻ hóa đội ngũ cán bộ…vì vậy năng lực cạnh tranh ngày càng được củng cố mạnh mẽ hơn.

Thế mạnh sản phẩm của Agribank là các sản phẩm tiết kiệm dự thưởng đa dạng, thay đổi thưởng xuyên về hình thức giải thưởng, phù hợp với mức tích lũy của đại bộ phận người dân. Các sản phẩm tiền vay của Agribank cũng rất cạnh tranh, đặc biệt các sản phẩm vay tiêu dùng của cá nhân do thủ tục nhanh gọn, thông thoáng, hạn mức cao. Ngoài ra, Agribank cũng là ngân hàng triển khai cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn với quy mô lớn nhất trên địa bàn.

* Viettinbank: Cũng là NHTM nhà nước có lịch sử hoạt động lâu đời tuy nhiên mới tham gia thị trường Cao Bằng từ năm 2009. Trụ sở chi nhánh cũng nằm ở vị trí thuận tiện, xây dựng khang tranh và thuân lợi cho khách hàng đến giao dịch. Các sản phẩm của Viettinbank phong phú, đa dạng và đang từng bước thâm nhập vào thị trườn, đặc biệt có thế mạnh lãi suất ưu đãi ngắn hạn cho các khách hàng kinh doanh thương m ại hoạt động tốt, thậm chí có thời điểm, lãi suât cho vay bằng FPT bán vốn của HSC. Hiện tại, ngoài trụ sở chi nhánh đã có 02 phòng giao dịch, 4 máy ATM.Trong giai đoạn, Viettinbak tiếp tục là ngân hàng triển khai nhiều hoạt động, chương trình tài trợ ASXH trên địa bàn với nguồn vốn lớn, tạo được thiện cảm đối với khách hàng

cũng như sự ủng hộ của chính quyền các cấp. Tổng số lượng cán bộ hiện khoảng trên 40 người.

*Lienviet Postbank: Là NHTMCP tư nhân, tham gia thị trường Cao Bằng từ năm 2010. Tuy mới hoạt động nhưng ngân hàng này có thế mạnh về mạng lưới hoạt động do tận dung được địa điểm của các Bưu cục Bưu điện các huyện để cung cấp dịch vụ và huy động vốn. Trong năm 2017, Lienvietpostbank cũng mở mới thêm 3 PGD các huyện và còn tiếp tục có kế hoạch gia tăng trong các năm tiếp theo. Hiện tại, số lượng cán bộ của chi nhánh gần 70 người, tuổi bình quân rất trẻ, năng động. Đội ngũ lãnh đạo chủ chốt hầu hết các các cán bộ có năng lực từ các NHTM nhà nước chuyển sang nên đã tận dụng các nguồn thông tin, mối quan hệ xây dựng được từ trước để thu hút, lôi kéo khách hàng. Do đó, đã xâm nhập và tăng nhanh thị phần hoạt động trên địa bàn, đặc biệt là về huy động vốn và dịch vụ. Sản phẩm thế mạnh các huy động vốn dân cư áp dụng ở mức rất cao, đặc biệt cạnh tranh ở các kỳ hạn dài trên 12T, lãi suất luôn cao hơn trần BIDV từ 0.5% trở lên. Ngân hàng này cũng duy trì chính sách phí dịch vụ chuyển tiền trong nước thấp hơn hẳn so với các NHTM trên địa bàn (<500 triệu ~ 11.000/món). Do đó cũng thu hút được nhiều khách hàng chuyển hoạt động thanh toán, nộp tiền. Đây là đối thủ cạnh tranh chính của BIDV trong hoạt động HĐV dân cư và cung cấp các sản phẩm dịch vụ thanh toán trong thời gian tới.

* BIDV Cao Bằng: Là NHTM nhà nước có bề dầy truyền thống và lịch sử hoạt động lâu năm tại địa bàn. Trong giai đoạn, Chi nhánh tiếp tục khẳng định được vị thế của một ngân hàng thương mại quốc doanh lớn, quy mô hoạt động ngày càng mở rộng, chất lượng hoạt động được kiểm soát tốt, duy trì hiệu quả ổn định. Thị phần hoạt động tiếp tục giữ vị trí thứ 2 trên địa bàn. Tạo dựng được niềm tin, uy tín và duy trì được nền khách hàng lớn, mạng lưới hoạt động hiện tập trung tại những địa bàn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cơ sở vật chất được đầu tư, nguồn nhân lực được tăng cường về chất lượng.

Tuy nhiên, với việc cạnh tranh trên địa bàn ngày càng gay gắt, quyết liệt nên việc tăng trưởng huy động vốn ngày càng khó khăn, tốc đó tăng trưởng giảm so với các năm trước, áp lực về tăng nguồn vốn dân cư với chi phí lớn; Hoạt động tín dụng địa bàn cũng gặp khó khăn trong tăng trưởng do nền khách hàng mỏng, quy mô nhỏ

Một phần của tài liệu Phòng ngừa rủi ro hoạt động tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh cao bằng (Trang 82 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(106 trang)