Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Một phần của tài liệu luận văn bác sĩ sản khoa chuyên khoa 2 (Trang 63 - 69)

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của các thai phụ là 29,32 ± 5,5 tuổi. Trong đó nhóm tuổi 25-34 chiếm tỷ lệ cao nhất là 71,4%.

Tuổi thai phụ nhỏ nhất là 20 tuổi. Tuổi thai phụ lớn nhất là 49 tuổi. Tuổi các thai phụ được cho là phù hợp vì đây là độ tuổi sinh đẻ nói chung. Độ tuổi trung bình của chúng tôi tương đồng với độ tuổi của các thai phụ trong nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Tâm tại bệnh viện Phụ sản Hải Phòng: tuổi thai phụ can thiệp truyền ối trung bình là 31,94 ± 4,93tuổi [18].

4.1.2. Nghề nghiệp và nơi ở

49,2% thai phụ thiểu ối trong nghiên cứu của chúng tôi có nghề nghiệp là cán bộ viên chức chiếm tỷ lệ cao nhất, còn nhóm thai phụ là công nhân, nông dân chỉ chiếm tỷ lệ thấp với 12,7% và 1,6%. Nghiên cứu của Trần Thị Hà cho thấy tỷ lệ thiểu ối cao ở bà mẹ nghề nghiệp là cán bộ viên chức (36,7%) và thấp ở nhóm bà mẹ nghề nghiệp là công nhân (14,1%) [7]. Tương tự, nghiên cứu của Lê Lam Hương cũng cho thấy tỷ lệ thiểu ối cao ở bà mẹ nghề nghiệp là cán bộ viên chức (52,7%) và ở bà mẹ nghề nghiệp nông dân chiếm tỷ lệ thấp hơn là 32,7% [9]. Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả phù hợp với các nghiên cứu trên.

Kết quả của chúng tôi ghi nhận có 60,3% thai phụ thiểu ối ở nông thôn và 39,7% ở thành thị. Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Lâm Đức Tâm thai phụ ở nông thôn là 62,5% [16]. Nghiên cứu của Lê Lam Hương

cũng cho thấy 52,3% thai phụ thiểu ối sống ở nông thôn và 47,2% thai phụ thiểu ối sống ở thành thị [9]. Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi lại khác với nghiên cứu của Phạm Thị Thu Hồng và nghiên cứu của Trần Thị Hà. Trong các nghiên cứu này thì số thai phụ thiểu ối ở thành thị gặp nhiều hơn số thai phụ thiểu ối sống ở nông thôn [7], [14].

4.1.3. Tuổi thai và chỉ số ối

Theo kết quả bảng 3.4. cho thấy tuổi thai bị thiểu ối chủ yếu ở nhóm 22- 27 tuần chiếm 52,4%, sau đó đến nhóm 28-32 tuần chiếm 31,7% và nhóm nhóm 16-21 tuần chiếm tỷ lệ thấp nhất với 15,9%. Kết quả này của chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hoài: trong 8 bệnh nhân được tiến hành truyền ối, đa phần các trường hợp hết ối không rõ nguyên nhân gặp ở tuổi thai 22 đến 32 tuần chiếm tới 57,5% [13].

Thiểu ối được xác định là tình trạng nước ối ít hơn bình thường theo tuổi thai, khi AFI <50mm hoặc góc ối sâu nhất <20mm và màng ối còn nguyên vẹn.

Chúng tôi phân chia mức độ thiểu ối thành 3 mức độ khác nhau dựa vào chỉ số nước ối: khi AFI < 20mm được coi là hết ối, kết quả cho thấy có 32 thai phụ có chỉ số nước ối ở mức độ này, chiếm đa số các trường hợp với 50,8%. AFI từ 20 - <

40mm là thiểu ối ở mức độ vừa, tỷ lệ ở nhóm này chiếm 30,2% với 19 thai phụ. AFI từ 40 - 50mm là thiểu ối ở mức độ nhẹ và có 12 thai phụ ở mức độ này với tỷ lệ 19%. Các thai phụ trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là ở mức độ thiểu ối nặng, khác với nghiên cứu của một số tác giả khác như Trần Thị Hà, Lê Lam Hương hay Ninh Văn Minh là hầu hết các trường hợp thiểu ối ở mức độ trung bình và nhẹ [7], [9], [10].

Chúng tôi cũng tính chỉ số nước ối AFI trung bình theo tuổi thai ở

bảng 3.6. Kết quả cho thấy chỉ số ối trung bình của nhóm đối tượng nghiên cứu là 26,3 ± 15,5 mm. Trong đó ở nhóm tuần thai từ 22-27 tuần có chỉ số ối trung bình cao nhất 27,2 ± 16,4 mm. Tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số ối và tuần tuổi thai, p>0,05.

Bàn về số lượng thai của các thai phụ trong nghiên cứu cho thấy nhóm thai phụ có 1 thai thiểu ối chiếm đa số với 56 trường hợp, tỷ lệ là 88,9%. Còn lại là các trường hợp 2 thai thiểu ối và 2 thai thiểu ối (1 thai lưu). Từ đó cho thấy bên cạnh đơn thai thì các trường hợp song thai vẫn có thể truyền ối mặc dù khó khăn hơn về mặt kỹ thuật cũng như nhiều nguy cơ hơn đơn thai.

4.2. Kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

Để đánh giá kết quả điều trị thiểu ối của phương pháp truyền dịch Ringer lactat vào buồng ối, chúng tôi đã tiến hành so sánh kết quả trên siêu âm các chỉ số trung bình về tuổi thai, trọng lượng thai, chỉ số ối AFI và chiều dài CTC vào các thời điểm khác nhau bao gồm: trước và sau truyền ối 2 ngày, trước truyền ối và trước khi kết thúc thai kỳ

4.2.1. Kết quả siêu âm trước và sau truyền ối

Kết quả cho thấy các chỉ số trung bình AFI và dài CTC sau truyền ối 2 ngày và trước khi kết thúc thai kỳ đều tăng so với trước khi truyền ối. Cụ thể, theo bảng 3.7 và 3.8 cho thấy: Chỉ số nước ối AFI đã tăng trở lại mức bình thường (trên 80mm) từ 26,3mm lên 84,2 mm và duy trì tốt đến khi kết thúc thai kỳ còn chiều dài CTC tăng từ 32,5mm lên 33,3 mm sau truyền 2 ngày. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với các p < 0,05. Kết quả trên cho thấy sự cải thiện rõ rệt về các chỉ số đặc biệt là chỉ số ối của các trường hợp can thiệp, từ đó giảm thiểu các ảnh hưởng có hại của thiểu ối đến thai nhi, đồng thời cũng cho thấy chỉ cần một lượng ối đủ cho tuần hoàn thai nhi có thể tự tái sản

xuất lượng nước ối về mức bình thường.

Tuổi thai trung bình can thiệp khi truyền ối (25,1 tuần) và khi kết thúc thai kì (32,7 tuần) của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Tâm với tuổi thai trung bình tiến hành truyền ối là 24,38 ± 4,86 tuần, tuổi thai trung bình lúc sinh là 30,88 ± 7,39 tuần [18].

4.2.2. Lượng dịch truyền ối theo tuổi thai truyền ối

Lượng dịch truyền trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là là 534,4

± 138,1 ml. Lượng dịch truyền này phụ thuộc vào tuổi thai, chỉ số ối ban đầu, sự xuất hiện cơn co tử cung, vị trí khi đặt kim truyền ối. Trong đó nhóm tuổi thai 22 – 27 tuần có lượng dịch truyền trung bình cao nhất với 557,2 ml, sau đó đến nhóm 28-32 tuần với 542,5 ml và nhóm 16-21 tuần có lượng dịch truyền trung bình thấp nhất với 451,5 ml. Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa lượng dịch trung bình ở các nhóm tuổi thai với p > 0,05.

Thời gian thực hiện truyền ối trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 57,1 phút. Thời gian truyền trung bình ở nhóm tuổi thai 16 – 21 tuần là lâu nhất với 58,5 phút sau đó đến nhóm tuổi thai 28-32 tuần với 58,1 phút và nhóm tuổi thai trên 32 tuần có thời gian truyền thấp nhất với 55 phút. Tương tự như thể tích truyền, thời gian truyền và số lần truyền phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó theo nhóm nghiên cứu tuổi thai là một yếu tố quan trọng. Theo bảng 3.12. cho thấy số lần truyền ối trung bình là 1,3 lần, tuổi thai tăng dần thì số lần truyền ối giảm dần. Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p >0,05.

Lượng dịch truyền ối và thời gian thực hiện truyền ối trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn lượng dịch truyền và thời gian truyền trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hoài còn số lần truyền ối thì tương tự: thể tích dịch truyền trung bình là 325 ± 84 ml, thời gian thực hiện kỹ thuật trung

bình là 35,6 ± 15,6 phút, số lần truyền ối trung bình là 1,125 lần [13]. Chúng tôi truyền một lượng dịch lớn hơn do đó thời gian truyền dịch sẽ lâu hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thu Hoài.

So sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với kết quả nghiên cứu của Vũ Văn Tâm cũng cho thấy số lần truyền ối và tổng lượng dịch truyền ối trung bình khác nhau giữa hai nghiên cứu. Số lần truyền ối trung bình của tác giả Vũ Văn Tâm là 2,5 ± 1,79 lần cao hơn nghiên cứu của chúng tôi, trong đó ít nhất là truyền ối 1 lần, nhiều nhất là 6 lần. Tổng lượng dịch truyền vào buồng ối trung bình là 106,38 ± 79,69 ml, thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi. Có sự khác biệt này là do nghiên cứu của Vũ Văn Tâm bơm mỗi lần lượng dịch không quá nhiều để giúp bệnh nhân thích nghi từ từ với áp lực tăng lên trong buồng ối [18]. Tuy nhiên truyền ối nhiều lần có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và vỡ ối, vì vậy chỉ định truyền ối nhiều lần cần hết sức cân nhắc, do đó số lần truyền ối trung bình của chúng tôi chỉ là 1,3 lần [41].

4.2.3. Tuổi thai khi có chỉ định truyền ối và quá trình theo dõi sau đó

Kết quả ở bảng 3.12 là thời gian theo dõi trung bình từ khi tiến hành truyền ối cho đến khi sinh. Đây là thời gian duy trì thai nghén sau khi tiến hành truyền ối. Thời gian duy trì thai nghén trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 7,5 tuần và tuổi thai kết thúc thai kỳ trung bình là 32,8 tuần. Nhóm tuổi thai 22-27 tuần có thời gian duy trì thai nghén lâu nhất được 9,8 tuần trong khi nhóm tuổi thai 28-32 tuần có thời gian duy trì thai nghén thấp nhất với 4,5 tuần. Nhóm tuổi thai 16-21 tuần kết thúc thai kỳ sớm trung bình ở 24,8 tuần trong khi với nhóm thai >32 tuần thường kết thúc thai kỳ sau 39 tuần.

Kết quả này của chúng tôi tương tự kết quả của tác giản Vũ Văn Tâm:

Thời gian theo dõi trung bình từ khi tiến hành lần bơm ối đầu tiên đến khi sinh: 7,2 ± 6,4 tuần và cao hơn so với kết quả của tác giả Nguyễn Thu Hoài:

thời gian tiếp tục duy trì thai nghén trung bình là: 6,8 ± 5,4 tuần [13], [18].

Với kết quả trên, có thể thấy truyền ối là một trong các biện pháp có hiệu quả điều trị bệnh lý thiểu ối, tăng thời gian giữ thai trong tử cung.

4.2.4. Kết quả điều trị truyền ối bằng dung dịch Ringer lactate

Thiểu ối gây nhiều ảnh hưởng cho thai, đặc biệt trong tình trạng thiểu ối xuất hiện sớm và kéo dài. Những biến chứng thường gặp của thiểu ối là thiểu sản phổi, các biến chứng thần kinh, dị tật thai nhi và nhiễm trùng huyết sơ sinh, thậm chí tử vong thai [3], [2]. Kết quả điều trị thiểu ối bằng phương pháp truyền Ringer lactate trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tình trạng trẻ đẻ non chiếm tỷ lệ cao nhất với 31 trường hợp chiếm 49,2% sau đó đến trẻ đẻ đủ tháng với 23 trường hợp chiếm 36,5%. Có 5 trường hợp bị vỡ ối chiếm 7,9%. Còn lại là 3 trường hợp thai lưu (4,7%), 1 trường hợp thai chậm phát triển (1,6%) và 1 trường hợp phù thai (1,6%).

Trong 63 ca can thiệp truyền ối có 56 ca đã sinh con khỏe mạnh sau 1 tháng chiếm 88,9%, 6 ca tử vong ngay sau sinh (8,4%),1 ca suy hô hấp. Kết quả này tương tự so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thu Hoài tỷ lệ sơ sinh sống là 85,7% và cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Vũ Văn Tâm tỷ lệ sơ sinh sống là 47,5% [13].

Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên một cỡ mẫu lớn hơn (63 trường hợp) nghiên cứu của Nguyễn Thu Hoài tại viện Vinmec tiến hành trên 8 bệnh nhân được can thiệp truyền ối, nghiên cứu của Vũ Tăn Tâm tại viện Phụ sản Hải Phòng nghiên cứu trên 40 bệnh nhân được can thiệp truyền ối do đó số liệu của chúng tôi có tính phân loại cao hơn [13, 18]. Tỷ lệ trẻ sinh sống 88,3% là 1 tỷ lệ khả quan trong can thiệp điều trị thiểu ối, điều này đồng nghĩa với việc cứ 10 bệnh nhân thiểu ối thì chúng tôi có thể cứu được gần 9 thai nhi nhờ phương pháp này. Trong nghiên cứu của tác giả Chhabra S. và cộng sự tại khoa Phụ sản, Viện Y học Mahatma Gandhi ở Ấn Độ (2007) nghiên cứu đối chứng với 100 phụ nữ mang thai bị thiểu ối, 50 người được

truyền ối và 50 người theo dõi. Kết quả: Có sự gia tăng trung bình 4,02 cm trong chỉ số nước ối (AFI) sau khi truyền ối. Tỷ lệ tử vong chu sinh là 18,0%

ở nhóm chứng và 4,0% ở nhóm được truyền ối (p<0,05). Tác giả đã kết luận rằng truyền ối là một phương pháp hữu ích để giảm các biến chứng do giảm thể tích nước ối, đặc biệt là trong các trường hợp thiểu ối xuất hiện sớm trước 26 tuần, vì thủ thuật này cho kết quả chu sinh tốt hơn bằng cách giúp thai nhi tiếp tục được phát triển trong tử cung, nên thai nhi sẽ trưởng thành hơn, ít gặp các biến chứng như sinh non hay dị dạng thai, thiểu sản phổi [31].

Như vậy các tác giả trong nước và quốc tế đều ghi nhận sự can thiệp tích cực của kỹ thuật truyền ối đến kết cục của thai kỳ, trong việc cải thiện tỷ lệ bệnh tật và tử vong chu sinh. Đây cũng là phương pháp hiệu quả nhất cho đến hiện nay trong điều trị thiểu ối, tăng thời gian giữ thai trong tử cung, cải thiện rõ rệt về chỉ số ối từ đó giảm thiểu các ảnh hưởng có hại của thiểu ối đến thai nhi, cải thiện kết cục thai kỳ.

Một phần của tài liệu luận văn bác sĩ sản khoa chuyên khoa 2 (Trang 63 - 69)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(88 trang)
w