Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.7. Kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu
2.7.1. Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
2.7.1.1. Kỹ thuật siêu âm đo chỉ số nước ối
* Phương tiện: Máy siêu âm Volution E6 sản xuất tại Áo, hãng sản xuất:
GE Healthcare Mỹ. Màn hình LCD TFT 19 inches, độ phân giải cao 1280 x 1024, có thể xoay được. Màn hình điều khiển LCD màu chạm (Touchscreen) 10,4 inches. Bàn điều khiển độ cao bằng điện. Chức năng tối ưu hóa tự động (AO). Bộ xử lý tia kỹ thuật số với 494.894 kênh. Chức năng lưu ảnh bao gồm chức năng Preview và Pre-selection.
Hình 2.1. Máy siêu âm GE Volution E6
* Tư thế thai phụ và thầy thuốc trong khi thực hiện siêu âm
Thai phụ nằm ngửa trên bàn, hai chân duỗi thẳng, hai tay buông xuôi trên bàn, tư thế nằm thoải mái. Toàn bộ vùng bụng được bộc lộ rộng, bôi gel để dẫn âm. Thầy thuốc ngồi bên phải của thai phụ trong suốt quá trình siêu âm.
* Kỹ thuật xác định góc đo chỉ số nước ối
- Cách chia tử cung ra 4 góc: Chia tử cung ra 4 góc bằng hai đường thẳng vuông góc với nhau
+ Một đường thẳng dọc đi qua trục dọc giữa của cơ thể thai phụ
+ Một đường thẳng ngang đi qua điểm giữa của chiều cao tử cung (tính từ đáy tử cung đến bờ trên khớp vệ).
+ Bốn góc lần lượt được gọi tên là góc dưới phải, góc trên phải, góc trên trái và góc dưới trái [7].
Hình 2.2. Cách cầm đầu dò và chia 4 góc ở tử cung trong siêu âm
* Kỹ thuật đo độ sâu tối đa nước ối
- Để thực hiện đo độ sâu tối đa nước ối, người làm siêu âm luôn cầm đầu dò siêu âm sao cho thẳng góc với mặt sàn nhà và song song với trục dọc cơ thể của thai phụ. Tiến hành thăm dò toàn bộ tử cung, dừng lại ở vùng nước ối lớn nhất ở mỗi góc phần tư của tử cung (góc dưới phải, góc trên phải, góc trên trái và góc dưới trái). Cố định hình ảnh, tiến hành đo độ sâu tối đa nước ối ở vùng nước ối lớn nhất này, đo từ bờ trong của cơ tử cung tới da thai nhi, đo theo đường thẳng góc. Không đo xiên dù là kích thước đo xiên có thể lớn hơn, đó là độ sâu tối đa nước ối. Tổng ĐSTĐNO ở 4 góc phần tư của tử cung chính là chỉ số nước ối. Kết quả đo tính bằng milimet khi đo ĐSTĐNO phải loại trừ dây rốn, phần thai nếu có.
Hình 2.3. Kỹ thuật đo độ sâu tối đa nước ối
* Kỹ thuật đo chỉ số nước ối
- Để thực hiện đo chỉ số nước ối, người làm siêu âm luôn cầm đầu dò siêu âm sao cho thẳng góc với mặt sàn nhà và song song với trục dọc cơ thể của thai phụ như đo ĐSTĐNO. Tiến hành thăm dò toàn bộ tử cung, dừng lại ở vùng nước ối lớn nhất ở mỗi góc phần tư của tử cung (góc dưới phải, góc trên phải, góc trên trái và góc dưới trái). Cố định hình ảnh, tiến hành đo độ sâu tối đa nước ối. Tổng ĐSTĐNO ở 4 góc phần tư của tử cung chính là chi số nước ối. Kết quả đo tính bằng milimet khi đo phải loại trừ dây rốn, phần thai nếu có [7].
Hình 2.4. Kỹ thuật đo chỉ số nước ối 2.7.1.2. Quy trình kỹ thuật truyền ối
* Trước thủ thuật
- Corticoid thể được cho ít nhất 24 giờ trước khi làm thủ thuật để trưởng thành phổi thai nhi ở thai nhi 28-32 tuần tuổi thai.
- Đặt đường truyền tĩnh mạch để cho phép quản lý việc giảm đau, gây mê (Dilaudid® 0,5mg IV, Fentanyl 50–100 μg, Midazolam 1–2 mg, hoặc Phenergan 12.5 mg) và kháng sinh, giảm co tử cung. Kháng sinh dự phòng phổ rộng được cho trước khi làm thủ thuật 30 phút.
- Chuẩn bị 500-1000ml dung dịch Ringer lactate.
* Tiến hành thủ thuật
- Làm sạch bụng mẹ bằng dung dịch sát khuẩn và trải săng vô khuẩn.
- Dùng kim Bbrawn G27 (chiều dài 9 cm) (Lý do dùng kim G27 vì tiết diện kim nhỏ ít gây tổn thương đến thai và dây rốn do thai thường cử động nhiều khi được bơm ối vào buồng tử cung).
- Dưới hướng dẫn của siêu âm, xuyên kim vào buồng ối.
- Bơm nước ối vào buồng tử cung tốc độ 8-10ml/phút. Lượng dịch bơm vào tương đương với lượng ối thích hợp theo tuổi thai từ 300-500ml.
- Hút 10 ml dịch ối gửi phòng xét nghiệm làm NST đồ thai nhi.
- Rút kim và theo dõi sau thủ thuật.
* Sau thủ thuật
- Dùng kháng sinh phòng nhiễm khuẩn (Dùng kháng sinh tiêm tĩnh mạch nhóm β lactam hoặc macrolid trong 2 ngày), giảm co tử cung.
- Theo dõi tai biến: Nhiễm trùng buồng ối, đẻ non, ối vỡ sớm, thai lưu, thuyên tắc nước ối.
- Sau 2 ngày ổn định ra viện.