Phật giáo được Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền bắc Ấn Độ vào thế kỷ VI TCN. Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi Đức Phật còn tại thế ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học. Ngay từ buổi đầu, Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Châu Âu.
Trang 1MỞ ĐẦU 2
I PHẬT GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA PHÁI NHẤT
1.2 Sự ra đời phái Nhất Thiết Hữu Bộ 5
II LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VÀ TRIẾT HỌC PHÁI NHẤT
2.1 Lịch sử tư tưởng phái Nhất Thiết Hữu Bộ 7 2.2 Triết học phái Nhất Thiết Hữu bộ 12
MỤC LỤC
Trang
Trang 2MỞ ĐẦU
Phật giáo được Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) truyền giảng ở miền
bắc Ấn Độ vào thế kỷ VI TCN Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi Đức Phật còn tại thế ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu học Ngay từ buổi đầu, Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước có nền khoa học tiên tiến như Châu Âu
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, trải qua các giai đoạn khác nhau,
do cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các trường phái trong Phật giáo dẫn đến sự hình thành nhiều phái khác nhau, trong đó có trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (zh 說說說說說, sa sarvāstivādin), còn gọi là Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ ( sa mūlasarvāstivādin, bo thams cad yod par smra ba`i sde) hoặc Nhất Thiết Hữu Bộ, là một bộ phái Phật giáo cho rằng mọi sự đều có, đều tồn tại (nhất thiết hữu, sa “sarvam asti”) Là một nhánh của Tiểu thừa tách ra từ Thượng toạ bộ (sa sthaviravādin) dưới thời vua A-dục Quan điểm của bộ này được xem như nằm giữa Tiểu thừa và Đại thừa Lịch sử tư tưởng và triết học Nhất Hữu bộ có đóng góp to lớn cho sự phát
triển của Phật giáo Do vậy, nghiên cứu “Lịch sử tư tưởng và triết học Nhất
Thiết Hữu bộ” có ý nghĩa rất quan trọng.
Trang 3NỘI DUNG
I PHẬT GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA PHÁI NHẤT THIẾT HỮU BỘ
1.1 Phật giáo Ấn Độ
Điều kiện thiên nhiên Ấn Độ rất phức tạp Địa hình vừa có nhiều núi non, vừa có nhiều sông ngòi với nhiều đồng bằng trù phú, có vùng nóng ẩm mưa nhiều, có vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, lại có những vùng sa mạc khô cằn, nóng nực Tính đa dạng và khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực tự nhiên đè nặng lên đời sống và ghi dấu ấn đậm nét lên tâm trí người dân Ấn Độ cổ
Xã hội Ấn Độ cổ đại là một xó hội rất sớm, khoảng thế kỷ thứ XXV TCN đó xuất hiện nền văn minh đầu tiên là văn minh sông Ấn Đến thế kỷ
XV TCN, có sự xâm nhập của người Arya vào khu vực của người bản địa (người Dravida ) hình thành nên các quốc gia Ấn Độ tạo nên nền văn hóa mới gọi là văn hóa Véda
Đặc điểm nỗi bậc của nền kinh tế - xã hội Ấn Độ cổ là sự tồn tại rất sớm
và kéo dài của kết cấu kinh tế - xó hội theo mô hỡnh “Công xó nông thôn” mà đặc trưng của kết cấu này là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước của các Đế Vương, mà gắn liền với nó là sự bần cùng hóa của người dân trong công xó Xó hội thời kỳ này được phân chia thành 4 đẳng cấp lớn là: Tăng lữ, Quý tộc, Bình dân tự do, Nô lệ cung đình Sự phân chia đẳng cấp đó làm cho
xó hội xuất hiện những mâu thuẩn gay gắt dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa các đẳng cấp trong xã hội Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều tôn giáo và trường phái triết học đó ra đời, trong đó có Phật giáo
Phật giáo Ấn Độ Theo truyền thuyết, người sáng lập ra Phật giáo là
Thái tử Cồ Đàm - Tất Đạt Đa (Gau ta ma Siddhattha) sinh năm 563 trước công nguyên (TCN), con vua Tịnh Phạn (Shudd hodana) thuộc bộ tộc Thích
Ca (Sa Kya), trị vì một vương quốc nhỏ là Catỳlavệ (Kapilavaxtu) ở trung lưu
Trang 4sông Hằng, bao gồm một phần phía Nam Nê-pan và một phần các bang Uttarơ, Prađezơ, Bi he của Ấn Độ ngày nay [5, tr.458]
Vào khoảng thế kỷ VI Tr.CN ở Ấn Độ lực lượng sản xuất phát triển nhanh, sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn giai cấp trong xã hội ngày càng gay gắt Đạo Bà La Môn sau một thời gian củng cố đã đi vào giai đoạn phát triển cực thịnh cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị trong xã hội Đạo Bà La Môn đã phân chia xã hội thành bốn đẳng cấp với quyền lợi, địa vị và nghĩa vụ khác nhau Sự phân biệt giữa các đẳng cấp được thể hiện ở nhiều mặt, không những chỉ về quyền lợi kinh tế, địa vị xã hội, mà cả trong quan hệ giao tiếp, đi lại, ăn mặc, sinh hoạt tôn giáo Hai đẳng cấp trên trở thành giai cấp bóc lột và thống trị trong xã hội, trong đó nổi bật là những đặc quyền đặc lợi của đẳng cấp Bà La Môn, đẳng cấp được coi là đẳng cấp cao quý, trong sạch nhất, sánh vai với thánh thần Đẳng cấp Thủ Đà La ở địa vị tận cùng của xã hội, làm nô lệ cho các đẳng cấp trên Mâu thuẫn giữa các đẳng cấp ở Ấn Độ ngày càng trở nên gay gắt, đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau Các trào lưu tư tưởng
đó đều gặp nhau ở chỗ - hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp - chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp và đạo Bà La Môn Học thuyết Phật giáo là một trong những trào lưu tư tưởng đó
Phật giáo ra đời trong làn sóng đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, một mặt, phủ nhận những giáo lý, lễ nghi khắt khe của đạo Bà la môn và chế
độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt; mặt khác, lại kế thừa những tư tưởng, những yếu tố tích cực của nó như đề cao lòng nhân ái, từ bi, với mục đích tối cao là “giải thoát” con người khỏi bể khổ của cuộc đời bằng sự tu luyện đạo đức, tu luyện trí tuệ, thiền định (giới, định, tuệ) Nhờ đó, Phật giáo
đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng, trở thành ngọn cờ đầu của phong trào cách tân tư tưởng và xã hội ở Ấn Độ cổ đại
Phật giáo nguyên thủy có tư tưởng vô thần luận, phủ nhận đấng sáng thế (vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng (vô thường, thuyết duyên khởi )
Trang 5Phật giáo là tiếng nói chống chế độ phân biệt đẳng cấp, tố cáo bất công, đòi tự
do và bình đẳng xã hội, nói lên khát vọng giải thoát của con người khỏi những
bi kịch của cuộc đời Đồng thời, Phật giáo cũng nêu cao thiện tâm, từ bi, bác
ái như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội Tuy nhiên, triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủ quan khi coi thế giới hiện tượng (vạn pháp) là ảo giả, huyễn hoặc và do cái tâm vô minh của con người tạo ra Trong cách giải quyết về sự đau khổ của con người, xem xét con người trong tính nhân bản mà lại tách con người ra khỏi xã hội loài người, dẫn tới nhị nguyên, càng về sau càng trở nên duy tâm thần bí
1.2 Sự ra đời phái Nhất Thiết Hữu Bộ
Trong quá trình phát triển, Phật giáo đã phân chia thành nhiều bộ phái khác nhau, do những nguyên nhân nội bộ nảy sinh và những nguyên nhân tác động bên ngoài Tuy nhiên, xét cho cùng, nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn đến sự phân phái của Phật giáo, đó là sự thay đổi cuộc sống hiện thực xã hội Tư tưởng bao giờ cũng là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội Khi thực tiễn xã hội thay đổi, tất yếu tư tưởng cũng thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Đó là quy luật khách quan Cuộc sống xã hội Ấn Độ thay đổi, muốn tồn tại, Phật giáo cũng phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh trong từng giai đoạn cụ thể Sự thay đổi thích nghi ấy, một mặt, tạo ra sự phát triển
và mặt khác, đã dẫn đến sự phân phái
Trong hệ thống Thượng toạ bộ, đáng chú ý nhất phải kể đến phái Nhất Thiết Hữu Bộ Nhất Thiết Hữu Bộ do Ca Chiên Diên Tử sáng lập vào khoảng thời gian 300 năm sau khi Đức Phật diệt độ Nó chủ trương giáo nghĩa tuỳ vào sự tiến triển của giáo lý Phật giáo nguyên thuỷ, lấy Luận tạng làm căn bản Đó là thuyết “Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu”, đối lập với Thượng toạ bộ lấy Kinh tạng và giáo lý Phật giáo nguyên thuỷ làm căn bản, không thiên trọng về Luật tạng và Luận tạng
Trang 6Tác phẩm quan trọng nhất của bộ này là Atìđạtmacâuxá luận (sa abhidharmakośa) của Thế Thân, Đại tìbàsa luận (sa.mahāvibhāṣā), một bộ luận được biên soạn trong lần Kết tập tại Kashmir dưới sự chủ trì của Thế Hữu (sa.vasumitra) Đại tìbàsa luận trình bày quan điểm chính thức của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ và là tác phẩm được hoàn tất cuối cùng trong bảy tác phẩm của Luận tạng (sa.abhidharmapiṭaka, xem Atìđạtma) Một số tác phẩm khác cần được nhắc tới là Atìđàm tâm luận (sa.abhidharmahṛdaya), là
bộ luận trung tâm của Atìđạtma với mười chương Tìbàsa luận của Cachiên diên tử cũng viết tổng quát về giáo lí bộ này Tác phẩm Thế gian giả thiết (sa.lokaprajñapti) trình bày quan điểm về sự hình thành thế giới đáng lưu ý Các quan điểm về giới luật được trình bày trong Tìnạidatìbàsa (sa.vinayavibhāṣā)
Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ có tính đa nguyên, xuất phát từ sự phủ nhận cái ngã (Vô ngã), một tính chất cá nhân hoặc linh hồn và thừa nhận những đơn vị luân chuyển theo thời gian, được gọi là pháp Bộ này cho rằng có 75 pháp, và cho đó là những đơn vị cuối cùng, không thể chia cắt (tương tự khái niệm “nguyên tử” của Âu Châu thời thượng cổ) đều hiện hữu đồng thời Chỉ các pháp này là “có thật” Họ phân biệt các pháp tuỳ thuộc, Hữu vi (sa.saṃskṛta) và các pháp độc lập, Vô vi (sa.asaṃskṛta) Các pháp độc lập là
Hư không (sa ākāśa), Niếtbàn vô trụ (sa apratiṣṭhitanirvāṇa) và Niếtbàn thường trụ (sa pratiṣṭhitanirvāṇa) Các pháp hữu vi được chia làm bốn nhóm: Sắc pháp (sa.rūpadharma), Tâm (Thức) pháp (sa.citta, vijñāna), các hoạt động của những Tâm sở hữu pháp (sa.cetasikadharma) và Tâm bất tương ưng hành pháp (sa.cittaviprayuktasaṃskāra) - các pháp không thuộc tâm không thuộc vật như già, chết, Vô thường
Các pháp hữu vi này theo quan điểm của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ -không phải từ đâu sinh ra mà luôn luôn đã có, chỉ đổi từ trạng thái tiềm tàng qua hiện hữu Vì quan điểm này mà Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ có tên “Nhất
Trang 7thiết hữu”, nghĩa là quá khứ vị lai đều được chứa trong một “pháp” duy nhất Trong Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, người ta cũng khám phá vài yếu tố nguyên thuỷ của Đại thừa, như quan điểm Tam thân (sa trikāya) và niềm tin nơi Bồ Tát Dilặc, vị Phật tương lai
II LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VÀ TRIẾT HỌC PHÁI NHẤT THIẾT HỮU BỘ
2.1 Lịch sử tư tưởng phái Nhất Thiết Hữu Bộ
Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (SarvŒstivŒdin) là một trong 20 phái của Phật giáo Ấn độ, thuộc hệ tư tưởng của Thượng tọa bộ Đứng từ góc độ lịch
sử tư tưởng Phật giáo Ấn độ mà nhìn, Nhất Thiết Hữu Bộ là phái xuất hiện sau phái Độc Tử và Hoá Địa Bộ, không thể xuất hiện trước hai phái này, như Thế Hữu (Vasumitra) đã ghi trong “Dị Bộ Tông Luân Luận” Một chứng minh cụ thể là, nội dung tác phẩm “Thức Thân Túc Luận” chủ yếu phản bác
tư tưởng của hai phái này, điều đó đồng nghĩa tư tưởng của hai phái này phải xuất hiện trước, Hữu bộ mới không đồng tình, lấy đó làm đối tượng thảo luận
Lịch sử tư tưởng phái Nhất Thiết Hữu Bộ được thể hiện trên một số nội dung sau:
a) Phân chia pháp
Một số trường phái Phật giáo giải thích về vũ trụ, con người Nhất Thiết Hữu Bộ là một trong những trường phái này, đưa ra quan niệm về vũ trụ, nhân sinh Theo Nhất Thiết Hữu Bộ tất cả các pháp trong vũ trụ chia ra làm hai loại chính: Hữu vi và Vô vi Pháp Hữu vi có 4 loại bao gồm 72 pháp
Vô vi có 3 pháp Tổng cộng pháp Hữu vi và Vô vi là 75 pháp
- Hữu vi pháp: là các pháp sinh, diệt, đổi thay chịu sự tác động của vô thường tức pháp đó do nguyên nhân, điều kiện tạo thành Pháp Hữu vi chia thành 4 nhóm:
(1) Sắc pháp: gồm 5 căn, 5 trần và một vô biểu sắc Trong đó vô biểu sắc có tính thiện hoặc bất thiện Ví dụ: khi họ giới phát tâm làm điều thiện sẽ
Trang 8cho quả thiện Tuy khuynh hướng thiện ác không nhìn thấy nhưng nó tạo ra quả thiện ác cho nên sếp nó thuộc về Sắc pháp
(2) Tâm: Trọng tâm điều khiển các thức, lãnh đạo chức năng tinh thần (3) Tâm sở pháp: Đó là khía cạnh của trạng thái tâm thức Tâm sở nương vào tâm vương mà phát sinh ra các tính năng Tâm sở được phân nhóm thành 6 loại, bao gồm:
Một là, Đại địa pháp: Thọ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý, thắng giải, tam ma địa 10 tâm này có công dụng rất lớn thông qua ba tâm thiện, ác
và vô ký
Hai là, Đại thiện địa pháp: gồm có tín, cẩn, bất phóng dật, kinh an, xả, tàm, quý, vô tham, vô sân, bất hại
Ba là, Đại phiền não địa pháp gồm: si, phóng dật, giả đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cứ
Bốn là, Đại bất thiện địa pháp: vô tâm, vô quý
Năm là, Tiểu phiền não não địa pháp gồm: phấn, phú, san, tật, lão, hại, hận, siểm, cuống, kiêu
Sáu là, Bất định địa pháp: tầm, tứ, miên, tham, san, mạn, nghi
(4) Tâm bất tương ưng hành: các loại tâm này không tương ứng với tâm vương nên gọi là tâm bất tương ứng hành, chúng cũng thuộc không về sắc, thọ, tưởng, hành, thức Bao gồm: đắc, phi đắc, mạng căn, đồng phận, vô thường quả, diệt tạn định, sinh, trụ, diệt, danh thân, cú thân, văn thân
- Vô vi pháp: là các pháp không đổi thay, không chướng ngại, phiền não, không thuận tăng trưởng, xa lìa lệ phược Gồm có 3 pháp:
+ Hư không vô vi: tách của nó là không chương ngại
+ Triệt diệt vô vi: nhờ trí tuệ giảm trạch nên xa lìa được những phiền não + Phi trạch diệt vô vi: pháp không sinh khởi do thiếu duyên Rốt ráo làm ngăn ngại các pháp sẽ sinh nên gọi là phi trạch diệt
b) Thuyết Nhân quả
Trang 9Mục đích mà các nhà Nhất Thiết Hữu Bộ thành lập thuyết 6 nhân 4 duyên nhằm giải thích nguyên tắc hình thành các pháp, phản bác quan điểm
tư tưởng cho rằng, không nhân không duyên, hay nói đúng hơn các nhà Hữu
Bộ xác nhận thuyết 6 nhân 4 duyên là thật có Nói một cách dễ hiểu hơn, theo cái nhìn của các nhà Nhất Thiết Hữu Bộ, tất cả những hiện tượng trên thế giới này chỉ là sự kết cấu của các cực vi Thế thì ở đây vấn đề được đặt ra là, bằng cách nào để nối kết giữa các cực vi ấy thành vật có thể thấy, nghe hay cảm xúc được? Câu trả lời của các nhà Nhất Thiết Hữu Bộ chính là do 6 nhân 4 duyên là học thuyết giải thích nghi vấn này Học thuyết này được đề cập khá phổ biến trong các luận của Nhất Thiết Hữu Bộ Như trong “Đại Tỳ Bà Sa Luận” đề cập thuyết này như sau: Trước tiên là thuyết 6 nhân Ở đây, 6 nhân là:
1 “Tương ưng nhân” (samprayukta-hetu) là sự tương ưng giữa pháp này với pháp khác Ví dụ, con mắt tương ứng với sắc pháp, lỗ tai tương ứng với âm thanh….;
2 “Câu hữu nhân” (sahabhu-hetu) hay còn gọi là “cọng hữu nhân”,
“cọng sanh nhân” là mối quan hệ giữa nhân và quả Ví dụ trong quả có nhân, trong nhân có quả;
3 “Đồng loại nhân” (sabhga-hetu) cò gọi là “tự phân nhân, tự chủng nhân”, có nghĩa là tất cả pháp thuộc hữu lậu, từ quá khứ đến hiện tại có chung một chủng loại, như thiện pháp tương ưng cùng thiện pháp, ác pháp tương ưng với ác pháp, không thể tương ưng với thiện pháp;
4 “Biến hành nhân” (sarvatraga-hetu) là những nhân tố phổ biến Như mọi chúng sanh đều có phiền nào, phiền não là yếu tố phổ biến của chúng sanh, như vậy phiền não là nhân tố phổ biến của mọi chúng sanh;
5 “Dị thục nhân” (vipŒka-hetu) chỉ cho những nhân tố chiu cảm thiện
ác nghiệp quả của 3 đời;
6 “Năng tác nhân” (kŒrana-hetu), còn gọi là “sở tác nhân, tùy tạo nhân”, chỉ cho bản than của vật đó có khả năng sinh ra cái khác Như đất có
Trang 10khả năng sinh cỏ; con người có khả năng sanh suy tư… Đây là khái quát nội dung và ý nghĩa của thuyết 6 nhân
Có 4 duyên:
1 Nhân duyên;
2 Đẳng vô gián duyên;
3 Sở duyên duyên;
4 Tăng thượng duyên
Ở đây, cái được gọi 4 duyên (catvara-pratyaya) là:
1 “Nhân duyên” (hetu-pratyaya), tức chỉ cho bản thân sự vật có khả năng sinh ra cái khác Ví dụ như hạt giống có khả năng sinh ra mầm cây Như vậy, hạt giống là nhân duyên của mầm cây;
2 “Đẳng vô gián duyên” (samanantara-pratyaya) là ám chỉ cho những loại duyên liên tục, không bị gián đoạn Ví dụ như hít thở, ăn uống là điều kiện trợ giúp cho sự sống con người, các duyên này liên tục có mặt không dứt đoạn Như vậy, hít thở, thức ăn uống là “đẳng vô gián duyên” của con người;
3 Sở duyên duyên (lambana-pratyaya), tức chỉ cho “pháp xứ” trong 12
xứ, vì nó là đối tượng nhận thức của ý thức;
4 “Tăng thượng duyên” (abhipati-pratyaya) chỉ cho các yếu tố trợ giúp cho nhân phát triển Ví dụ như các loại phân bón, nước, ánh sáng… là trợ duyên cho sự trưởng thành của hạt giống, các trợ duyên này gọi là “Tăng thượng duyên” [4, tr.278] Đây là nội dung và ý nghĩa của thuyết 4 duyên
Qua nội dung và ý nghĩa của thuyết 6 nhân 4 duyên, nó gợi ý cho chúng ta thấy, các nhà Nhất Thiết Hữu Bộ thành lập học thuyết này nhằm củng cố học thuyết của mình và lý giải sự hình thành các pháp ở thế gian, tức
là bằng những yếu tố nào các “cực vi” có thể kết hợp lại thành những hiện tượng vật thể chúng ta có thể thấy nghe ngưởi nếm và cảm xúc được Nếu không có thuyết 6 nhân 4 duyên này, quan điểm cực vi của mình sẽ tồn tại trong sự rời rạt, thế giới vật thể không do đâu mà có Có thể nói, đây là một