Các nghiên cứu hiệu quả truyền ối trong điều trị thiểu ối

Một phần của tài liệu luận văn bác sĩ sản khoa chuyên khoa 2 (Trang 27 - 33)

Viện Sức khỏe và Chăm sóc chất lượng cao Quốc gia Anh (National Institute for Health and Care Excellence-NICE) cũng đưa ra tổng quan về thủ tục can thiệp điều trị truyền ối cho thiểu ối trong khi mang thai vào năm 2006.

Bằng chứng hiệu quả truyền ối được trình bày trong tổng quan này liên quan đến một thử nghiệm ngẫu nhiên, bốn thử nghiệm đối chứng không ngẫu nhiên. Các kết quả hiệu quả chính của truyền ối trong điều trị thiểu ối bao gồm kéo dài thời gian mang thai, giảm tỷ lệ mắc bệnh thiểu sản phổi và cải thiện tỷ lệ sống sơ sinh [51].

Theo nghiên cứu của Chhabra S. và cộng sự tại khoa Phụ sản, Viện Y học Mahatma Gandhi ở Ấn Độ (2007) đã chỉ ra lợi ích của truyền ối qua da bụng (APTA) trong điều trị thiểu ối. Đây là một nghiên cứu đối chứng với 100 phụ nữ mang thai bị thiểu ối, 50 người được truyền ối và 50 người theo dõi. Kết quả: Có sự gia tăng trung bình 4,02 cm trong chỉ số nước ối (AFI) sau khi truyền ối. Chỉ có 18,0% trường hợp bệnh nhân cần sinh mổ so với 46,0% ở nhóm chứng. Tỷ lệ tử vong chu sinh là 18,0% ở nhóm chứng và 4,0% ở nhóm được truyền ối (p<0,05). Như vậy, truyền ối là một phương pháp hữu ích để giảm các biến chứng do giảm thể tích nước ối. Truyền ối đặc biệt hữu ích trong các trường hợp thiểu ối xuất hiện sớm trước 26 tuần, vì thủ thuật này cho kết quả chu sinh tốt hơn bằng cách giúp thai nhi tiếp tục được phát triển trong tử cung, nên thai nhi sẽ trưởng thành hơn, ít gặp các biến chứng như sinh non hay dị dạng thai, thiểu sản phổi [26].

Nghiên cứu của Hsu T.L. và cs (2007) chia sẻ về truyền nước ối cho 17 thai phụ thiểu ối (có chọc dò ối) trong ba tháng giữa cho thấy: Không có bà mẹ nào sử dụng các loại thuốc có thể gây thiểu ối. Các sản phụ nhận được thực hiện truyền ối với quy trình 28 bước. Chỉ một quy trình không thành công. Không tìm thấy bất thường nhiễm sắc thể. Dị tật thai nhi được tìm thấy sau khi chọc dò ối kết hợp truyền ối là 5 trường hợp. Một phụ nữ sinh non trong vòng 1 tuần sau khi truyền nước ối. Trong bốn trường hợp thiểu ối bị vỡ ối, một trường hợp sinh con đủ tháng khỏe mạnh. Trong 13 trường hợp thiểu ối không vỡ ối, có hai trẻ sinh non trước 34 tuần tuổi thai, bao gồm thiểu sản phổi ở một trẻ sơ sinh và ba trẻ khỏe mạnh sinh sau 35 tuần tuổi thai. Nhóm

tác giả kết luận: truyền ối được thực hiện lần đầu tiên có thể mang lại một số lợi ích cho những người bị thiểu ối sớm, kéo dài thời gian sống trong buồng tử cung của thai nhi, tăng hiệu quả sau sinh, giảm tử vong [41].

Nghiên cứu của Hernández-Herrera R.J. và cs (2009) nhằm mục tiêu đánh giá mối tương quan giữa chỉ số nước ối (AFI) và thể tích nước ối thực trong 3 tháng giữa thai kỳ thông qua phương pháp truyền dịch ối trên 8 phụ nữ mang thai bị thiểu ối. Truyền dịch ối được thực hiện bằng cách nhỏ đến 400 ml dung dịch muối trong 100 ml dung dịch. Với bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, AFI được xác định bằng tổng các phép đo của các vực thẳng đứng sâu nhất trong mỗi phần tư của tử cung mẹ, đánh giá AFI sau mỗi 100 ml dung dịch được truyền. Kết quả: các khoảng AFI tương ứng với thể tích truyền là:

sau 100 ml = 5–11 cm (trung bình 6,5 cm); sau 200 ml = 9–12,7 cm (trung vị 10,3 cm); sau 300 ml = 10–17 cm (trung vị 13,5 cm) và sau 400 ml = 12–16 cm (trung vị 15 cm). Mối tương quan giữa AFI và thể tích truyền là r = 0,81 (p <0,0001), phương sai là r2 = 0,65, cho thấy 65% sự thay đổi trong các phép đo AFI được tính trực tiếp bởi thể tích nước ối và 35% của các phép đo AFI được tính đến bởi các yếu tố khác ngoài thể tích nước ối. Có mối tương quan chặt chẽ giữa AFI và thể tích truyền nước ối (trung vị 6,5, 10,3, 13,5 và 15 cm sau khi truyền nước ối lần lượt là 100, 200, 300 và 400 ml dung dịch muối) [39]. Như vậy rõ ràng truyền dịch ối sẽ làm tăng thể tích nước ối, có thể ứng dụng trong điều trị thiểu ối cho thai phụ.

Đại học Szeged ở Hunggary (2011) tiến hành nghiên cứu thay đổi tuần hoàn động mạch phổi và thai nhi sau khi truyền ối. Mục đích của nghiên cứu này là so sánh tuần hoàn tử cung và phổi của thai nhi bị thiểu ối vô căn (AFI

<5cm) nghiêm trọng (không rõ nguồn gốc) với thai bình thường. Mục đích tiếp theo của nghiên cứu là đo lường sự thay đổi của tuần hoàn phổi tử cung và thai nhi ở những bệnh nhân bị thiểu vô căn nặng, được điều trị bằng

phương pháp truyền ối. Nghiên cứu sơ bộ cho thấy truyền ối đơn / nối tiếp có một số tác dụng có lợi đối với kết quả của việc mang thai thiểu ối vô căn nghiêm trọng: truyền ối kéo dài thời gian mang thai, giảm sinh non và ngăn ngừa kết cục sơ sinh bất lợi [58].

Năm 2013, Kozinszky Z. và cộng sự đã phân tích đánh giá vai trò của truyền dịch vào buồng ối (APTA - antepartum transabdominal amnioinfusion) trong việc kiểm soát bệnh thiểu ối vô căn nghiêm trọng nhằm cải thiện kết quả mang thai trên 20 phụ nữ mang thai bị thiểu ối nặng được điều trị bằng APTA trong năm 2009 - 2012 cho kết quả: Tuổi thai trung bình ở lần điều trị đầu tiên là 22 tuần 3 ngày. Chỉ số nước ối trước thủ thuật <5 cm đã được phục hồi bằng cách điều trị đến 8 cm. Hơn một nửa số trường hợp mang thai (66,7%, 8/12) được điều trị bằng APTA kết thúc bằng sảy thai tự nhiên trong tam cá nguyệt thứ hai, chủ yếu là do vỡ màng ối (do hậu quả của việc lấp đầy retroamniotic bằng nước muối trong 4 trường hợp). Xác suất kéo dài đáng kể của thai kỳ càng cao. Như vậy, APTA là một thủ tục hữu ích trong việc quản lý thiểu ối nghiêm trọng, nhưng nó có thể được theo sau bởi tỷ lệ vỡ ối tương đối cao, đặc biệt là trong tam cá nguyệt thứ hai [45].

Bienstock J.L. và cộng sự (2014) đã báo cáo một trường hợp mắc chứng suy thận hai bên được điều trị bằng phương pháp chọc ối nối tiếp trong đó trẻ sơ sinh sống sót sau thời kỳ sơ sinh và có thể tiến hành lọc màng bụng như một cầu nối để ghép thận theo kế hoạch. Một phụ nữ 34 tuổi, thai 23 1/7 tuần tuổi thai với chẩn đoán thiểu ối nặng và chứng suy thận hai bên. Bệnh nhân đã trải qua quá trình truyền hàng tuần với mục tiêu cải thiện sự phát triển phổi của thai nhi. Khi thai được 28 tuần, bệnh nhân đã sinh được một trẻ sơ sinh sống cần được hỗ trợ hô hấp tối thiểu. Trẻ sơ sinh hiện 9 tháng tuổi và đang được lọc màng bụng hàng ngày. Các tác giả kết luận rằng truyền ối nối tiếp dường như đã làm giảm bớt sự thiểu sản phổi nghiêm trọng, trong quá khứ, dẫn đến cái chết của trẻ sơ sinh với chứng suy thận hai bên [19].

Nghiên cứu của Morita, A. và cộng sự (2014) về truyền nước ối điều trị cho những trường hợp bị sảy thai mạn tính do nguyên nhân thiểu ối mạn tính nhằm phòng các bệnh hô hấp ở trẻ sơ sinh. Sảy thai mãn tính do thiểu ối, đặc trưng bởi chảy máu âm đạo mãn tính và thiểu ối, có liên quan đến kết quả thai kỳ bất lợi, bao gồm sinh non và các vấn đề về phổi ở trẻ sơ sinh. Tổn thương phổi của thai nhi có thể không chỉ do thiểu ối mà còn do stress oxy hóa do sắt gây ra thông qua việc hút mãn tính các chất có máu trong nước ối. Nghiên cứu mô tả một thai kỳ phức tạp với tình trạng sảy thai mạn tính trên thai phụ thiểu ối được xử trí bằng cách truyền nước ối nhiều lần. Đây là báo cáo đầu tiên cho thấy việc truyền nước ối đã thành công trong việc giảm đáng kể nồng độ cao của sắt, lactose dehydrogenase và 8-hydroxy-2'-deoxyguanosine, một dấu hiệu tổn thương DNA oxy hóa, trong nước ối do sảy thai mạn tính phức tạp. Em bé được sinh ra ở tuổi thai 26 tuần bằng phương pháp mổ lấy thai, được xuất viện về nhà mà không có oxy bổ sung sau sinh 116 ngày [48]. Như vậy, truyền ối có hiệu quả phòng bệnh hô hấp ở trẻ sơ sinh ở sản phụ có tiền sử sảy thai mạn tính kèm theo thiểu ối.

Io S. và cs (2018) cũng đã chỉ ra truyền ối tạm thời làm tăng thể tích nước ối. Nghiên cứu mô tả một trường hợp thiểu ối nặng trong tam cá nguyệt thứ hai, truyền ối có thể đã phá vỡ thành công một vòng luẩn quẩn liên quan đến tình trạng thai nhi. Một phụ nữ 34 tuổi thiểu ối khi mang thai 22 tuần.

Truyền ối đơn cải thiện suy tuần hoàn của thai nhi, và bệnh nhân sinh con đủ tháng khỏe mạnh. Truyền ối đơn có thể là một phương pháp điều trị để cải thiện tiên lượng của thai kỳ khi thiểu ối nặng trong tam cá nguyệt thứ hai[42].

Nghiên cứu tổng quan của Warring Simrit K. và cs (2020) nhằm khảo sát tác dụng của liệu pháp truyền nước ối nối tiếp đối với thiểu sản phổi trong tắc nghẽn đường tiết niệu dưới hoặc dị tật thận bẩm sinh ở thai nhi trong quá trình phát triển. Nghiên cứu tổng quan đã tổng hợp số liệu từ tám nghiên cứu với 17 bệnh nhân cho kết quả: tuổi trung bình của các bà mẹ là 31 tuổi, số lần chọc ối trung bình là 7, tuổi thai trung bình khi được chọc ối lần đầu là 23

tuần 4 ngày, tuổi thai khi sinh là 32 tuần 2 ngày, cân nặng lúc sinh của trẻ sơ sinh là 3,7kg, điểm Apgar lúc 1 phút là 2,5 và điểm Apgar ở phút thứ 5 là 5,5.

Kết luận, liệu pháp truyền nước ối nối tiếp có thể làm dịu phổi thai nhi bằng cách giảm nguy cơ tổn thương phổi ở trẻ sơ sinh thứ phát do thiểu ối [63].

Hiện nay ở Việt Nam cũng có một vài nghiên cứu về hiệu quả của phương pháp này, tuy nhiên vẫn là những báo cáo với cỡ mẫu nhỏ (<10 ca), hoặc báo cáo ca lâm sàng do đó độ tin cậy chưa cao. Ở Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec tiến hành nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị truyền ối cho 8 ca. Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hoài và cs (2018) về đánh giá kết quả truyền ối điều trị thiểu ối tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec thấy: Tuổi thai trung bình của thai nhi khi được truyền ối là 27,0 ± 5,3 tuần, lượng ối truyền trung bình 325 ± 84 ml, thời gian truyền trung bình 35,6 ± 15,6 phút.

Thời gian tiếp tục duy trì thai nghén trung bình: 6,8 ± 5,4 tuần. Có 85,7% trẻ sơ sinh sống sót khi truyền ối ở tuổi thai trên 22 tuần. Các tác giả cũng khẳng định: truyền ối có thể thực hiện cho thai trên 16 tuần có chỉ số ối dưới 50mm, lượng dịch truyền và thời gian truyền tùy thuộc tuổi thai và chỉ số ối trước truyền. Truyền ối là một biện pháp có hiệu quả điều trị bệnh lý thiểu ối, tăng thời gian giữ thai trong tử cung, cải thiện rõ rệt về chỉ số ối từ đó giảm thiểu các ảnh hưởng có hại của thiểu ối đến thai nhi [13].

Tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, Vũ Văn Tâm và Vũ Thị Minh Phương đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả của truyền ối trong điều trị thiểu ối trên 40 thai phụ có tuổi thai từ 17 tuần tới 33 tuần. Kết quả cho thấy 19/40 bệnh nhân sinh con khỏe mạnh (47,5%), 8 ca thai lưu, 2 ca sảy thai và 11 trường hợp tử vong chu sinh. Tuổi thai trung bình tiến hành truyền ối là 24,38

± 4,86 tuần; tuổi thai trung bình lúc sinh 30,88 ± 7,39 tuần. Nghiên cứu ghi nhận 2 trường hợp bị rỉ ối phải kết thúc thai kì ở tuần 17 và 20; 17 trường hợp BN chuyển dạ đẻ sau 34 tuần, 2 trường hợp chuyển dạ sinh non từ 28 – 34 tuần, 21 ca sinh < 28 tuần. Tuổi thai tiến hành bơm ối càng cao thì tiên lượng kết cục thai kì có xu hướng tốt hơn [18].

Chương 2

Một phần của tài liệu luận văn bác sĩ sản khoa chuyên khoa 2 (Trang 27 - 33)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(88 trang)
w