Ở nghiên cứu này, chúng tôi có đề cập đến các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối.
Đánh giá các yếu tố về nhân khẩu học, tiền sử sản khoa và các yếu tố sinh lý của thai phụ và thai nhi ảnh hưởng đến kết quả thành công hay thất bại của phương pháp. Điều này chúng tôi chưa thấy có tác giả nào đánh giá các yếu tố này. Trên cơ sở này chúng tôi khuyến nghị các tác giả thực hiện các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, thời gian nghiên cứu dài hơn để có thể đánh giá được nguy cơ cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp. Từ đó đưa ra khuyến cáo, bài học kinh nghiệm khi thực hiện phương pháp này.
Ca truyền ối đầu tiên tại BV Phụ sản Hà Nội diễn ra vào cuối năm 2019
là một thai phụ mang thai ở tuần 24. Tại thời điểm này, thai phụ có biểu hiện hết ối sớm, thai suy dinh dưỡng. Thai phụ được bác sĩ BV Phụ sản Hà Nội thực hiện phương pháp truyền ối để điều trị thiểu ối thành công. Trẻ sinh ra khoẻ mạnh sinh lý bình thường. Trong một trường hợp khác, một thai phụ khác nữa cũng có thai kỳ phức tạp đó là, trong suốt những tuần đầu bụng thai phụ chỉ cứng, thai không thể co duỗi, em bé nằm im bất động. Khi bác sĩ truyền nước ối vào em bé có thể cử động, co duỗi chân tay và người mẹ cũng cảm nhận rõ được con mình đang đạp. Đây là những bệnh nhân đầu tiên được áp dụng phương pháp và điều trị thành công.
Yếu tố đầu tiên chúng tôi muốn đề cập trong nghiên cứu là tuổi của thai phụ. Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.17 cho thấy ở nhóm thai phụ ≥35 tuổi có tỉ lệ thành công 90,9% cao hơn nhóm < 35 tuổi (83,3%) Tuy nhiên không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi thai phụ và kết quả điều trị với p >0,05. Về điều này chúng tôi nhận thấy yếu tố tuổi thai phụ cũng ở nhóm bệnh nhân cao tuổi hơn cũng liên quan đến việc thai phụ sinh con lần này là con rạ hay con so. Nghiên cứu của Figueroa năm 2020 cho thấy Tỷ lệ thiểu ối cũng không liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu học của mẹ và kết quả điều trị thiểu ối cũng không có liên quan đến nhiều kết quả bất lợi cho bà mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh [29].
Về nghề nghiệp và nơi ở, chúng tôi cũng không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, thai phụ trong nhóm cán bộ viên chức có tỷ lệ điều trị thành công chiếm 71,4% thấp hơn các nhóm nghề khác. Nhóm thai phụ sống ở thành thị có tỷ lệ điều trị thành công cao chiếm 92,0% hơn nhóm thai phụ ở nông thôn chiếm 78,9%. Tuy nhiên kết quả này cũng đặt ra cho chúng tôi câu hỏi liệu điều kiện sống, chăm sóc và quản lý thai nhi tốt hơn cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị thiểu ối?? Một số nghiên cứu từ các quốc gia có thu nhập cao cho kết quả rằng việc điều trị một số trường hợp thiểu ối
có thể cải thiện rõ rệt [22], [60], [35]. Tuy nhiên các tác giả cũng đưa ra giả thuyết liệu rằng các biện pháp can thiệp như truyền ối có đạt được kết quả tương tự ở các nước thu nhập trung bình và thu nhập cao hay không [61], [38]. Ở một số nghiên cứu, người ta thấy rằng siêu âm không được sử dụng phổ biến trong quá trình chăm sóc trước khi sinh định kỳ ở nhiều quốc gia có thu nhập thấp và trung bình ảnh hưởng đến việc phát hiện thiểu ối và quản lý thai nghén [34].
Nghiên cứu của Lâm Đức Tâm và Nguyễn Vũ Quốc Huy cho thấy số trường hợp thiểu ối con so chiếm nhiều hơn con rạ [16]. Điều này có thể lý giải do mang thai lần đầu chưa có kinh nghiệm trong việc chăm sóc sức khỏe thai nghén cũng như là sắp xếp chế độ ăn uống, ngủ nghỉ hợp lý. Một khi tuần hoàn đến bánh nhau kém dẫn đến việc nhau sẽ vôi hóa sớm, nhau tiết nội tiết tố giảm thiểu trao đổi chất mẹ - con [33]. Một khi giảm tưới máu mạn và giảm tưới máu đến thận dẫn đến giảm độ lọc cầu thận làm giảm bài tiết nước tiểu [32]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy ở nhóm thai phụ có đã có con có tỷ lệ thành công cao (100%) hơn nhóm thai phụ chưa có con (85,7%). Không có mối liên quan giữa số lần để của thai phụ với kết quả điều trị thiểu ối bằng phương pháp truyền ối với p >0,05.
Bảng 3.20 và 3.21 cho thấy nhóm thai phụ không có bệnh kèm theo có tỷ lệ thành công cao chiếm 86,3% hơn nhóm có bệnh kèm theo chiếm 75%.
Nhóm thai phụ với tiền sử sảy thai, thai lưu có tỷ lệ thành công cao chiếm 88,2% hơn nhóm thai phụ không có tiền sử sảy thai, thai lưu. Tuy nhiên chúng tôi không thấy thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tiền sử sảy thai, thai lưu. Một số yếu tố của mẹ, nhau thai và thai nhi, bao gồm màng ối bị vỡ, bất thường của thai nhi, yếu tố di truyền, bệnh của mẹ, tình trạng dinh dưỡng, đa thai, sử dụng thuốc chống viêm không steroid (NSAID) đã được phát hiện là có liên quan đến thiểu ối [28]. Vì vây, chúng tôi vẫn đặt ra
giả thuyết về mối liên quan giữa tiền sử bệnh tật với kết quả thành công của phương pháp.
Ở những ứng dung siêu âm phổ biến trong quản lý thai nghén, tỷ lệ thiểu ối đã được báo cáo từ 0,5 đến 8% ở phụ nữ mang thai [36]. Khi liên quan đến dị tật thai nhi, thiểu ối xuất hiện ở 37% trường hợp mang thai và cao hơn với các biến chứng thai kỳ khác. Các tình trạng của người mẹ như suy tử cung- nhau thai, tăng huyết áp, tiền sản giật, tiểu đường, thiếu oxy mãn tính, vỡ màng ối, mất nước và sinh non có liên quan đến thiểu ối. Các bất thường của thận bao gồm không có mô thận bẩm sinh, bệnh tắc nghẽn đường tiết niệu hoặc giảm tưới máu thận cũng có thể là các yếu tố góp phần [20]. Sức khỏe của thai nhi có thể bị tổn hại nghiêm trọng do thiểu ối, với các biến chứng như thiểu sản phổi, hội chứng hít phân su, chèn ép thai nhi và nhiễm trùng trong trường hợp vỡ ối kéo dài [52]. Vì vậy cần theo dõi và phát hiện sớm thiểu ối; Song đến nay vẫn còn quá nhiều thai phụ mắc hội chứng thiểu ối nguy hiểm song không được chẩn đoán kịp thời tại tuyến dưới, khi tới Bệnh viện Phụ sản đã quá muộn, việc can thiệp không còn tác dụng, tước mất đi cơ hội sống của những đứa trẻ.
Thiểu ối gặp ở các nhóm tuổi thai, đối với các trường hợp còn nguyên màng ối tuổi thai từ 16 đến 34 tuần có thể thực hiện được phương pháp này Trong nghiên cứu này, nhóm tuổi thai từ 28 tuần trở lên có tỷ lệ thành công cao chiếm 95,0% hơn các nhóm còn lại. Tuổi thai càng tăng thì điều trị thiểu ối bằng phương pháp truyền ối sẽ càng thành công. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05.
Kết quả bảng 3.24 và 3.25 cho thấy nhóm thai phụ có chỉ số ối ≥ 20 mm có tỷ lệ thành công chiếm 90,3% cao hơn nhóm còn lại. Nhóm truyền từ 500ml dịch trở lên để điều trị thiểu ối có tỷ lệ thành công chiếm 84,7% cao hơn nhóm truyền dưới 500 ml chiếm 75%. Tuy nhiên sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê với p>0,05. Ở nghiên cứu nghiên cứu của Nguyễn Thu Hoài và cộng sự cho thấy đa phần chỉ số ối tăng trở lại mức bình thường (trên 80mm) trong vòng 4 tuần đầu sau thủ thuật, chỉ có 1 trường hợp ối dù cải thiện hơn trước nhưng vẫn duy trì dưới 80mm trong vòng 4 tuần rồi sau đó mới tăng về mức bình thường ở tuần thứ 5 sau truyền ối và duy trì tốt đến khi sinh đủ tháng (39 tuần) [13]. Rõ ràng kết quả nghiên cứu trên cho thấy sự cải thiện rõ rệt về chỉ số ối của các trường hợp can thiệp, từ đó giảm thiểu các ảnh hưởng có hại của thiểu ối đến thai nhi, đồng thời cũng cho thấy chỉ cần một lượng ối đủ cho tuần hoàn thai nhi có thể tự tái sản xuất lượng nước ối về mức bình thường.
Ngoài ra đối với trường hợp thiểu ối việc điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Cơ sở vật chất, phác đồ điều trị của bệnh viện, kinh nghiệm của các nhà sản khoa…[59]. Do đó mỗi bác sĩ, mỗi bệnh viện có cách xử trí khác nhau. Tuy nhiên, truyền ối cũng là kỹ thuật cao, có nguy cơ tai biến, đòi hỏi bác sĩ thực hiện phải có nhiều kinh nghiệm chọc ối, phải thực hiện tại cơ sở có phòng can thiệp bào thai đạt tiêu chuẩn vô khuẩn, cũng như có đội ngũ bác sĩ chuyên khoa sản khoa và sơ sinh với trình độ cao. Do đó, không phải bệnh viện nào cũng áp dụng được.
Tóm lại, tuy không có tài liệu ở Việt Nam cũng như trên thế giới đề cập đến vấn đề này nhưng bước đầu chúng tôi thấy có mối liên quan giữa tuổi thai phát hiện thiểu ối và kết quả điều trị, do vậy cần quản lý thai nghén cho các thai phụ ở mỗi giai đoạn của thai kỳ để có thái độ xử trí phù hợp.