1. Trang chủ
  2. » Tất cả

luận văn bác sĩ sản khoa chuyên khoa 2

88 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả điều trị thiểu ối bằng phương pháp truyền ringer lactate vào buồng ối tại bệnh viện phụ sản hà nội
Tác giả Nguyễn Thị H
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Duy Ánh
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Sản phụ khoa
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,9 MB
File đính kèm 1. LV BSCKII - Sản khoa - 2023.rar (907 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN (13)
    • 1.1. Sinh lý nước ối (13)
      • 1.1.1. Khái niệm và nguồn gốc nước ối (13)
      • 1.1.2. Các con đường tiêu nước ối và sự luân chuyển nước ối (14)
      • 1.1.3. Thể tích và tính chất nước ối bình thường (15)
      • 1.1.4. Vai trò của nước ối (17)
    • 1.2. Thiểu ối và hậu quả của thiểu ối (17)
      • 1.2.1. Định nghĩa thiểu ối (17)
      • 1.2.2. Tỉ lệ thiểu ối (18)
      • 1.2.3. Nguyên nhân thiểu ối (18)
      • 1.2.4. Biến chứng của thiểu ối (21)
      • 1.2.5. Chẩn đoán thiểu ối (23)
      • 1.2.6. Điều trị thiểu ối (24)
      • 1.2.7. Phòng ngừa bệnh thiểu ối (25)
    • 1.3. Truyền ối (26)
      • 1.3.1. Khái niệm (26)
      • 1.3.2. Chỉ định (26)
      • 1.3.3. Chống chỉ định (26)
      • 1.3.4. Kỹ thuật (26)
      • 1.3.5. Dung dịch truyền ối Ringer lactate (27)
    • 1.4. Các nghiên cứu hiệu quả truyền ối trong điều trị thiểu ối (27)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu (33)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (33)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (33)
    • 2.2. Địa điểm nghiên cứu (33)
      • 2.4.1. Thiết kế nghiên cứu (34)
      • 2.4.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (34)
    • 2.5. Chỉ số nghiên cứu (34)
      • 2.5.1. Chỉ số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (34)
      • 2.5.2. Chỉ số về kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch (34)
      • 2.5.3. Chỉ số về yếu tố liên quan đến kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (35)
    • 2.6. Tiêu chuẩn đánh giá biến số nghiên cứu (36)
    • 2.7. Kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu (39)
      • 2.7.1. Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu (39)
      • 2.7.2. Phương pháp thu thập số liệu (44)
    • 2.8. Phương pháp xử lý số liệu (45)
    • 2.9. Phương pháp khống chế sai số (46)
    • 2.10. Đạo đức nghiên cứu (47)
    • 2.11. Sơ đồ nghiên cứu (48)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (49)
    • 3.2. Kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (52)
    • 3.3. Yếu tố liên quan đến kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (57)
  • Chương 4:53 BÀN LUẬN (63)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (63)
      • 4.1.1. Tuổi (63)
      • 4.1.2. Nghề nghiệp và nơi ở (63)
      • 4.2.1. Kết quả siêu âm trước và sau truyền ối (65)
      • 4.2.2. Lượng dịch truyền ối theo tuổi thai truyền ối (66)
      • 4.2.3. Tuổi thai khi có chỉ định truyền ối và quá trình theo dõi sau đó (67)
      • 4.2.4. Kết quả điều trị truyền ối bằng dung dịch Ringer lactate (68)
    • 4.3. Yếu tố liên quan đến kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (69)
  • KẾT LUẬN (74)

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC Nguyễn Thị H ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ THIỂU ỐI BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN RINGER LACTATE VÀO BUỒNG ỐI TẠI BỆN.

TỔNG QUAN

Sinh lý nước ối

1.1.1 Khái niệm và nguồn gốc nước ối

Nước ối là chất dịch lỏng sinh học, giàu dinh dưỡng, bao bọc và bảo vệ thai nhi trong tử cung của người mẹ Nó đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống và hỗ trợ sự phát triển của thai nhi, xuất hiện từ ngày thứ 12 sau thụ thai và có khả năng tái tạo cũng như trao đổi chất liên tục.

Có ba nguồn gốc tạo ra nước ối là thai nhi, màng ối và máu mẹ [3]:

Ngay từ giai đoạn sớm của thai kỳ, da thai nhi đã có khả năng tiết ra nước ối, đặc biệt từ tuần thứ 20 trở đi, khi da thai nhi bắt đầu sừng hóa, làm giảm dịch thẩm phân, đến tuần thứ 28, cấu trúc da trở nên ổn định vĩnh viễn và các tuyến mồ hôi bắt đầu hoạt động, kết thúc quá trình tạo nước ối từ dịch tiết da Phổi tham gia vào quá trình tạo nước ối từ tuần thứ 20, mỗi ngày tiết ra khoảng 10% trọng lượng thân, tương đương 300ml khi thai đủ tháng, đồng thời cũng hấp thụ một phần dịch này Sau tuần thứ 11, nước tiểu bắt đầu xuất hiện ở bàng quang của thai nhi và đến tuần 16, hệ tiết niệu hoạt động tích cực, bài tiết nước tiểu vào buồng ối, góp phần tạo thành nước ối với lượng khoảng 20-30% trọng lượng thai mỗi ngày trong nửa cuối thai kỳ.

Nước ối bắt nguồn từ màng ối và dây rốn, trong đó màng ối xuất hiện vào khoảng ngày thứ 7-8 sau thụ thai, từ tế bào lưng của lá thai ngoài và có vai trò trao đổi chất, sản xuất hormon cũng như tổng hợp prostaglandin Màng ối còn có cấu trúc liên bào bài tiết nhằm làm trơn các lá phúc mạc, và trong giai đoạn đầu của thai kỳ, khi thai chưa sản xuất nước tiểu, các tế bào biểu mô của màng ối cũng bài tiết dịch vào buồng ối Dây rốn được bao phủ bởi một lớp tế bào biểu mô ít nhung mao, liên kết chặt chẽ bằng các cầu nối, và quá trình thấm nước cùng các chất sinh học của dây rốn bắt đầu từ tuần thứ 18 của thai kỳ Thường xuyên, một thai đủ tháng sẽ trao đổi khoảng 50ml nước qua dây rốn trong 24 giờ, với quá trình trao đổi diễn ra nhiều hơn ở đoạn dây rốn gần thai nhi so với gần bánh nhau.

- Nguồn gốc từ máu mẹ: máu mẹ và nước ối có sự trao đổi chất thông qua màng ối.

1.1.2 Các con đường tiêu nước ối và sự luân chuyển nước ối

1.1.2.1 Các con đường tiêu nước ối

Kể từ sau tuần thứ 14 của thai kỳ, thai nhi bắt đầu nuốt nước ối vào dạ dày, với lượng trung bình từ 18-50ml/kg trọng lượng thai mỗi ngày Thể tích nước ối được thai nhi tiêu thụ thường tăng dần theo tuổi thai, đạt đỉnh khoảng 1006ml/ngày khi thai đủ 40 tuần tuổi Khoảng 18% thể tích nước ối nuốt vào có nguồn gốc từ phổi, và mức độ tiêu thụ nước ối của thai nhi có thể khác nhau tùy thuộc vào các điều kiện sức khỏe và môi trường.

- Thai bình thường uống 264 ± 43ml/24giờ/kg thân trọng thai.

- Thai thiếu oxy uống 92 ± 23ml/24giờ/kg.

- Thai thiếu oxy đã hồi phục uống 271 ± 24ml/24giờ/kg [64].

- Tóm lại, mỗi ngày thai uống lượng nước ối bằng khoảng 20,0-25,0% thân trọng của thai, ít hơn so với lượng nước tiểu do thai bài tiết ra.

Màng ối là màng xốp có khả năng bán thấm đối với nước và các chất điện giải như ure, glucose, creatinin, protein Nước ối di chuyển qua màng ối theo cơ chế thụ động từ buồng ối vào cơ thể mẹ, với lưu lượng khoảng 0,3-0,7ml mỗi giờ Mỗi ngày, khoảng 100ml nước ối thoát ra khỏi buồng ối qua đường màng ối, góp phần duy trì cân bằng dịch cho thai kỳ.

Dây rốn: nước ối được trao đổi qua dây rốn hàng ngày, Thai đủ tháng có khoảng 50ml nước ối được trao đổi qua dây rốn trong vòng 24 giờ [3].

1.1.2.2 Sự luân chuyển nước ối

Từ ngày thứ 12 đến ngày thứ 28 sau thụ tinh, tuần hoàn thai nhi được hình thành và có sự thẩm thấu giữa tuần hoàn và nước ối, trong đó thể tích nước ối tăng đều trong suốt thai kỳ Vào đầu tuần thứ 10, thể tích nước ối khoảng 30ml và đạt đỉnh khoảng 1000ml vào tuần thứ 34-36, sau đó giảm dần vào quý III, còn khoảng 800ml vào tuần thứ 40 Tốc độ giảm thể tích nước ối có thể lên đến 150ml/tuần từ tuần thứ 38 đến 43 của thai kỳ Nước ối thường xuyên luân chuyển với tốc độ thay đổi khoảng 3600ml/giờ, có nhiều con đường để nước ối đi vào và ra khỏi buồng ối Nguồn tạo nước ối chính gồm nước tiểu của thai và dịch tiết của phổi thai, bên cạnh một phần từ da thai nhi, trong khi tiêu nước ối diễn ra qua các con đường như thai nuốt nước ối, hấp thu qua màng ối, và thoát qua màng ối cũng như dây rốn Các nguồn gốc tạo và tiêu nước ối thay đổi theo tuổi thai, đảm bảo cân bằng phù hợp cho sự phát triển của thai nhi.

1.1.3 Thể tích và tính chất nước ối bình thường

TTNO là kết quả của một quá trình cân bằng động, very nhạy cảm, dễ bị phá vỡ, trong đó lượng nước ối có thể dự đoán chính xác nhất trong nửa đầu của thai kỳ, khi nó phản ánh trọng lượng của thai nhi Sự thay đổi của lượng nước ối trong thai kỳ chủ yếu liên quan đến quá trình lọc máu của da thai nhi, với tốc độ tăng đều từ tuần thứ 8 đến tuần 21, đạt mức tăng nhanh nhất khoảng 60ml/tuần Từ tuần thứ 33, lượng nước ối ổn định ở khoảng 600 – 800ml, sau đó bắt đầu giảm khoảng 8% mỗi tuần kể từ tuần 40, với thể tích trung bình khoảng 400ml khi thai 42 tuần Sự biến thiên của lượng nước ối theo tuổi thai được mô tả rõ ràng qua các giai đoạn trong suốt thai kỳ.

Bảng 1.1 Thể tích nước ối theo tuổi thai [8]

Tuổi thai (tuần) TTNO (ml)

- Tính chất lý học của nước ối

Trong giai đoạn đầu thai kỳ, nước ối có màu trắng trong và không mùi, thể hiện trạng thái bình thường của thai nhi Khi thai nhi phát triển lớn hơn, màu sắc nước ối chuyển dần sang trắng đục do chứa nhiều chất gây, phản ánh quá trình phát triển của thai nhi Đến tuần thứ 38, nước ối có màu trắng đục gần giống như nước vo gạo, chứa các chất như tế bào thượng bì, lông, chất bã, tế bào đường tiết niệu và tế bào âm đạo, cho thấy thai đã trưởng thành Nước ối khi bình thường thường có đặc tính hơi nhớt, mùi tanh nồng, tỷ trọng khoảng 1001, và có độ pH từ 7,1 đến 7,3, thể hiện môi trường kiềm phù hợp cho sự phát triển của thai nhi.

- Tính chất hóa học của nước ối

Nước ối chủ yếu gồm 97% là nước, cùng với 2-3% muối khoáng và các chất hòa tan quan trọng Các chất vô cơ trong nước ối gồm Na+, K+, Mg++, Ca++, giúp duy trì cân bằng điện giải, trong khi các chất hữu cơ như protein, glucose, lipit, hormone và các chất màu đóng vai trò quan trọng trong phát triển thai nhi và chức năng của nước ối.

1.1.4 Vai trò của nước ối

Nước ối bảo vệ thai nhi khỏi các va chạm, sang chấn từ bên ngoài, đồng thời ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn và duy trì môi trường vô trùng trong bọc ối Nó giúp thai không bị dính vào màng ối và tạo điều kiện thuận lợi cho thai cử động, lớn lên trong môi trường nước thoải mái Nhờ nước ối, dây rốn không bị chèn ép hay khô hạn, đảm bảo tuần hoàn máu dễ dàng và an toàn cho thai nhi.

- Vai trò chuyển hóa điều nhiệt

Nước ối không chỉ là môi trường cung cấp dưỡng chất mà còn đóng vai trò là nơi bài tiết và đào thải chất thải của thai nhi Ngoài ra, nước ối còn giúp duy trì nhiệt độ ổn định cho thai nhi khi còn trong tử cung Do thai hoàn toàn không có khả năng tự điều chỉnh nhiệt độ, nên nhiệt độ của thai nhi phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệt độ của mẹ qua nước ối.

Nước ối tạo môi trường cho thai phát triển hài hòa, giúp ngôi thai trong tử cung quay được trong những tháng cuối thai kỳ Trong quá trình chuyển dạ, nước ối bảo vệ thai nhi khỏi sang chấn của cơn co tử cung và nhiễm khuẩn, đồng thời góp phần hình thành đầu ối để cổ tử cung xóa và mở dễ dàng hơn Sau khi màng ối vỡ, nước ối làm trơn đường sinh dục của mẹ, giúp quá trình sinh nở diễn ra thuận lợi hơn.

Thiểu ối và hậu quả của thiểu ối

1.2.1 Định nghĩa thiểu ối Định nghĩa thiểu ối chưa được hoàn toàn thống nhất, nhiều giới hạn thiểu ối khác nhau tùy theo từng tác giả Thiểu ối là chỉ số ối (AFI) giảm so với AFI bình thường tính theo tuổi thai và ở dưới đường percentile thứ 5 [1]

Thiểu ối được xác định dựa trên các phương pháp chuẩn đoán hiện nay như siêu âm, trong đó kỹ thuật đo góc sâu nhất xác định thiểu ối khi chỉ số này dưới 2 cm, giúp đánh giá chính xác lượng nước ối Ngoài ra, phương pháp đo chỉ số nước ối bằng cách cộng tổng 4 góc phần tư của Phelan cũng thường được sử dụng, trong đó thiểu ối được xác định khi chỉ số dưới 5 cm Theo Magann và cộng sự (1992), kỹ thuật xác định thể tích nước ối bằng chất pha màu loãng cho thấy thiểu ối là khi thể tích nước ối dưới 500ml, góp phần vào các phương pháp chẩn đoán hiệu quả hiện nay.

Trong nghiên cứu này, thiểu ối được định nghĩa là tình trạng nước ối ít hơn bình thường theo tuổi thai, khi chỉ số AFI dưới 50mm hoặc góc ối sâu nhất nhỏ hơn 20mm, đồng thời màng ối còn nguyên vẹn Thiểu ối mức độ nặng được xác định khi góc ối sâu nhất nhỏ hơn 10mm, cho thấy tình trạng thiếu ối nghiêm trọng hơn.

Tỉ lệ thiểu ối được báo cáo từ các nghiên cứu bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt trong tiêu chuẩn chẩn đoán, dân số nghiên cứu (nguy cơ thấp hay nguy cơ cao, siêu âm tầm soát hay chọn lọc), và tuổi thai tại thời điểm siêu âm Theo Ninh Văn Minh (2013), tỉ lệ thiểu ối ở thai từ 28 tuần trở lên vào đẻ tại Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình là 2,1% trong khoảng thời gian từ năm 2010-2011 Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Loan (2009) cho thấy tỉ lệ thiểu ối là 3,9%.

Theo nghiên cứu của Trần Thị Hà (2014) tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, tỷ lệ thai thiểu ối trong tổng số các ca khám thai bằng siêu âm là 6,4% (248 trên 3847 trường hợp khám thai từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2014).

[7] Phạm Thị Thu Hồng và cs (2018) nghiên cứu trên thai trưởng thành tại Bệnh viện sản nhi tỉnh An Giang thì tỉ lệ thiểu ối là 4,1% [14].

1.2.3 Nguyên nhân thiểu ối: Thiểu ối có thể vô căn hoặc có nguyên nhân từ mẹ, thai nhi hoặc bánh rau [44].

Mẹ mắc các bệnh nội khoa hoặc sản khoa liên quan đến suy tuần hoàn tử cung và rau làm ảnh hưởng đến chức năng bánh rau cũng như tính thấm của màng ối, gây ra tình trạng thiểu ối Các nguyên nhân thường gặp bao gồm tăng huyết áp, tiền sản giật, bệnh thận, bệnh huyết khối, cùng với các bệnh mãn tính khác như bệnh tim và hen phế quản, gây thiếu oxy mãn tính cho thai nhi.

Mẹ bị tăng huyết áp trong thời kỳ thai nghén làm giảm dòng máu từ mẹ qua rau thai, gây thiếu oxy và dinh dưỡng cho thai nhi Điều này dẫn đến tình trạng cơ thể ưu tiên cung cấp máu cho tim và não, trong khi các cơ quan khác và vùng ngoại vi phải co mạch để dồn máu về các cơ quan quan trọng này Đặc biệt, lượng máu đến thận giảm làm giảm quá trình lọc nước tiểu và gây ra thiểu ối, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của thai nhi.

Tỷ lệ mẹ mắc các bệnh khác đi kèm thiểu ối khá cao, trong đó 45% mẹ bị nhiễm độc thai nghén có thiểu ối Ngoài ra, tỷ lệ mẹ mắc bệnh thận là 3,2%, bệnh tim 1,8%, đái tháo đường thai nghén 2,7%, và các bất thường miễn dịch mẹ - con chiếm 0,9%.

Trong quá trình mang thai, việc sử dụng một số loại thuốc điều trị có thể ảnh hưởng đến lượng dịch ối, đặc biệt là hai nhóm thuốc chính liên quan đến giảm thể tích dịch ối gồm thuốc ức chế men chuyển (ACE) và nhóm ức chế tăng tổng hợp prostaglandin Sử dụng nhóm thuốc ức chế men chuyển để điều trị tăng huyết áp hoặc tiền sản giật có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như rối loạn chức năng thận thai nhi và thiểu ối Ngoài ra, Indomethacin, một loại thuốc thuộc nhóm ức chế tổng hợp prostaglandin, thường được dùng trong điều trị dọa sinh non, đa ối, viêm đa khớp, bệnh tự miễn, nhưng cũng dẫn đến giảm thể tích dịch ối gây thiểu ối.

Thiểu ối có thể đi kèm với các bất thường của thai như tim, da, hệ thần kinh trung ương và bất thường nhiễm sắc thể, trong đó thường gặp nhất là các bất thường ở hệ tiết niệu chiếm khoảng một phần ba các trường hợp Ngoài ra, thiểu ối còn liên quan đến hội chứng truyền máu trong thai đôi hoặc có thể xảy ra mà không có bất kỳ bất thường nào của thai Nguyên nhân phổ biến nhất là do bất thường hệ tiết niệu đơn thuần hoặc phối hợp với các bất thường khác Các bất thường liên quan như không có tuyến giáp, bất thường hệ tiêu hóa hoặc bất thường nhiễm sắc thể, chẳng hạn như bất thường ở các cặp nhiễm sắc thể thứ 13 và 18, cũng được ghi nhận trong các trường hợp thiểu ối.

- Suy thai trường diễn (thai chậm tăng trưởng)

Nguyên nhân chính của suy thai trường diễn là suy tuần hoàn tử cung và rau Khi thai bị thiếu máu, tuần hoàn của thai bị phân phối lại, ưu tiên cho não và tim, trong khi các cơ quan khác như da, phổi và hệ bài niệu suy giảm, gây thiểu ối Suy thai kéo dài thường kèm theo thiểu ối và thai chậm phát triển trong tử cung, là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ đối với sức khỏe của thai nhi.

Hiện tượng giảm thể tích nước ối (TTNO) trong thai già tháng liên quan đến quá trình sản xuất nước tiểu của thai nhi bị ảnh hưởng do hiện tượng lão hóa của bánh rau, làm giảm khả năng cung cấp oxy và dưỡng chất Thai nhi trong giai đoạn này buộc phải thích nghi với tình trạng thiếu oxy bằng cách phân bố lại tuần hoàn, ưu tiên máu cho não và tim, dẫn đến giảm cấp máu cho các cơ quan khác như thận, gây ra thiểu ối, phổ biến chiếm tới 82% Thiểu ối trong thai già tháng có thể dẫn đến hội chứng thai già tháng (Hội chứng Clifford), ở mức nặng có thể gây thai chết trong tử cung hoặc ngạt sau sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh trung ương Do đó, việc theo dõi sát tình trạng thiếu ối trong thai già tháng là cần thiết để phát hiện và xử lý kịp thời các biến chứng.

- Do vỡ màng ối hoặc rỉ ối

Vỡ ối non là tình trạng ối vỡ trước khi có dấu hiệu chuyển dạ, gây nguy hiểm cho thai nhi Vỡ ối sớm xảy ra khi nước ối vỡ ngay từ khi bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ, đòi hỏi sự can thiệp kịp thời của bác sĩ Rỉ ối là hiện tượng nước ối rỉ ra khi màng ối vẫn còn nguyên, được xác định chính xác qua việc soi ối thấy rõ màng ối còn tồn tại Cả vỡ màng ối và rỉ ối đều dẫn đến thiểu ối, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của thai nhi.

Bong rau, huyết khối hoặc nhồi máu nhau thai, cùng với hội chứng truyền máu nhau thai là những nguyên nhân chính gây thiểu ối trong thai kỳ Trong hội chứng truyền máu song thai, thai cho bị thiếu máu và kém phát triển nặng, dẫn đến thiểu ối hoặc nguy cơ chết lưu Ngược lại, thai nhận máu sẽ thường gặp tình trạng đa ối, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của cả thai nhi.

* Không rõ nguyên nhân: Chiếm khoảng 30% các trường hợp thiểu ối [1]. 1.2.4 Biến chứng của thiểu ối

Thiểu ối gây ra tỷ lệ biến chứng từ 0,5-5,0%, đồng thời làm tăng nguy cơ bệnh tật, tỷ lệ sinh non và tử vong chu sinh Ngoài ra, tình trạng này còn liên quan đến tăng tỷ lệ đẻ ngược và phải mổ lấy thai cho mẹ Theo Casey (2000), tỷ lệ biến chứng của thiểu ối là khoảng 2,3%, cho thấy đây là một vấn đề cần được quan tâm trong quản lý thai kỳ.

- Phân su trong nước ối

Truyền ối

Truyền ối, hay còn gọi là truyền dịch bù ối, là kỹ thuật đưa trực tiếp dung dịch đẳng trương vô khuẩn vào buồng ối để tăng thể tích nước ối Phương pháp này giúp duy trì lượng ối phù hợp, hỗ trợ sự phát triển của thai nhi Truyền ối là một thủ thuật quan trọng trong chăm sóc thai kỳ nhằm giảm thiểu các nguy cơ liên quan đến thiếu ối.

Mục đích của việc truyền ối cho phụ nữ bị thiếu ối là để đưa mức nước ối trở lại bình thường, qua đó giúp kéo dài thời gian giữ thai trong tử cung và đảm bảo sự phát triển của thai nhi Đồng thời, quá trình này cũng giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực của thiểu ối đối với sức khỏe và sự phát triển của bé, đảm bảo sự an toàn cho cả mẹ và thai nhi.

Truyền ối là phương pháp điều trị hiệu quả cho các bệnh lý thiểu ối, được nhiều chuyên gia sản phụ khoa trên thế giới áp dụng Đây là kỹ thuật tiên tiến và mang tính đột phá trong lĩnh vực sản phụ khoa quốc tế Tuy nhiên, tại Việt Nam, truyền ối vẫn còn là một kỹ thuật mới và đang từng bước phát triển để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe thai kỳ.

- Thai phụ được chẩn đoán thiểu ối và màng ối còn nguyên vẹn

- Rỉ ối, vỡ ối non

Kỹ thuật truyền ối được thực hiện dưới hướng dẫn siêu âm, giúp bác sĩ chính xác đưa kim nhỏ vào khoang tử cung Quá trình này liên quan đến việc bơm dịch đẳng trương như nước muối hoặc Ringer lactat vào buồng ối, nhằm điều chỉnh mức nước ối về mức bình thường phù hợp với tuổi thai.

Sau khi thực hiện thủ thuật, bác sĩ sẽ kiểm tra toàn diện tình trạng của thai phụ, bao gồm khám lâm sàng, siêu âm thai và xét nghiệm máu để đảm bảo an toàn Khi tình trạng ổn định sau 2 ngày theo dõi, thai phụ sẽ được ra viện, đảm bảo sức khỏe tốt để tiếp tục thai kỳ.

Nếu sau khoảng 1-2 tháng, thai phụ xuất hiện dấu hiệu thiểu ối tái phát, có thể được chỉ định truyền ối lặp lại để duy trì đến khi thai có khả năng tự nuôi dưỡng Truyền ối nối tiếp giúp đảm bảo sự phát triển an toàn của thai nhi trong giai đoạn nguy cơ thiểu ối quay trở lại Việc duy trì truyền ối liên tục khi cần thiết sẽ hỗ trợ tối đa sự phát triển của thai nhi và giảm nguy cơ biến chứng mẹ và bé.

Kỹ thuật truyền ối đòi hỏi phải đảm bảo vô trùng tuyệt đối để tránh nhiễm trùng, đồng thời yêu cầu kỹ năng đưa kim vào buồng ối phải có chuyên môn cao Việc thực hiện thành thạo kỹ thuật này cần người thực hiện có kiến thức chuyên sâu và kỹ năng vượt trội để đảm bảo an toàn cho mẹ và thai nhi.

1.3.5 Dung dịch truyền ối Ringer lactate

- Tên chung quốc tế: Ringer lactate.

- Dạng thuốc và hàm lượng:

+ Dung dịch trong chai 250 ml, 500 ml, 1000 ml.

+ Dịch truyền Ringer lactate đẳng trương: Natri clorid 0,6%, Kali clorid 0,04%, Natri lactat 0,25%, Calci clorid 0,027% Dịch truyền chứa 131 mmol

Na + , 5 mmol K + , 2 mmol Ca2 + , 29 mmol HCO3 - (lactat), 111 mmol Cl - /lít

- Chỉ định: Bù nước và điện giải; sốc do giảm thể tích máu.

- Chống chỉ định: Chứng nhiễm kiềm hô hấp hay chuyển hóa; tăng calci huyết, tăng kali huyết, suy tim, ứ nước, đang dùng digitalis, suy thận nặng.

- Thận trọng: Hạn chế truyền trong suy thận, suy tim, tăng huyết áp, phù phổi, nhiễm độc thai nghén.

Liều dùng của dịch truyền tĩnh mạch để bù nước, điện giải hoặc xử lý sốc do giảm thể tích máu ở người lớn và trẻ em được xác định dựa trên tình trạng lâm sàng Việc theo dõi nồng độ điện giải cũng rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị an toàn.

- Tác dụng không mong muốn: Truyền quá mức có thể gây nhiễm kiềm chuyển hóa; truyền liều lớn có thể dẫn đến phù.

- Quá liều và xử trí

+ Quá liều: Phù, phù phổi cấp, rối loạn điện giải, suy tim cấp.

+ Xử trí: Ngừng truyền ngay Cho điều trị thích hợp (tiêm tĩnh mạch lợi tiểu, thở oxygen…) [5].

Các nghiên cứu hiệu quả truyền ối trong điều trị thiểu ối

Năm 2006, Viện Sức khỏe và Chăm sóc chất lượng cao Quốc gia Anh (NICE) đã công bố hướng dẫn tổng quan về thủ tục can thiệp truyền ối để điều trị thiểu ối trong thai kỳ.

Các bằng chứng về hiệu quả của truyền ối trong điều trị thiểu ối được trình bày trong tổng quan này, bao gồm một nghiên cứu ngẫu nhiên và bốn nghiên cứu đối chứng không ngẫu nhiên Truyền ối được chứng minh giúp kéo dài thời gian mang thai, giảm tỷ lệ mắc bệnh thiểu sản phổi và nâng cao tỷ lệ sống sơ sinh, là những lợi ích chính trong việc quản lý thiểu ối.

Nghiên cứu của Chhabra S và cộng sự tại khoa Phụ sản, Viện Y học Mahatma Gandhi ở Ấn Độ năm 2007 đã xác nhận lợi ích của truyền ối qua da bụng (APTA) trong điều trị thiểu ối Đây là một phương pháp tiềm năng giúp cải thiện lượng ối và tình trạng thai nhi, góp phần nâng cao kết quả chăm sóc mẹ và bé trong quá trình thai kỳ.

100 phụ nữ mang thai bị thiểu ối, 50 người được truyền ối và 50 người theo dõi Kết quả: Có sự gia tăng trung bình 4,02 cm trong chỉ số nước ối (AFI) sau khi truyền ối Chỉ có 18,0% trường hợp bệnh nhân cần sinh mổ so với 46,0% ở nhóm chứng Tỷ lệ tử vong chu sinh là 18,0% ở nhóm chứng và 4,0% ở nhóm được truyền ối (p

Ngày đăng: 03/04/2023, 17:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Bienstock J.L, et al. (2014), "Successful in utero intervention for bilateral renal agenesis", Obstet Gynecol, 124(2 Pt 2 Suppl 1), pp. 413- 415 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Successful in utero intervention forbilateral renal agenesis
Tác giả: Bienstock J.L, et al
Năm: 2014
23. C Stoll, et al. (1990), "An epidemiological study of oligohydramnios associated with congenital Malformations", J Gynecol Obstet Biol Reprod (Paris), 19(8), pp. 947 – 953 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An epidemiological study of oligohydramniosassociated with congenital Malformations
Tác giả: C Stoll, et al
Năm: 1990
32. Gary Cunningham F., Kenneth J. Lenevo, et al (2010), WilliamObstetrics, 23rd edition, McGraw Hill Medical Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: William Obstetrics
Tác giả: Gary Cunningham F., Kenneth J. Lenevo
Nhà XB: McGraw Hill Medical Publishing
Năm: 2010
36. Han CS. (2018), "Fetal Biophysical Profile. Obstet Imaging Fetal DiagnosisCare", Elsevier, Available from:https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/B978032344548100125X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fetal Biophysical Profile. Obstet Imaging Fetal DiagnosisCare
Tác giả: Han CS
Nhà XB: Elsevier
Năm: 2018
37. Hanssens (1991), "Fetal and neonatal effects of treatment with angiotensin - converting enzyme inhibitors in pregnancy", J Obstet Gynecol, 78(1), tpp 128 - 135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fetal and neonatal effects of treatment withangiotensin - converting enzyme inhibitors in pregnancy
Tác giả: Hanssens
Năm: 1991
44. Keilman C and Shanks A.L (2021), Oligohydramnios, Treasure Island(FL): StatPearls Publishing (Available from:https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK562326/) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oligohydramnios
Tác giả: Keilman C, Shanks A.L
Nhà XB: StatPearls Publishing
Năm: 2021
51. National Institute for Health and Care Excellence (2006), "Therapeutic amnioinfusion for oligohydramnios during pregnancy (excluding labour)", National Institute for Health and Care Excellence, pp. 338-358 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Therapeutic amnioinfusion for oligohydramnios during pregnancy (excluding labour)
Tác giả: National Institute for Health and Care Excellence
Nhà XB: National Institute for Health and Care Excellence
Năm: 2006
52. Patel A and Patel HV (2015), "Role of amniotic fluid index in pregnancy outcome", pp. 1-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Role of amniotic fluid index in pregnancy outcome
Tác giả: Patel A, Patel HV
Năm: 2015
53. Elena Priante and et al. (2019), "Intrauterine Growth Restriction: New Insight from the Metabolomic Approach", Metabolites, 9(11), pp. 267 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intrauterine Growth Restriction: NewInsight from the Metabolomic Approach
Tác giả: Elena Priante and et al
Năm: 2019
55. Richard (1991), "Amniotic fluid: Physiology and assessment", Sciana Revised, 3(76) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amniotic fluid: Physiology and assessment
Tác giả: Richard
Nhà XB: Sciana Revised
Năm: 1991
56. Sharma Deepak, Shastri Sweta and Sharma Pradeep (2016),"Intrauterine Growth Restriction: Antenatal and Postnatal Aspects", Clinical medicine insights. Pediatrics, 10, pp. 67-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intrauterine Growth Restriction: Antenatal and Postnatal Aspects
Tác giả: Sharma Deepak, Shastri Sweta and Sharma Pradeep
Năm: 2016
58. Szeged University (2011), "Alterations of the Uteroplacental and Fetal Pulmonary Circulation Following Amnioinfusion", Clinical Trials (https://clinicaltrials.gov/ct2/show/study/NCT01258725) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alterations of the Uteroplacental and Fetal Pulmonary Circulation Following Amnioinfusion
Tác giả: Szeged University
Năm: 2011
59. Taneja A, Arora K and Chopra I (2017), "Pregnancy Outcomes in Isolated Oligohydramnios during Second Trimester: A Case Series.", International Journal of Current Research and Review, 11(8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pregnancy Outcomes inIsolated Oligohydramnios during Second Trimester: A Case Series
Tác giả: Taneja A, Arora K and Chopra I
Năm: 2017
63. Warring Simrit K and et al. (2020), "Serial Amnioinfusion as Regenerative Therapy for Pulmonary Hypoplasia in Fetuses With Intrauterine Renal Failure or Severe Renal Anomalies: Systematic Review and Future Perspectives", Mayo Clinic Proceedings:Innovations, Quality & Outcomes, 4(4), pp. 391-409 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Serial Amnioinfusion asRegenerative Therapy for Pulmonary Hypoplasia in Fetuses WithIntrauterine Renal Failure or Severe Renal Anomalies: SystematicReview and Future Perspectives
Tác giả: Warring Simrit K and et al
Năm: 2020
12. Nguyễn Thị Xuân Loan và Lưu Thị Thanh Đào (2009), "Khảo sát tình hình thiểu ối trên thai trưởng thành tại Khoa sản Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 13(2) Khác
13. Nguyễn Thu Hoài, Nguyễn Ngọc Tú và Nguyễn Quốc Tuấn (2018),"Đánh giá kết quả truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec", Tạp Chí Phụ sản, 16(1), tr. 78-82 Khác
14. Phạm Thị Thu Hồng, Võ Đông Hải và Nguyễn Trung Kiên (2018),"Tình hình, mức độ thiểu ối và một số yếu tố liên quan ở sản phụ mang thai đủ tháng tại bệnh viện sản nhi tỉnh An Giang", Tạp chí Y dược học Cần Thơ, 18 Khác
15. Phan Thị Hằng và Nguyễn Duy Tài (2007), "Hiệu quả của việc uống nước trong điều trị thiểu ối ở thai trưởng thành", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 11( 1), tr. 226-230 Khác
16. Lâm Đức Tâm và Nguyễn Vũ Quốc Huy (2014), "Đánh giá kết quả điều trị thiểu ối nhập viện tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ ", Tạp chí phụ sản, 12(3), tr. 74-78 Khác
17. Trần Thị Nhật Thiên và Nguyễn Duy Tài (2003), "Khảo sát kết quả thai kì trên những trường hợp thiểu ối ở thai đủ trưởng thành", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 7(1) Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w