Tiểu luận Triết học Phật giáo trình bày về nguồn gốc sự ra đời của Phật giáo, tư tưởng cơ bản triết học Phật giáo, những giá trị tích cực của tư tưởng Phật giáo, những ảnh hưởng Phật giáo tới văn hóa xã hội Việt Nam
Trang 10
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
*************
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
Giảng viên: TS Phạm Minh Ái
Học viên thực hiện : Nguyễn Thị Lan Phương
Nguyễn Thị Hương Giang Khuất Văn Đức
Bùi Văn Phượng Cao Việt Anh Trần Hải Anh Nguyễn Hoàng Long Hoàng Vĩnh Toàn
Trang 21
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
CHƯƠNG I – SỰ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO 3
1.1 Giới thiệu 3
1.2 Xã hội Ấn Độ thời Phật 3
1.3 Tư tưởng Ấn Độ thời Phật 5
1.4 Cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni 7
CHƯƠNG II – NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 9
2.1 Nhận thức luận Phật giáo 10
2.2 Thế giới quan của Phật giáo 13
2.3 Nhân sinh quan Phật giáo 18
2.3.1 Quan điểm Phật giáo về con người 18
2.3.2 Tứ diệu đế 21
CHƯƠNG III – NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ GIÁ TRỊ TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 26
3.1 Những quan điểm giá trị tích cực của triết học Phật giáo 26
3.1.1 Giá trị khoa học của Phật giáo 26
3.1.2 Giá trị thiết thực của tư tưởng Phật giáo 27
3.2 Những hạn chế 30
CHƯƠNG IV - ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TỚI VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG Ở VIỆT NAM 33
4.1 Phật giáo với văn hóa tinh thần Việt Nam 33
4.1.1 Những dấu ấn trong tục ngữ 34
4.1.2 Những dấu ấn trong ca dao 35
4.1.3 Những dấu ấn trong văn học 36
4.2 Phật giáo Việt Nam với tư tưởng chính trị trong lịch sử dân tộc 39
4.3 Phật giáo Việt Nam với nghệ thuật dân tộc 40
4.4 Phật giáo Việt Nam với đạo đức dân tộc 41
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 32
LỜI NÓI ĐẦU
Chúng ta hiện đang sống trong thời đại khoa học - thời đại mà con người có khuynh hướng chỉ chấp nhận điều gì là chân lý sau khi đã thận trọng quan sát và thí nghiệm, hơn
là vì tin tưởng suông Với những tiến bộ mới đây của khoa học, lối nhìn của con người càng ngày càng trở nên thuần lý, và đức tin mù quáng đã nhanh chóng biến tan Nói chung, khoa học đã phần nào là mối đe dọa đối với tôn giáo (Religion: A belief in, or the worship
of, a god or gods Reverence a particular system of belief or worship - Một niềm tin vào, hoặc sự thờ phượng một vị thần hoặc các vị thần Sự sùng bái một hệ thống tín ngưỡng hoặc thờ cúng cụ thể Theo định nghĩa này của Cambridge Dictionary, Phật giáo không hẳn là một tôn giáo) Từ thời Copernicus, Galileo và Bruno (thế kỷ thứ 17), con người đã làm suy giảm ít nhiều ý niệm sai lầm về vũ trụ, sự đe dọa này đã trỗi lên chống lại nhân sinh quan và vũ trụ quan của tôn giáo Học thuyết về sự tiến hóa và về khoa tâm lý của thời hiện đại không trùng hợp với quan niệm đã được chấp nhận của các tôn giáo, về con người
và tâm linh, ghi chép trong các “văn phẩm có tính cách thiêng liêng”
Phật giáo có chịu chung một số phận với các tôn giáo không? Khoa học hiện đại có nhìn Phật giáo với cái nhìn “bất thân thiện” không? Dầu các nhà phê bình Phật giáo có thể nói như thế nào, người tìm hiểu giáo lý của Đức Phật sẽ nhận định rằng những nguyên tắc căn bản của đạo Phật luôn luôn hòa hợp với các phát minh hiện đại của khoa học
“Khi đề cập đến các vấn đề tôn giáo và luân lý, Phật giáo nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lối nhìn khoa học Những “tín điều” Phật giáo được cho biết là có thể kiểm nhận Và lối giải thích bản chất con người và vũ trụ của Phật Giáo hòa hợp với những phát minh khoa học, hơn là có sự khác biệt ”
Trong phạm vi môn Triết học dành cho đối tượng đào tạo Thạc sĩ không thuộc chuyên ngành Triết học, trong tiểu luận này nhóm tôi muốn trình bày những nội dung cơ bản nhất về sự hình thành, tư tưởng cơ bản của Triết học Phật giáo, cùng những điểm tích cực, tiêu cực của Phật giáo nói chung và ảnh hưởng của Triết học Phật giáo đến văn hóa
và đời sống Việt Nam nói riêng để có thể đem lại một cái nhìn tổng quan về Phật giáo Đồng thời mong muốn có một đánh giá đúng đắn về vai trò của Phật giáo đối với sự phát triển của xã hội trong thời kỳ cách mạng công nghệ đang bùng nổ
Trang 4Khi mới sanh ra, Ngài mang tên là Tất Đạt Đa (Siddhàrta) do chữ Sarvàrthasiddha, dịch là
"Nhất thế nghĩa thành" (mọi sở nguyện đều thành tựu) Phụ vương ngài là Tịnh Phạn (Suddhodana) vua thành Ca Tỳ La Mẫu hậu ngài là Ma Da phu nhân (Màyà) Ngài thuộc dòng Cồ Đàm (Gautama), nên đời thường gọi Ngài là Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhartha Gautama), thuộc chi phái Thích ca (Sàkya), dịch là "Năng nhân" Lại nhân Ngài đi tu, nên đời tôn xưng Ngài là Mâu Ni (Muni), dịch là "Tịch Mặc" Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là người ẩn dật của dòng họ Thích Ca
Sự xuất hiện của Thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm đánh dấu một bước tiến quyết định vĩ đại của lịch sử nhân loại, mà giáo điển Phật giáo gọi là "Phật vị nhất đại sự nhân duyên, xuất hiện
ư thế, khai ngộ chúng sinh nhập Phật tri kiến" (Phật vì một nhân duyên lớn mà xuất hiện ở đời, đó là khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật), khai sinh ra Đạo Phật
Để hiểu thêm về Đạo Phật, ta hãy tìm hiểu Phật ra đời trong hoàn cảnh nào và ảnh hưởng của Ngài đối với đương thời cũng như đối với hậu thế ra sao
Sau khi chinh phục xong Ấn Độ, giai cấp lãnh đạo tinh thần của giống người A Lỵ A là đạo sĩ Bà la môn bèn cho công bố pháp điển Mã Nỗ (Bộ luật Manu), căn cứ vào đó, kẻ chiến thắng xây dựng trật tự xã hội mới
Luật Mã Nỗ chia toàn thể lãnh thổ Ấn độ của người Dravida thành Ngũ Ấn và chia toàn thể dân chúng sống trên lãnh thổ ấy thành bốn giai cấp, trong đó có hai giai cấp thống trị
là Bà la môn và Sát đế lỵ, còn hai giai cấp Phệ xá và Thủ đà la là hai giai cấp bị áp bức
Để củng cố địa vị, giáo sĩ Bà la môn (Bràhman), tác giả pháp điển Mã Nỗ, tự liệt mình vào hạng nhất, nắm độc quyền về học thuật tư tưởng, buộc ba giai cấp kia phải răm rắp tuân theo Và để ràng buộc ba giai cấp kia, họ sử dụng nhiều thần chú bí hiểm và giữ độc quyền chủ trì tế lễ
Trang 5Hận thù vì bị nước mất nhà tan vốn đã cao độ, chế độ xã hội bất công càng nung nấu thêm hận thù ấy Xung đột giữa hai phe, khi ngấm ngầm, khi bộc phát, là một ung nhọt thường trực của xã hội Ấn thời bấy giờ Nhưng bất cứ một xung đột nào xảy ra cũng đều vị dập tắt một cách tàn nhẫn Hai giai cấp Thủ đà la và Phệ xá sống trong uất hận của địa ngục trần gian
Khi người A Lỵ A thiết lập Ngũ Ấn, toàn thể lãnh thổ Ấn Độ được chia thành nhiều vương quốc (Thị tộc) Lãnh thổ của dòng họ Thích Ca là một trong những vương quốc ấy Vị vua đầu tiên của dòng họ này tên là "Chúng Sở Hứa" (Được mọi người ưa thích) Từ viễn tổ Chúng Sở Hứa truyền đến đời Đại Thiện Sanh Vương là tổ bảy đời của thái tử Tất Đạt Đa
Hệ thống thừa kế như sau: Đại Thiện Sanh Vương - Sư Ma Ý - Ưu Đà La - Cồ La - Sư Tử Giáp - Tịnh Phạn Vương - Tất Đạt Đa
Giữa lúc những xung đột xã hội gay gắt nhất, Đức Phật xuất hiện, Ngài làm một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại, tuyên chiến với chế độ giai cấp bất công cao độ này Ngài thẳng tay xóa bỏ hết mọi giai cấp
Ngay khi còn ngồi tọa thiền dưới gốc cây Bồ đề, Ngài đã dõng dạc nêu nguyên lý cuộc cách mạng ấy bằng một tuyên ngôn dứt khoát: "Đại địa chúng sanh giai hữu Như lai trí tuệ đức tánh" (Hết thảy chúng sanh đều có đức tánh trí tuệ Như lai)
Đến khi ra hành hóa, Ngài đã thực hiện nguyên lý ấy bằng phương châm: "Tứ tánh xuất gia, đồng qui Thích thị" (Bốn giai cấp xuất gia đều mang tên họ Thích) Đó là trường hợp của Ưu Bà Ly, thuộc giai cấp Thủ đà la vốn xuất thân làm nghề thợ cạo và đổ thùng, về sau trở thành một trong mười vị đại đệ tử của Phật, đứng đầu về giới luật Đó là trường hợp của dâm nữ Ma Đăng Già cũng thuộc giai cấp Thủ đà la, về sau tu chứng quả A la hán Đó còn là trường hợp của nhiều vị khác nữa trong thánh chúng của Ngài, vốn sống bằng những nghề ti tiện và tủi nhục nhất trong xã hội Ấn Độ trước khi xuất gia
Trang 65
1.3 Tư tưởng Ấn Độ thời Phật
Thời kỳ này ở Ấn Độ có rất nhiều tư tưởng của các giáo phái, trường phái triết học với các chủ trương khác nhau, thậm chí đối lập nhau gay gắt Kinh điển nói, thời kỳ đó có đến 62 trường phái khác nhau, nhưng tựu trung cũng đều từ gốc 6 giáo phái của 6 vị giáo chủ có thanh thế có sức ảnh hưởng lớn mà trong kinh Phật thường gọi là “Lục sư ngoại đạo”
1- Pùrana Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp):
Chủ trương Vô nhân luận, Vô đạo đức luận, cho rằng sự mê ngộ của chúng sinh không có nhân duyên gì hết, các nghiệp thiện ác cũng không có quả báo Nội dung chủ yếu của giáo phái này như sau:
“Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chặn đường cướp giật, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng
bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo”
2- Makkhali Gosàla (Mạt-già-lê Cù-xá-lợi):
Chủ trương thuyết luân hồi tịnh hóa (thuyết định mệnh) Ông cho rằng sinh vật sống được cấu thành từ 12 yếu tố, gồm: "hư vô", "khổ", "lạc", "linh hồn", "đắc" (được), "thất" (mất),
"sinh" và "tử", ngoài 4 nguyên tố cơ bản là "địa", "thủy", "hỏa", "phong" Ông này đề xướng rằng tất cả đều được vận mệnh quyết định
Giáo phái này chủ trương không có nhân, không có duyên mà các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, mà các loài hữu tình bị nhiễm ô Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh Không có tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người Tất cả loài hữu tình, tất cả sanh vật, tất
cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi cá tánh của chúng
3- Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa Xí-xá-khâm-bà-la):
Chủ trương thuyết Đoạn diệt Học thuyết của giáo phái này cho rằng cả tâm lẫn vật đều tiêu diệt hết, không nhận có thiện ác họa phúc, nhân duyên quả báo, quá khứ vị lai v.v
mà chỉ chủ trương tận hưởng các thú vui ở đời hiện tại, tức cũng như Đoạn diệt luận, Duy vật luận, Cảm giác luận
Trang 76
Nội dung chính của chủ thuyết này như sau: không có bố thí, không có lễ hy sinh, không
có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Samôn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy lại Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở
về trả lại cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy giới, hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới, phong đại trở về trả lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi, chỉ có người ngu mới tán dương sự bố thí, lời nói của chúng trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự sống Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết
4- Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đà Ca-chiên-diên):
Phái này chủ trương sinh mệnh và vật chất đều thường trụ, bất diệt Tất cả các vật đều do
7 yếu tố: địa, thủy, hỏa, phong, khổ, lạc, sinh mệnh nương vào nhau, hòa hợp mà thành Sinh tử chỉ là một trường hợp tụ hay tán của bảy yếu tố trên, khi tán thì bảy yếu tố kia chỉ rời nhau ra, nhưng vẫn còn đấy Sinh mệnh là một trong bảy yếu tố đó, nên vẫn thường còn
Nội dung chủ yếu của giáo phái này như sau: “Có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sinh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng nhau Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau hoặc cả khổ và lạc Bảy thân ấy là gì? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng Bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc Ở đây không có người giết hại, hoặc
có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi”
5- Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-tử):
Chủ trương tu khổ hạnh, ép xác Giáo phái này còn có tên khác là đạo Jain, xuất hiện ở Ấn
Độ cùng thời kỳ với đạo Phật hoặc trước đạo Phật đôi chút Học thuyết của giáo phái này chủ trương tu khổ hạnh cực đoan, xem việc hành hạ thân xác là phương tiện cứu cánh đẻ
được giải thoát (Đạo này hiện nay vẫn còn tại Ấn Độ Tu sĩ giáo phái này mặc áo trắng, tay cầm phất trần để xua đuổi ruồi muỗi, mũi miệng bịt vải bông để khỏi hít vào các loại
Trang 87
vi trùng Thậm chí có những tu sĩ đạo Jain cực đoan, sống trần truồng, không mặc quần
áo Có một số khác nhịn ăn cho đến chết.)
6- Sanjaya Belatthiputta (Tán-nhã-di Tỳ-la-lê-phất)
Chủ trương của giáo phái là Ngụy biện luận Bởi là ngụy biện, nên nếu có ai hỏi họ về vấn
đề gì, thì họ sẽ trả lời vòng vo, rối rắm và kết cuộc là không trả lời gì cả
Ví dụ, nếu có người hỏi: Có một thế giới khác hay không? Nếu họ nghĩ “Có một thế giới khác”, họ có thể trả lời với người đó: “Có một thế giới khác”
Nhưng họ không nói như vậy Họ sẽ nói vòng vo: Tôi không nói là như kia Tôi không nói
là khác như thế Tôi không nói là không phải như thế Tôi không nói là không không phải như thế
Nếu nếu có người hỏi: Không có một thế giới khác phải không? Nếu họ nghĩ: “Không có một thế giới khác”, họ có thể trả lời với người đó “Không có một thế giới khác” Nhưng
họ không nói như vậy Mà họ sẽ nói vòng vo: Tôi không nói là như kia Tôi không nói là khác như thế Tôi không nói là không phải như thế Tôi không nói là không không phải như thế…
Nhu yếu tối cần thiết lúc bấy giờ hiện ra quá rõ ràng: Phải tìm cho ra mối đạo lớn để khai thông chân lý, làm nơi nương tựa thích hợp cho một nhân sinh quan lành mạnh Tình thế đòi hỏi một tôn giáo cách mạng về tư tưởng hội đủ hai yếu tố nhất quán và viên mãn Giữa lúc ấy Phật xuất hiện, Ngài làm một cuộc cách mạng tư tưởng vĩ đại, bài xích tất cả các xu hướng cực đoan để qui hướng về một mối là : Trung đạo Duyên khởi Từ đó, Ngài khai triển thành một hệ thống giáo lý mới nhằm tự cứu mình, cứu dân tộc Ấn độ đương thời và cứu hết thảy nhân loại muôn đời về sau
Phật xuất hiện như một viên ngọc "Định thủy châu" gạn trong cả một ao nước đương bị quấy động đục ngầu, và mở một lối thoát chung cho tư tưởng giới Ấn độ bấy giờ
1.4 Cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Theo kinh Phật cùng sử liệu thì Ngài sinh năm 624 TCN vốn xuất thân là thái tử con vua Tịnh-phạn (Suddhodana) và hoàng hậu Ma-da (Maya) thuộc vương tộc Thích Ca (Sakya) của tiểu quốc Ca Tì La (Kapilavastu), ở chân núi Himalaya – miền đất bao gồm một phần miền Nam Nepal và một phần của Ấn Độ ngày nay
Ngài đã sống một cuộc sống thanh tịnh Vua Tịnh-phạn vốn muốn con ông trở thành quân vương vĩ đại nên không muốn thái tử đi tu Ông đã cho nhiều người danh tiếng dạy dỗ cho con rất kỹ lưỡng, cho thái tử hưởng đầy đủ vinh hoa phú quý, nhất là không để thái tử tiếp xúc với cảnh khổ của cuộc đời
Năm lên 18 tuổi, Ngài kết hôn với công chúa Yaśodharā của thị tộc Khoa-lợi (Koli) Dù
đã kết hôn, Ngài vẫn sống cùng công chúa như đôi bạn thanh tịnh, đều yêu thích thiền định, thực hành thiền định và lòng thấy an lạc Nhận thấy con trai vẫn còn ưu tư, vua Tịnh-phạn
Trang 98
đã cho xây dựng 3 lâu đài: Lâu đài mùa xuân, lâu đài mùa thu, lâu đài mùa đông để thái tử hưởng thụ, nhằm lung lay ý định xuất gia của ông Ngoài ra, vua cũng đưa ra điều kiện: thái tử phải sinh được một người con trai thì mới được xuất gia
Mặc dù vua cha muốn ngài kế thừa ngai vàng thay vì cứu độ chúng sinh và tạo ra một môi trường sống hài hòa và tốt đẹp cho mọi người, nhưng khi nhìn thấy dáng vẻ đau đớn của những người sắp chết, dáng vẻ cô độc của người già và trẻ mồ côi, Ngài đã đưa ra quyết ý vào năm 25 tuổi Năm đó, công chúa Da-du-đà-la hạ sinh một bé trai Tất-đạt-đa thấy rằng việc có con khiến cho mong muốn rời nhà đi tu trở nên khó khăn hơn, nên đặt tên đứa trẻ
là Rahula - La-hầu-la, nghĩa là Chướng Ngại
Bất chấp nỗ lực ngăn cản của cha mình, đức Phật đã hạ quyết tâm từ bỏ cuộc sống xa hoa, lìa xa cung điện, từ bỏ ngai vàng, vợ con và ở đỉnh cao của hạnh phúc, ngài đã chọn xuất gia, tìm cách thoát khỏi những phiền não của sinh, lão, bệnh, tử cho tất cả chúng sinh, để
từ đó nhận ra ý nghĩa thực sự của cuộc sống và tìm hiểu chân lý của vũ trụ Ngài quyết tâm thành lập một tôn giáo mới - Đạo Phật - nghĩa là người giác ngộ, người đã giác ngộ Người ta nói rằng thái tử Siddhārtha Gautama lần đầu tiên học thiền gần kinh thành của Vua Magadha, sau đó tu khổ hạnh bên bờ sông Nairanjana (Ni Liên Thiền) trong sáu năm
và lần cuối cùng là thiền định dưới gốc cây Pippala (cây Bồ Đề) nơi này sau đó được gọi
là Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) Sau 7 ngày 7 đêm, cuối cùng Ngài đã “giác ngộ và thành Phật”, năm nay Ngài 31 tuổi Theo yêu cầu của những người dân và thần dân xung quanh, Ngài đã giảng dạy ở miền bắc và miền trung Ấn Độ dọc theo sông Hằng, giải thích cho họ
ý nghĩa thực sự của cuộc sống, chân lý của vũ trụ và phương pháp thoát khỏi phiền não, sinh, lão, bệnh, tử và tiếp tục kéo dài 49 năm, được nhiều người theo, đệ tử ghi lại và truyền lại cho đến ngày nay, đó gọi là Phật giáo
Trang 10cứ tư duy nào trong niềm tin tôn giáo, Đức Phật bác bỏ các tư duy giáo điều và lòng tin mù quáng, khuyến khích mọi người hãy xây dựng đức tin của mình dựa trên trí tuệ, trải nghiệm Bài kinh Kalama - kinh Nền tảng đức tin, trong Tăng chi bộ, chương Ba Pháp, thường được nhiều người xem như là một "Hiến chương Phật giáo về Tự do Trạch vấn":
“ Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về 10 nền tảng của đức tin chân chánh:
● Một là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết
● Hai là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống
● Ba là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên
truyền
● Bốn là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách
vở
● Năm là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình
● Sáu là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình
● Bảy là, chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời
hợt
● Tám là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình
● Chín là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ
● Mười là, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư
của mình tuyên thuyết
Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể
nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: "Lời dạy này tốt lành,
đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán, nếu sống và thực hiện lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về dài” thì lúc ấy quý vị
hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.”
Từ bi và trí tuệ là hai trụ cột trong giáo lý Phật giáo Toàn bộ giáo lý Phật giáo nhằm hướng con người đến việc sử dụng trí tuệ của mình nhận thức thế giới đúng để từ đó sống từ bi Những tư tưởng, quan điểm triết học Phật giáo đều nằm ở bộ giáo pháp Phật giáo Toàn bộ giáo pháp của Phật giáo được chứa đựng trong Tam tạng kinh điển được chia thành 3 loại gồm Tạng kinh – Tạng luật – Tạng luận:
+ Tạng kinh: ghi lại lời Đức Phật hoặc các đệ tử giảng về giáo lý
Trang 1110
+ Tạng luật: ghi lại việc tu tập và toàn bộ những giới luật của Phật giáo quy định
+ Tạng luận: được các cao tăng viết ra nhằm giới thiệu giáo lý của Phật giáo một cách có
hệ thống, đó là những bài bình chú, giải thích thể hiện một cách toàn diện các quan điểm
về Phật pháp
2.1 Nhận thức luận Phật giáo
2.1.1 Bản chất, đối tượng của nhận thức luận Phật giáo
Bản chất của quá trình nhận thức trong Phật giáo là quá trình khai sáng trí tuệ giúp con người thức tỉnh giác ngộ để sống từ bi Nhận thức Phật giáo là nhận ra bản thể, chân tâm của chính mình, tức giác ngộ Để đạt được mục đích đấy, người học đạo phải tự mình chứng ngộ lấy chân lý thông qua con đường trực giác
Đối tượng của nhận thức mà Phật giáo hướng đến đó là vạn pháp: tức là các sự vật hiện tượng trong đó có con người, mọi hiện tượng tâm lý và cả vũ trụ Tuy nhiên Phật giáo nhấn mạnh đối tượng chính yếu là con người, lấy con người làm trung tâm và đây cũng chính là cái nhìn đầy nhân bản được thể hiện bàng bạc khắp trong kinh tạng; nhằm giúp cho con người có cái nhìn thiết thực qua những lời dạy của đức Phật, hãy sống thực tế và hành trì pháp Phật để trở thành những con người toàn vẹn trong xã hội hơn là đi tìm loanh quanh những câu trả lời về các vấn đề siêu nhiên huyền bí không giúp ích cho sự giải thoát
2.1.2 Phương pháp nhận thức Phật giáo
Phật giáo cho rằng, sự nhận thức của con người được hình thành từ sự kết hợp giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, thiếu một trong hai thứ này thì sự nhận thức không thể có được Trong đó, Phật giáo cho rằng con người có sáu năng lực nhận biết về đối tượng, gọi là Lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý Tương ứng với Lục căn là đối tượng trong khách thể nhận thức (gọi là Cảnh) gồm Lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp Khi Lục căn gặp Lục trần trong quá trình nhận biết thì Phật giáo gọi là Lục nhập Sự gặp
gỡ của Lục căn và Lục trần trong quá trình nhận biết sinh ra cái biết, gọi là Thức, mà trước hết gồm có Lục thức: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức Theo đó:
Nhãn căn lấy sắc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhãn thức
Nhĩ căn lấy thanh trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhĩ thức
Tỷ căn lấy hương trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Tỷ thức
Thiệt căn lấy vị trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thiệt thức
Thân căn lấy xúc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thân thức
Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi…, tác dụng thấy, nghe, ngửi ấy là Thức Mỗi thức có một tác dụng riêng, thức là một tác dụng vô hình, vô tướng Thức ở đâu cũng có và ở đâu có căn
và có cảnh thì tác dụng ấy có thể được biểu hiện
Trang 1211
Phân biệt thuần tuý của năm thức ấy là một phân biệt bằng trực giác, nên không phải là một phân biệt có tính cách suy tầm, đắn đo Phân biệt suy tầm đắn đo là phân biệt của thức thứ sáu, tức ý thức, rộng lớn vô cùng Đối tượng của ý thức là Pháp trần sinh ra các tư tưởng
(Chữ Pháp - Dharma trong đạo Phật có rất nhiều nghĩa:
1- Theo nghĩa hẹp thì “Pháp” là tất cả kinh, luật, luận gọi là “ba tạng” ghi lại những lời Phật dạy trong 45 năm Ngài còn ở đời giáo hóa;
2- Theo nghĩa rộng nhất thì “Pháp” chỉ tất cả sự vật hữu hình vô hình, thuộc vật chất hay tâm linh, cụ thể hay trừu tượng, có thực hay bịa đặt như lông rùa, sừng thỏ
3- Pháp còn ám chỉ Niết bàn Phật chứng, chân lý tối hậu hay “tri kiến Phật” mà Phật đã đạt,
4- Pháp cũng còn có nghĩa là phép tắc lý đương nhiên của sự vật,
5- Còn một nghĩa nữa là “phương pháp”
Pháp trần được nêu ở trên, thuộc định nghĩa thứ 2)
Khi thức này hợp tác cùng năm thức trước thì đối tượng tổng hợp của nó là ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc)
Nếu năm căn trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) có quan năng phát sinh mang hình chất thì năng lực thứ sáu (ý) có quan năng phát sinh không mang hình chất gọi là Mạt na (Mạt na thức) Phân tích các tác dụng của Mạt na, Phật giáo chia ra, Mạt na sinh ra cái biết (phân biệt) mang tính gián đoạn (biết khi tỉnh, không biết khi ngủ) gọi là Ý thức, Mạt na có tác dụng chấp ngã, tức chấp có Mạt na chấp cái biết của bảy năng lực trên đây và trở thành kho chứa của bảy thức gọi là Alaya thức (Tàng thức)
Triết học Phật giáo chỉ thừa nhận có hai loại nhận thức Đó là nhận thức trực tiếp và nhận thức gián tiếp, hay còn gọi là hiện lượng và tỷ lượng Lượng là lượng tính, là tính toán và
so lường và cũng là sự phân biệt, cân nhắc vạn pháp của Tâm thức để hiểu biết Lượng còn gọi là năng phân biệt Năng phân biệt có nghĩa là tâm thức có sức, có lực phân biệt vạn pháp Nói cách khác, lượng ở đây là chỉ cho Tâm thức thuộc về chủ thể, có khả năng phân biệt vạn pháp và Tâm thức phân biệt có tính cách so lường thiệt hơn, cân nhắc lợi hại, phân tích đúng sai để chọn lựa tinh tường, sâu sắc cho sự hiểu biết Tâm thức nhờ phân biệt mới
có thể hiểu biết rõ tính chất, giá trị và ý nghĩa của mọi vật nên gọi là Lượng
Trong triết học Phật giáo, hiện lượng được xem là hình thái đầu tiên của quá trình nhận thức Hiện lượng nghĩa là hiểu biết trực tiếp những cảnh vật, đối tượng đã được hiện bày đầu tiên và sự hiểu biết hiện lượng hoàn toàn không có ý niệm diễn dịch và suy luận Tác dụng nhận thức ở đây chỉ thuần tuý trực cảm, trực quan mà chưa có tính cách phán đoán
và suy luận Năm thức đầu và ALaya thức là hai loại tâm thức luôn luôn nhận biết bằng Hiện lượng
Trang 1312
Hình thái nhận thức thứ hai là Tỷ lượng Trong tiếng Hán, “tỷ” là so sánh, “tỷ lượng” là nhận thức thông qua sự so sánh Tỷ lượng cũng là xét đoán, tính toán theo sự so sánh đúng sai, cân nhắc lợi hại, phân biệt phải quấy, lựa chọn hơn kém… của tâm thức để hiểu biết Đây là sự hiểu biết của ý thức (thức thứ sáu) Ý thức hiểu biết vạn pháp qua ảnh tử do năm tâm thức cung cấp Không giống như sự hiểu biết trực tiếp của năm tâm thức trước, ý thức hiểu biết vạn pháp qua sự suy luận, diễn giải, nghĩa là ý thức luôn luôn phân biệt được danh xưng, ý nghĩa và tướng trạng từng sự vật một để nhận biết tính chất cũng như giá trị mỗi loại Vạn pháp có thể ví như dữ liệu khách quan; nhận thức tỉ như phần mềm xử lý Kết quả cho ra sẽ khác nhau (nhận thức khác nhau) là do phần mềm xử lý của mỗi con người không giống nhau Ví dụ: cùng nhìn thấy một đóa hoa, có người thấy đẹp, người thấy xấu Đều do nhận thức (bộ vi xử lý) khác nhau, tuy dữ liệu đầu vào (đóa hoa) chỉ là một Nhận thức đúng đắn gọi là tự ngộ Cách diễn đạt nhận thức đó cho những người khác một cách logic, có sức thuyết phục gọi là ngộ tha Điều này vô cùng quan trọng và mang tính quyết định đến việc nhận thức đúng hay sai Muốn nhận thức được đúng đắn để giải quyết
khổ đau, thực thi được hiện tại lạc trú theo Phật giáo "trí tuệ là yếu tố tiên quyết để vượt
khổ, trừ mê, là sự bình an trong kiếp sống hiện tại và mai sau"
Phật giáo cũng cho rằng, có hai con đường nhận thức nhằm đạt đến chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối Con đường thứ nhất là con đường của nhận thức thông thường mang tính hướng ngoại Vì loại này dựa vào kinh nghiệm và khái niệm về thế giới hiện tượng bên ngoài Phật giáo coi trọng nội quán, coi đây mới là phương thức khả thi nhất làm cho tâm
bình lặng, “nhờ tâm bình lặng mà nhìn thấy được sự vật như chúng tồn tại tâm bình lặng
thì dục vọng, tham đắm do thế giới khách quan gây ra cũng không chi phối được tâm”, tức
đạt tới giải thoát Như vậy, nhận thức luận nội quán chính là lý luận về Bát-nhã của Phật giáo mang tính trực giác Tư duy hướng nội của Phật giáo không chỉ là một sản phẩm đặc thù của lịch sử tư duy Ấn Độ, mà còn là một trong những đặc trưng nổi bật của tư duy phương Đông
Nói đến nhận thức thời phải nói đến hành động, ngôn ngữ, và lý luận Điều này được thấy
rõ trong Tứ Diệu đế, một mô thức biện chứng trình bày quan hệ giữa tri nhận và mô tả, nhận thức và hành động, luận lý và thực tiễn Tứ Diệu đế là khuôn mẫu ngôn ngữ và luận
lý của những ai muốn thuyết trình về một vấn đề khoa học:
(1) Đây là những kinh nghiệm nhận thức của tôi về những sự kiện tôi đang tìm hiểu và
xin mô tả như thế này;
(2) Theo tôi, đây là những nguyên nhân liên hệ đến những sự kiện ấy mà tôi đã dùng kinh
nghiệm và suy luận để tìm thấy;
(3) Do những sự thấy biết như thế nên tôi nghĩ rằng mục tiêu cần phải thực hiện và thấu
đạt phải như thế này; và
Trang 1413
(4) cuối cùng, đây là những phương pháp tôi đã áp dụng, nhờ đó mà tôi đã thành tựu và
chứng nghiệm được mục tiêu
Đức Phật trình bày giáo lý Tứ Diệu Đế trên một cơ sở luận lý chưa từng có trước đó Cách
lý luận này về sau được các nhà nghiên cứu Phật học đặt tên là “Tứ đoạn luận” Tứ đoạn luận diễn giải vấn đề trên hai cặp nhân quả đối lập nhau Tóm lược như sau:
A là do B mà có (Nhân quả thế gian)
C là do D mà thành (Nhân quả xuất thế gian)
C đối nghịch với A Muốn đạt được C thì phải trải qua sự thực hành D để trừ bỏ B
Và C là mục đích mà lý luận hướng đến
Trong Tứ Diệu Đế, Phật nói thế gian là bất toàn, bất như ý, luôn thay đổi, không cố định, không có chủ thể bất biến (A - quả)
Lý do là vì tham, sân, si, tà kiến v.v… (B - nhân)
Niết bàn tịch lặng an lạc (C) là kết quả sẽ có được nếu từ bỏ hoàn toàn B
Muốn từ bỏ được B, phải thực hành theo D, (Bát Chánh đạo - Con đường Thánh đạo tám nhánh), từ đó mới có kết quả C
Ngoài ra, điều đặc biệt trong cách trình bày giáo nghĩa của mình, Đức Phật nói quả trước rồi mới chỉ ra nhân sau Cách trình bày này giúp cho người nghe tự mình nhận thấy được chân lý, thấy được sự thật đang tồn tại khách quan Từ đó sẽ đủ nhận thức để thấy được nguyên nhân của nó
Và Phật thuyết về Tứ diệu đế làm nòng cốt cho nhận thức luận Phật giáo để nghiên cứu về
các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội, cũng như tiến trình nhận thức của con
người Tứ diệu đế đã quyết định hướng tư duy của toàn bộ giáo lý Phật giáo là nhằm vào
con người hướng nội, mà ở đó bản thể của vũ trụ gắn liền với bản thể của con người ở tầm
phổ quát, thể hiện qua các phạm trù duyên khởi, vô thường và vô ngã Trong đó, Đạo đế nhấn mạnh Bát chánh đạo là con đường tám nhánh để tu dưỡng thân tâm Bát chánh đạo
không tách rời trí tuệ, đạo đức và niềm tin theo quy trình trở về bên trong Đó là trở về với cái ban đầu của mọi cái, trở về vô ngã, về không, về với chân như, Phật tánh Nhận thức
được nguyên lý của Bát chánh đạo hay chính là con đường chánh trí đưa đến an lạc, hạnh
phúc trong hiện tại và tịnh lạc giải thoát cho tương lai
2.2 Thế giới quan của Phật giáo
Thế giới quan là những quan điểm hay quan niệm của con người về thế giới xung quanh,
và với mỗi trường phái triết học khác nhau có cái nhìn về thế giới quan ở các tôn giáo cũng khác nhau
Thế giới quan Phật giáo là toàn bộ những quan niệm chung nhất của Phật giáo về thế giới
và con người, bao gồm vũ trụ và các cõi Phật, các yếu tố cấu thành nên thế giới luân hồi là
Trang 15dù Phật giáo có thừa nhận có thần tiên là đẳng cấp cao hơn con người, nhưng thần tiên lại không có vai trò gì đặc biệt, không sáng tạo ra thế giới
Phật giáo thừa nhận thế giới tồn tại cả vật chất và tinh thần, thế giới do các yếu tố vật chất
và tinh thần kết hợp với nhau tạo nên
Thế giới quan Phật giáo thể hiện qua 4 luận thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết nhân duyên khởi
2.2.1 Thuyết vô thường
Vô thường là không có gì ổn định, bất biến hay thường hằng Mọi hiện tượng do các yếu
tố kết hợp đều vô thường Phật giáo cho rằng thế giới không có gì là vĩnh hằng mà thế giới
là dòng chuyển biến liên tục, tuyệt đối Thuyết vô thường khẳng định mọi vật, mọi kinh nghiệm, đều biến chuyển liên tục, thậm chí thoạt sinh, thoạt diệt trong từng sát na Mọi sự vật đều khởi sinh ở một thời điểm, rồi ngừng hiện hữu ở một thời điểm khác – tan rã, đổ
vỡ, hay hư hoại Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật và con người Thế giới biến đổi không ngừng Sự biến đổi trong khoảnh khắc gọi là niệm vô thường Sự biến đổi diễn ra theo chu kỳ nhất định gọi là nhất kỳ vô thường, mỗi chu kỳ có 4 giai đoạn, “sinh, trụ, di, diệt” ở vật thể nói chung và “sinh, lão, bệnh, tử” ở sinh vật nói riêng
Ðiều này ai cũng có thể dễ dàng thấy được khi nhìn vào kinh nghiệm sống hàng ngày của mình, với những vật sở hữu, bệnh tật, hay cảm xúc trong tâm Tuy nhiên, nếu muốn sự vật sinh ra rồi mất đi, giữa hai trạng thái này bắt buộc phải là quá trình chuyển biến liên tục trong từng sát na Sự hủy diệt không thể xảy ra đột ngột, mà phải là kết quả của một quá trình chuyển biến liên tục Nếu không ý thức được quá trình chuyển biến liên tục của sự vật, sẽ khó mà hiểu được vì sao sự vật lại có thể thình lình hoại diệt Chính vì sự vật sẽ hoại diệt nên ngay bây giờ chúng bắt buộc phải đang chuyển biến trong từng sát na Hầu hết mọi tông phái Phật giáo đều công nhận rằng sự vật khi sinh ra vốn mang sẵn trong mình mầm mống hủy diệt Sự vật không bị hủy diệt vì yếu tố bên ngoài; mầm mống hủy diệt vốn sẵn có từ bên trong
Ví dụ như căn nhà Nếu dựa vào kiến thức thông thường về các mối tương quan mà nói, sẽ thấy căn nhà mất đi là vì có người đập xuống Tuy nhiên, vì mọi hiện tượng do yếu tố tập
Trang 1615
hợp đều vô thường, nên cho dù có người phá hủy hay không, căn nhà rồi cũng sẽ ngưng hiện hữu Căn nhà mỗi lúc mỗi cũ hơn, hư hoại liên tục theo thời gian dưới muôn ngàn hình thức, để cuối cùng sẽ ngưng hiện hữu, vì ngay từ căn bản căn nhà vốn đã là vô thường Nói như vậy, Phật giáo không chấp nhận có nguyên nhân bên ngoài khiến điều gì sinh ra, rồi lại có hoàn cảnh bên ngoài khiến điều ấy ngừng hiện hữu Nói cách khác, Phật giáo không chấp nhận sự vật sinh ra, tồn tại không thay đổi trong thời gian, rồi đột ngột ngưng hiện hữu
Dù vậy, quan niệm của chúng ta về sinh khởi vẫn luôn mang khuynh hướng khẳng định:
có một vật hiện hữu và tồn tại – có thể là nhờ sinh ra và lớn lên Còn quan niệm về diệt tận lại luôn mang khuynh hướng phủ định: sự diệt tận của một vật đã từng hiện hữu trước đây Sinh và diệt trở thành hai khái niệm trái ngược mâu thuẫn; chúng ta tưởng rằng sinh diệt là hai trạng thái hoàn toàn không thể đi đôi với nhau
Phật giáo rằng vì vô thường nên mọi hiện tượng chuyển biến liên tục trong thời gian Tính chất “chuyển biến liên tục” này chính là định nghĩa của vô thường trong Phật giáo Khi hiểu được vô thường như vậy, sẽ thấy sinh với diệt thật ra không trái ngược nhau mà chỉ
là một hiện tượng duy nhất là vô thường, nhìn từ hai khía cạnh khác nhau
Chính vì có sinh nên mới có diệt, và phải có diệt Sinh là nguyên nhân chính của diệt Nếu hiểu được tính chất vô thường của sự vật sẽ hiểu sự vật luôn hủy diệt liên tục trong thời gian Ðó là ý nghĩa của thuyết vô thường trong Phật giáo, khẳng định tất cả mọi hiện tượng do yếu tố kết hợp đều vô thường
2.2.2 Thuyết vô ngã
Thuyết vô ngã chính là trọng tâm của Phật giáo Vô ngã là không có cái “tôi” cái “ta” Nhiều trường phái triết lý phát triển từ thời Ấn Độ cổ đã chiêm nghiệm về thực chất và hiện hữu của ngã, tất cả đều nhấn mạnh vào tầm quan trọng của vấn đề này, nhất là về mối tương quan giữa ngã và nhân quả
Trong nhận thức chung, con người ai cũng muốn đạt hạnh phúc, thoát khổ đau Nhưng khổ đau và hạnh phúc từ đâu có? Ðâu là thực chất của “cái tôi” đang khổ đau hay hạnh phúc? Thử tìm hiểu về chuỗi nhân quả, sẽ thấy khổ đau hạnh phúc đến từ rất nhiều nguyên nhân, bao gồm nguyên nhân bên trong, ví dụ như giác quan, kinh nghiệm, nhận thức, và bên ngoài ví dụ như hình ảnh, tiếng động, mùi, vị, xúc chạm Vậy đâu là thực chất của những điều tạo cảm giác buồn vui? Chúng có thật hiện hữu không? nếu có, hiện hữu như thế nào? Các truyền thống triết lý Ấn Độ trong và ngoài Phật giáo đều có nêu ra nhiều triết lý hệ giải thích nguồn gốc sinh ra thế giới nội tâm ngoại cảnh, giải thích về thực chất của “cái tôi” [còn gọi là “ngã”] đang trải qua kinh nghiệm vui buồn Có trường phái cho rằng mọi sự vật,
kể cả cái tôi, đều tự sinh không cần nguyên nhân Cũng có trường phái cho rằng phải có
Trang 1716
nguyên nhân đầu tiên, tuyệt đối, thường hằng, bất biến và độc nhất Tất cả những câu hỏi này đều xoay quanh khái niệm về cái tôi, dưới hình thức này hay dưới hình thức khác
Nhiều trường phái triết lý cho rằng phải có một linh hồn vĩnh cửu, còn gọi là atman, độc
nhất, không biến chuyển, nằm ngoài các hợp thể tâm lý và vật lý của con người – nói cách khác, một thực thể tuyệt đối Phật giáo ngược lại cho rằng nếu bỏ công tìm kiếm thực chất của cái tôi, của thực thể tuyệt đối này, và nếu phân tích cho thật đúng đắn kỹ lưỡng, chắc chắn sẽ hiểu thực thể này thật ra không thể tìm thấy
Truy lùng như vậy để thấy rằng sự liên tục của con ngườitrong thời gian thật ra chỉ là khái niệm dựng trên hợp thể tâm lý và vật lý Ví dụ khi thân tâm của một người già đi, chúng ta nói người ấy già đi Vì vậy Phật giáo không công nhận có một nguyên lý vĩnh cửu bất biến gọi là ngã, mà khẳng định ngã với tất cả những tính chất đặc thù như nói trên đều chỉ là khái niệm trừu tượng, do tâm phân biệt dựng lên Bất cứ một thực thể hữu tình nào cũng có ý
thức bẩm sinh về ngã, nhưng khái niệm về ngã -một cái tôi vĩnh cửu, bất biến, độc nhất và
tự lập- chỉ có thể đến từ kiến thức, bắt nguồn từ ý thức bẩm sinh về ngã rồi suy diễn rộng ra
mà thành Phật giáo sau khi quán sát kỹ lưỡng, đi đến kết luận rằng cái tôi - ngã - chỉ có thể
là một hiện tượng duyên sinh, nói cách khác, là một hiện tượng tùy vào sự tập hợp của các thành phần tâm lý và vật lý mà thành
Phật giáo không chỉ phủ nhận khái niệm về cái tôi thường hằng tuyệt đối, mà còn phủ nhận luôn cả ý thức ngây thơ cho rằng cái tôi đóng vai chủ động, chỉ huy thân tâm Phật giáo khẳng định ngoài các thành phần tâm lý và vật lý, hoàn toàn không có gì có thể gọi là tôi,
vì vậy cái tôi chủ tể thân tâm là điều không thể có Theo quan điểm Phật giáo, kiến thức ngoại đạo chấp nhận có một nguyên lý gọi là ngã lại càng bồi đắp thêm kiên cố ý thức bẩm sinh về cái tôi – lầm lẫn chấp có một cái tôi chủ tể thân tâm Vì vậy tất cả mọi bộ phái Phật giáo đều phủ nhận khái niệm nguyên lý cố định trường tồn gọi là “ngã.”
Đạo Phật phủ nhận sự tồn tại vĩnh viễn của linh hồn cá thể, phủ nhận sự tồn tại thực sự của con người, coi sự tồn tại của con người chỉ là sự hợp của các yếu tố danh và sắc Vì vậy, không có cái tôi thường định, cái tôi hôm nay khác với cái tôi hôm qua và cái tôi ngày mai Con người chỉ là sự hội tụ tạm thời giây lát của các yếu tố vật chất và tinh thần rồi lại tan ra trong dòng chảy biến hóa hợp hợp tan tan một cách vô tận
Thuyết vô ngã phủ nhận quan điểm cho rằng có một linh hồn vĩnh cửu, tồn tại kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác Sự tin có một linh hồn dẫn dắt đến sự cúng tế linh hồn là hành động của sự mê tín Quan niệm có một linh hồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh ra những tình cảm, những tư tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ dựa vào sức mạnh phi nghĩa để làm lợi cho mình, tức là cho cái ta mà họ coi là thường còn, bất biến Còn đối với những người bị hà hiếp, bị bóc lột thì sự mê tín có cái ta vĩnh cửu dẫn đến tư tưởng tiêu cực, chán đời phó mặc cho số mệnh, hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau
Trang 1817
2.2.3 Thuyết nhân quả
Theo quan niệm của Phật giáo, thuật ngữ “nhân quả” được hiểu: “Nhân là cái năng sinh, quả là cái sở sinh Có nhân ắt có quả, có quả ắt có nhân Đó là lý nhân quả Phật giáo coi
lý này thông suốt cả ba đời (quá khứ, hiện tại, tương lai) mà thuyết về sự báo ứng của thiện ác” Quan niệm về mối quan hệ nhân quả là một trong những giáo lý cơ bản của Phật giáo Phật chủ trương không bao giờ tự nhiên mà có, mà sinh ra và cũng cho rằng không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nào tạo ra sự vật Sự vật sinh ra là có nhân nguyên nhân Cái nguyên nhân một mình cũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả được
Từ nhân đến quả có một quá trình Quá trình này có thể can thiệp được để cho quả khác đi, gọi là “dị thục quả” Đây là ý nghĩa quan trọng để Phật giáo phủ nhận thuyết định mệnh, thuyết vạn vật do tạo hóa an bài Đây cũng chính là tư tưởng, nhận thức tích cực của Phật giáo, giúp con người không ỷ lại, không nhắm mắt xuôi tay tùy theo số phận, mà con người
có khả năng và có quyền thay đổi cuộc đời theo ý muốn của mình, theo đúng sự vận hành của quy luật Nhân - Duyên - Quả Ở đây, “duyên” tức là điều kiện phụ trợ, giúp cho nhân
đi đến kết quả theo mong muốn
Giữa nhân và quả có quan hệ chặt chẽ với nhau, khiến cho không nhân nào lại không có quả, không quả nào lại không bắt nguồn từ nhân Phật giáo cho rằng, mọi sự vật trong thế giới đều dựa vào nhân quả mà sinh diệt vô thường Nguyên nhân dẫn đến khổ của con người là do ý thức (do nhận thức) chứ không phải do điều kiện vật chất, mà trước hết bắt đầu từ: 1, ái dục (ham muốn) -> 2, vô minh (không sáng suốt) -> 3, tham, sân, si (lòng tham, sự giận dữ, sự ngu dốt) thúc đẩy tạo thành vọng -> 4, dục vọng -> 5, vọng tạo thành nghiệp (dục vọng biểu hiện thành hành động gọi là nghiệp), nghiệp xấu -> 6, khiến con người phải nhận lấy hậu quả của nó (qủa khổ) Theo luật nhân quả, nghiệp báo cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được
2.2.4 Thuyết nhân duyên khởi
Thuyết duyên khởi của đạo Phật cho rằng, đời sống hay thế giới này tạo thành là do một chuỗi tương quan liên hệ, trong đó sự sinh khởi và hoại diệt của các yếu tố tùy thuộc một
số yếu tố khác làm điều kiện cho chúng Kinh điển Phật giáo diễn tả khái quát nội dung này bằng đoạn kinh sau: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt/ Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt/ Do cái này sinh, cái kia sinh/ Do cái này diệt, cái kia diệt”
Đó là dạng tổng quát nhất của học thuyết hay giáo lý duyên khởi được đức Phật giảng dạy
Nó cho thấy, mọi hiện hữu trong thế giới này đều vận hành theo nguyên tắc của sự tương thuộc, tương quan lẫn nhau Sự vật, hiện tượng này sinh khởi do hội đủ điều kiện hỗ trợ cho sự sinh khởi ấy Và ngược lại, sự vật, hiện tượng chấm dứt hay hoại diệt khi các điều kiện, các thành phần, yếu tố cấu tạo nên chúng thay đổi hay không còn nữa Và ngay cả
Trang 1918
các điều kiện hỗ trợ này cũng lại tùy thuộc vào các yếu tố, điều kiện khác để sinh khởi, tồn tại và hoại diệt
Duyên khởi là học thuyết cốt tủy của đạo Phật, thuyết minh về sự liên hệ hỗ trợ giữa các
sự vật, hiện tượng hay các pháp Tuy nhiên, không được hiểu duyên khởi là một học thuyết thuyết minh về nguồn gốc thế giới Theo các nhà Phật học, nội dung chính của duyên khởi chủ yếu thuyết minh về quá trình sinh khởi của con người Nói đúng hơn, duyên khởi giải thích tại sao chúng ta cứ luân hồi, khổ đau và làm sao chúng ta thoát khỏi luân hồi, khổ đau đó
Tạm gác lại yếu tố duy tâm tôn giáo về luân hồi, hiểu theo quan điểm triết học duy vật thì thuyết duyên khởi ở góc độ nào đó thể hiện cái nhìn biện chứng về sự vật hiện tượng trong thế giới Vạn vật trong thế giới này đều vô thường, cuộc đời sắc sắc - không không Đôi khi được đấy nhưng cũng là mất đấy; cái rủi mặt này nhưng lại là cái may xét ở mặt khác; bất hạnh của người này nhưng lại là may mắn của người kia
Ví như trong quá trình phát triển, hoại diệt của một cái cây: cây lớn lên, ra hoa, kết trái, hoa tàn trái rụng Đến đây có thể coi là hết một vòng đời của cây, nhưng thực ra nó vẫn đang vận động, luân hồi ở một vòng đời khác khi hoa tàn, trái rụng những thực chất không hẳn đã mất đi mà lại mọc lên một lớp cây mới và lại khởi tạo vòng đời luân hồi tiếp theo
2.3 Nhân sinh quan Phật giáo
Nhân sinh quan Phật giáo sẽ là một hệ thống các quan niệm, quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc, bản chất cũng như cấu tạo con người, chi phối cũng như định hướng mục tiêu, thái độ sống và giá trị của con người Mục đích cuối cùng của Phật giáo chính là giải thoát con người ra khỏi khổ đau trầm luân sinh tử
2.3.1 Quan điểm Phật giáo về con người
a) Nguyên nhân hiện hữu của con người
Trước tiên, Phật giáo giải thích: “Con người do đâu mà có?” Ðể giải đáp vấn đề này, đạo Phật có thuyết “mười hai nhân duyên” Ðức Phật định nghĩa về Mười hai Nhân duyên hay còn gọi là Duyên khởi như sau:
"Do vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử, sầu, bi, khổ, ưu não"
Trang 20Do nghiệp lành dữ huân tập chứa nhóm thành ra “nghiệp thức” Nghiệp thức này theo chỗ huân tập thuần thục rồi thác sanh vào thai mẹ, đó là món “Thức”, chi thứ ba trong mười hai nhân duyên
Trong thai mẹ, gom tinh huyết làm nhục thể, tâm thức cùng nhục thể hòa hiệp gọi là “Danh sắc” đó là chi thứ tư trong mười hai nhân duyên, (Danh: Tâm thức; Sắc: Nhục thể) Từ Danh sắc lần lần tượng đủ sáu căn, gọi là “Lục nhập” Ðó là chi thứ năm trong mười hai nhân duyên Sau khi ra khỏi thai, sáu căn xúc đối với sáu trần, biết nóng, lạnh, đau, êm, v.v nên gọi là “Xúc”, chi thứ sáu trong mười hai nhân duyên Do sự xúc chạm ấy, mà tâm dần dần sanh niệm phân biệt, rồi có những sự giác thọ vui, khổ, v.v Ðó là “Thọ”, chi thứ bảy trong mười hai nhân duyên Do sự cảm thọ vui, khổ, khởi niệm ưa ghét, chấp đắm
ấy mà sanh ra có “Ái”, chi thứ tám trong mười hai nhân duyên Vì tham ái nên tìm cầu nắm lấy cái hay cái tốt, cái ưa thích Ðó gọi là “Thủ” chi thứ chín trong mười hai nhân duyên Muốn cho thỏa mãn chỗ nhiễm trước, ưa thích của “Ái” và “Thủ”, nên phải tạo nghiệp Nghiệp này có thể chiêu cảm quả báo vị lai, nên gọi là “Hữu”, chi thứ mười trong mươi hai nhân duyên Đã có “Hữu” là cái mầm giống, thì thế nào cũng có “Sanh” là chi thứ mười một trong mười hai nhân duyên Ðã có “Sanh” thì phải có “Lão và Tử” là chi thứ mười hai trong mười hai nhân duyên
Trong mười hai nhân duyên, “Vô minh” thuộc về “hoặc” và “Hành” thuộc “nghiệp” Ðó là nhơn quá khứ Do nhơn quá khứ ấy mà có năm quả “Khổ” hiện tại là: Thức, Danh sắc, Lục
Trang 2120
nhập, Xúc và Thọ Do quả “Khổ” hiện tại nói trên mà khởi ra “Hoặc” là ái thủ và tạo
“Nghiệp” là hữu, để làm nhơn cho quả “Khổ” sau là sanh và lão tử ở vị lai
Như thế, từ nhơn quá khứ, sang quả hiện tại, và quả hiện tại, lại làm nhơn cho quả tương lai, ba đời cứ nối tiếp xoay vần mãi mãi không dứt, như một bánh xe xoay tròn, lên xuống, xuống lên không dừng nghỉ
Cứ đó mà suy ra thì biết rằng, người chẳng những sống một đời trong hiện tại này, mà trước kia, về quá khứ đã trải qua không biết bao nhiêu đời sống rồi Và sau này, trong vị lai, cũng sẽ còn vô lượng đời sống nữa Người hiện sống đây để rồi chết, mà cái chết lại là cái nhơn làm thành đời sống vị lai Như thế, sống, chết nối tiếp theo nhau không bao giờ dứt, như những làn sóng, cái này tan đi để hiệp lại một cái khác, không bao giờ hết, nếu còn gió Con người, nếu gió vô minh còn thổi, thì dòng sanh mạng còn lưu chuyển, lăn trôi, chìm nổi mãi
b) Tánh chất vô thường và vô ngã của con người
Con người khổ vì lòng dục, con người còn khổ hơn nữa vì hai tính chất căn bản sau đây:
Vô thường: Mọi vật ở đời không đứng yên một chỗ, mà biến chuyển di động luôn luôn trong từng phút, từng sát na Thân phút trước, không phải là thân phút sau Cứ trong mỗi phút giây, bao nhiêu triệu tế bào trong người đang chết và bị thay thế Con người thì tham được sống, mà con người cứ bị kéo dần về cõi chết Càng muốn được sống chừng nào, lại càng sợ chết chừng ấy Sự biến chuyển mau lẹ, từ tóc xanh đến bạc đầu, chẳng khác gì một giấc chiêm bao
Vô ngã: Con người cũng như mọi vật, sở dĩ có là do nhân duyên hòa hợp Con người chỉ
là một cái tên, là một giả danh để gọi cái hội hợp của năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức Khi đủ nhân duyên chúng nó tập hợp lại thì gọi là sống, khi nó tan ra thì chết Trong năm uẩn ấy, có cái gì chủ tể, thuần nhất đâu? Vả lại, ngay năm uẩn ấy cũng không có cái nào là thuần nhất, mà cũng lại do sự tập hợp của lục đại
Không thường mà tưởng là thường, không ngã mà tưởng là có ngã Ðó cũng tức là cái mê
mờ lớn nhất của con người Và cũng chính do cái mê mờ ấy mà con người đau khổ lại càng đau khổ thêm
c) Khả năng của con người
Đức Phật dạy: “Chúng sanh đều có khả năng thành Phật” Lần đầu tiên trong lịch sử, giữa những tư tưởng tôn giáo thần quyền để nô dịch con người, Phật giáo đã bác bỏ sự phân chia giai cấp, khẳng định sự bình đẳng, khả năng và giá trị của con người Đức Phật đã dạy rằng: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, trong giọt nước mắt cùng mặn như
tánh Với cái Phật tánh ấy, con người có thể thoát ra khỏi hoàn cảnh tối tăm của mình Ðể thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy, con người không cần phải quỳ lụy, cầu xin ở một đấng nào
Trang 2221
khác, mà do tự lực và hành động của mình Chỉ có mình mới tự giải thoát cho chính mình được mà thôi Phật giáo khẳng định: "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sinh ra; nghiệp là quyến thuộc, là nơi nương tựa" Con người, chính là vị sáng tạo của đời mình Khi vô minh thì con người tự làm cho mình đau khổ, nhưng khi biết mình mê mà tìm cách thoát ra khỏi cảnh mê, thì con người chính là kẻ tự gây dựng hạnh phúc cho mình Ðó là ưu điểm của con người, đó cũng
là niềm tin tưởng lớn vào con người trong Phật giáo
2.3.2 Tứ diệu đế
Từ những nhận thức về con người, Phật giáo đã chỉ ra con đường giải phóng con người ở nhiều cấp độ, giúp họ có thể tự giải thoát bản thân, phát huy được năng lực tiềm ẩn trong mỗi người để đạt tới an vui và hạnh phúc Tứ diệu đế là bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật, là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ bốn chân lý cao cả về sự khổ đau của con người và con đường giải thoát
Tứ diệu đế là chân lý về khổ [Khổ đế], chân lý về nguyên nhân của khổ [Tập đế], chân lý
về khả năng chấm dứt khổ [Diệt đế], và chân lý về con đường dẫn đến sự thoát khổ [Ðạo đế] Nói cho thật ngắn gọn, Tứ diệu đế dạy rằng ai cũng muốn hạnh phúc, không ai muốn khổ đau Khổ đau mà chúng ta muốn tránh, vốn là kết quả của chuỗi nhân quả có từ trước khi chúng ta ra đời Nếu muốn hoàn thành nguyện vọng thoát khổ, cần phải hiểu rõ nhân duyên của khổ, nghĩa là vì sao mà có khổ, khổ phát sinh trong trường hợp nào, rồi dựa vào
đó mà nỗ lực diệt trừ cái khổ Ngoài ra, nhân duyên của hạnh phúc cũng rất quan trọng, chúng ta cần hiểu rõ để có thể chủ động mang hạnh phúc về Ðó chính là tinh túy của Tứ diệu đế
a) Khổ đế
Khổ đế (Dukkha-ariyasacca) chính là diệu đế thứ nhất thường được hầu hết các học giả dịch là “Chân lý cao cả về sự khổ” và nó thường được giải thích là: theo Phật giáo, sự sống chỉ là đau khổ Chính lối phiên dịch dễ dãi hẹp hòi và cách giải thích nông cạn về khổ đế
đã khiến nhiều người lầm xem Phật giáo là yếm thế bi quan Trước hết, Phật giáo không bi quan cũng không lạc quan mà hiện thực, vì có lối nhìn hiện thực về nhân sinh và vũ trụ Phật giáo nhìn sự vật một cách như thật Phật giáo không tìm cách ru người vào ảo tưởng
về một thiên đường lừa bịp, cũng không làm người ta chết khiếp vì đủ thứ tội lỗi và sợ hãi tưởng tượng Nó cho ta biết một cách khách quan ta là gì, thế giới quanh ta là gì, và chỉ con đường đưa đến tự do hoàn toàn, thanh bình, an ổn và hạnh phúc
Danh từ dukkha trong Diệu đế thứ nhất, trình bày quan điểm của đức Phật về nhân sinh và
vũ trụ, có một ý nghĩa triết lý sâu sắc hơn và hàm chứa những nội dung rộng lớn hơn nhiều như “bất toàn”, “vô thường”, “trống rỗng”, “giả tạm” Bởi thế, thật khó tìm một chữ có thể bao quát toàn nội dung danh từ Dukkha kể như Khổ đế
Trang 2322
Ở mức độ cơ bản, tổng quát lại có 8 cái khổ phổ biến là:
- Sinh khổ: sự sinh sống của con người khổ (khổ trong lúc sanh và khổ trong đời sống)
- Lão khổ: con người đến lúc già, thân thể hao mòn, suy kém, trí tuệ lu mờ, khổ cả thể xác lẫn tinh thần
- Bệnh khổ: hành hạ thân xác con người là bệnh tật
- Tử khổ: khổ của sự chết Con người sợ nhất là cái chết vì phải xa lìa vĩnh viễn tất
cả con cái người thân và của cải của mình
- Ái biệt ly khổ: khổ của sự chia ly với những gì thân yêu
- Oán tăng khổ: cái khổ gây ra do sự thù ghét, hiềm khích nhau mà cứ phải gần gũi
và tiếp xúc với nhau
- Sở cầu bất đắc khổ: khổ của sự mong cầu, hy vọng mà không toại nguyện
- Ngũ uẩn thủ khổ: nỗi khổ của sự tồn tại của con người, khổ do sự bám víu ái nhiễm của ngũ uẩn
b) Tập đế
Tập là tích tập, các phiền não tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau; đây là nguyên nhân, là nguồn gốc của các khổ Khi nhận thức được bản chất của khổ một cách rõ ràng, ta mới có thể đi vào con đường đoạn tận khổ đau (Đạo đế)
Cuộc đời là khổ đau hay không khổ? Câu trả lời là tùy thuộc vào thái độ tâm lý, cảm thọ
và nhận thức của mỗi người; nguyên nhân của khổ có nguồn gốc sâu xa trong tâm tưởng của con người Phật giáo cũng nhìn thấy các nguyên nhân của đau khổ; có cái phát sinh từ vật chất hay hoàn cảnh xã hội, nhưng nguyên nhân thật sự vẫn là tâm thức
Nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái Sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến khổ đau, bởi vì lòng khao khát ấy không bao giờ thỏa mãn
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng Do không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú Do không thấy rõ mới lầm tưởng rằng “cái tôi” là quan trọng nhất, là cái có thực cần phải bám víu, củng cố và thỏa mãn nhu cầu của
nó Nói cách khác, do vô minh mà có chấp thủ “cái tôi” và “cái của tôi” như thân tôi, tình cảm tôi, tư tưởng tôi , người yêu của tôi, tài sản của tôi, sự nghiệp của tôi Do những chấp thủ ấy mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình; lòng mình đầy tham lam, chấp thủ, nhận thức sai lầm thì khổ là chắc chắn Nói cách khác, do cái nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không Nếu không bị sự chấp ngã
Trang 24Đạo Phật xác nhận cuộc đời đầy rẫy những đau khổ, đồng thời cũng xác định có một sự thật khác nữa là an lạc, hạnh phúc Vì vậy mà có sự tu tập để đạt được hạnh phúc Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc có các mức độ khác nhau
- Hạnh phúc tương đối: Một khi con người đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợ hãi, bất an giảm hẳn, thân tâm trở nên thanh thản, đầu óc tỉnh táo; con người nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản và rộng lượng hơn Đó là một hình thức của hạnh phúc Tóm lại, tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, sân và vô minh đến mức độ nào thì đời sống của con người sẽ được tăng phần hạnh phúc lên mức độ ấy
Nếu phát triển hạnh phúc tinh thần cao hơn bằng cách tu tập thiền định thì sẽ có sự an lạc tuyệt vời Đức Phật dạy: «Có người có thể không bị bệnh về thể xác trong một năm hay có thể đến cả trăm năm, nhưng thật hiếm có người không bị bệnh về tinh thần, dù chỉ trong một phút« Những tâm lý được coi là bệnh của tinh thần gồm có 5 trạng thái tâm lý, thường gọi là 5 triền cái: tham lam, sân hận, hôn trầm ngủ nghỉ, dao động và hối hận, hoài nghi và
do dự Khi 5 loại tâm lý này có mặt, nó sẽ trói buộc và ngăn che tâm trí; loại trừ chúng thì tinh thần sẽ sáng tỏ thanh tịnh và an lạc như mặt trăng thoát khỏi mây che Các trạng thái hạnh phúc tinh thần này được gọi là Tứ thiền
- Hạnh phúc tuyệt đối: Trên nền tảng hạnh phúc tinh thần, con người có thể phát triển tuệ quán, hướng tâm đến đoạn trừ toàn bộ phiền não vi tế, thâm sâu, có thể đạt hạnh phúc tuyệt đối, tối thượng là Niết bàn Diệt đế chính là Niết bàn Niết bàn là sự thanh tịnh,
là hạnh phúc tuyệt đối Đức Phật dạy: “Vô bệnh lợi tối thắng, Niết bàn lạc tối thắng” (K.Magandiya, TBK II)
Niết bàn còn được diễn tả dưới nhiều danh từ khác nhau, tiêu biểu như: vô sanh, giải thoát,
vô vi, vô lậu, đáo bỉ ngạn, tịch tịnh, chân như, thực tướng, pháp thân Niết bàn không phải
là đối tượng của tư duy, khái niệm hay ngôn ngữ Đây là trạng thái an lạc, hạnh phúc tuyệt đối khi tâm ý đã vắng mặt tham, sân, si
Chúng ta thường quan niệm Niết bàn như một cảnh giới, một cõi nào đó cao cấp hơn cõi người, như là cõi thiên đường của các tôn giáo khác; đó là một sai lầm lớn Niết bàn vượt thoát mọi khái niệm đối đãi về thời gian, không gian, có, không, lớn, nhỏ Dù vậy, Niết bàn không phải là hư vô, mà là một thực tại thanh tịnh, siêu việt, không nằm trong phạm