1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học PHẬT GIÁO và ẢNH HƯỞNG đến đời SỐNG xã hội VIỆT NAM

34 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết Học Phật Giáo Và Ảnh Hưởng Đến Đời Sống Xã Hội Việt Nam
Tác giả Nguyễn Tiến Đạt, Lê Đức Minh Hoàng, Trần Thanh Liêm, Nguyễn Quốc Huy, Đỗ Ngọc Huy
Người hướng dẫn PGS.TS. Đoàn Đức Hiếu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2019-2020
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 496,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, xét trên khía cạnh hệ thống tưtưởng, thì Phật giáo đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hình thành một quan niệmsống và sinh hoạt cho con người Việt Nam Hiện nay, tư tưởng chủ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -MÔN HỌC: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM GVHD: PGS.TS Đoàn Đức Hiếu MMH: LLCT120405 Nhóm sinh viên thực hiện: 1 Nguyễn Tiến Đạt - 19147092

2 Lê Đức Minh Hoàng - 19147104

3 Trần Thanh Liêm - 19147112

4 Nguyễn Quốc Huy - 19147109

5 Đỗ Ngọc Huy - 19147106

Học kỳ 2 – Năm học 2019-2020

Tp Hồ Chí Minh, tháng 6, năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

- -MÔN HỌC: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM GVHD: PGS.TS Đoàn Đức Hiếu MMH: LLCT120405 Nhóm sinh viên thực hiện: 6 Nguyễn Tiến Đạt - 19147092

7 Lê Đức Minh Hoàng - 19147104

8 Trần Thanh Liêm - 19147112

9 Nguyễn Quốc Huy - 19147109

10 Đỗ Ngọc Huy - 19147106

Học kỳ 2 – Năm học 2019-2020

Tp Hồ Chí Minh, tháng 6, năm 2020

Trang 3

NHẬN XÉT

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

……… ………

Ký tên

PGS TS Đoàn Đức Hiếu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Kết cấu của tiểu luận 2

CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 3

1.1 Nguồn gốc ra đời của phật giáo 3

1.2 Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học phật giáo 3

1.3 Sự phát triển của Phật giáo 10

1.3.1 Sự phát triển của Phật giáo trên thế giới 10

1.3.2 Sự du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam 13

-CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM 19

1.2 Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống xã hội xưa kia 19

2.2 Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống xã hội hiện nay 20

2.3 Ảnh hưởng của Phật giáo tới thế hệ trẻ 21

-2.4 Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Phật giáo thời Lý – Trần trong nền văn hóa Việt Nam hiện nay 25

KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 6

Từ khi du nhập vào Việt Nam đến nay, Phật giáo đã tồn tại và gắn liền với lịch sửdân tộc, nó ngấm sâu vào tư duy và trở thành một bộ phận văn hóa, nếp sống củangười Việt Với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, Đạo Phật đã khẳng định giá trị của nótrong lĩnh vực xã hội, văn hóa, chính trị Đặc biệt, xét trên khía cạnh hệ thống tưtưởng, thì Phật giáo đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hình thành một quan niệmsống và sinh hoạt cho con người Việt Nam

Hiện nay, tư tưởng chủ đạo, vũ khí lý luận của chúng ta trong công cuộc xây dựngđất nước quá độ lên CNXH là chủ nghĩa Mác-Lênin; nhưng bên cạnh đó, bộ phận kiếntrúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sống day dẵn, trong đó có giáo lý nhà Phật

đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng tình cảm của một bộ phận lớn dân cư Việt Nam Việcxóa bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nó là không thể thực hiện được nên chúng ta cần vậndụng một cách hợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như saunày Vì vậy, nghiên cứu lịch sử, giáo lý và sự tác động của Phật giáo đối với thế giớiquan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết.việc đi sâu nghiên cứu đánhgiá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ của Phật giáo giúp ta tìm được phương cách

để hướng đạo cho người dân một cách đúng đắn cũng như định hướng cho sự pháttriển nhân cách, tư duy của con người Việt Nam trong tương lai

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, em chọn nghiên cứu đề tài “ Tư tưởng triết học phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đến xã hội Việt Nam ’’

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tư tưởng cơ bản của triết học phật giáo, ảnh hưởngcủa Phật giáo đối với đời sống tinh thần ở người Việt Nam

Trang 7

Phạm vi nghiên cứu chỉ nghiên cứu những tư tưởng cơ bản của Phật giáo và ảnhhưởng của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam.

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tiểu luận là phương pháp tổng hợp các phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là các phân tích tổng hợp gắn với lý luận thực tiễn để thực hiê ̣n đề tài

4 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục hình ảnh và tài liệu tham khảo, tiểu luậnđược chia làm 2 chương:

- Chương 1: Khái quát triết học phật giáo

- Chương 2: Ảnh hưởng của triết học Phật giáo đến đời sống xã hội Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 1.1 Nguồn gốc ra đời của phật giáo.

Đạo Phật mang tên người sáng lập là Đà (hay buddha) Đạo phật chính là giáo lý màPhật Đà đã thuyết giảng Sau khi ra đời ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước Côngnguyên, đạo Phật được lưu hành rộng rãi ở các quốc gia trong khu vực Á - Phi, gầnđây được truyền tới các nước Âu - Mỹ Trong quá trình truyền bá của mình, đạo Phật

đã kết hợp với tín ngưỡng, tập tục, dân gian, văn hoá bản địa để hình thành rất nhiềutông phái và học phái, có tác động vô cùng quan trọng với đời sống xã hội và văn hoácủa rất nhiều quốc gia

Buddha vốn là một thái tử tên là Tất Đạt Đa (Siddharta), con trai của Trịnh Phạn(Sudhodana) vua nước Trịnh Phạn, một nước nhỏ thuộc Bắc Ấn Độ (nay thuộc đất NêPan) ông sinh ra vào khoảng năm 623 trước công nguyên.Nhìn rõ được cảnh khổ củachúng sinh.Ngài đã quyết xuất gia tầm đạo để giải thoát khổ đau cho con người trong

xã hội Ngài để lại vương triều và gia đình vì theo Ngài có cách khác để làm cuộc sốngnhân dân thoát khỏi lầm than chứ không phải cách cai trị cứng nhắc Ròng rã sáu năm

tu hành khổ hạnh trong rừng sâu và 49 ngày nhập định dưới gốc cây Bồ Đề, Đức phật

đã giác ngộ được đạo quả vô – thượng, chính – đẳng, chính – giác Bánh xe Phật giáobắt đầu lăn chuyển lần đầu tiên tại vườn lộc uyển để độ cho năm người bạn đồng tuvới Ngài lúc trước và họ đều chứng quả A La Hán

Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Việt Nam đã trên hai ngàn năm Ngay từ rất sớm,Phật giáo đã được tiếp nhận và trở thành một tư tưởng chủ đạo trong nền văn hóa dântộc, dĩ nhiên là sau khi đã bản địa hóa Phật giáo Suốt hơn hai ngàn năm lịch sử, Phậtgiáo đã luôn đồng cam cộng khổ với vận mệnh thăng trầm của xứ sở, trong công cuộcchống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi, đánh bật âm mưuxâm lăng và nô dịch nền văn hóa của thế lực phương Bắc trong nhiều giai đoạn

1.2 Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học phật giáo

Tư tưởng triết lý Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinh điển rấtlớn, được tổ chức thành ba bộ kinh lớn gọi là tam tạng gồm:

Trang 9

- Tạng Luận: Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui định cho cả năm bộ

phái Phật giáo như: “Tứ phần luật” của thượng toạ bộ, Maha tăng kỷ luật của “Đạichúng bộ”, căn bản nhất thiết hữu bộ luật” Sau này còn thêm các Bộ luật của ĐạiThừa như An lạc, Phạm Võng

- Tạng kinh: Chép lời Phật dạy, trong thời kỳ đầu tạng kinh gồm nhiều tập dướidạng các tiền đề, mỗi tập được gọi là một Ahàm

- Tạng luận: Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo pháp của Phật giáo Tạngluận gồm bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm về giáo pháp của Phậtgiáo

Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhân sinhquan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác

Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ (chử pháp) là vô thuỷ, vôchung (vô cùng, vô tận) Tất cả thế giới đều ở quá trình biến đổi liên tục (vô thường)không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật cả Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới(vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi là Pháp giới Mỗi một pháp (mỗi một sự v iệc hiệntượng, hay một lớp sự việc hiện tượng) đều ảnh hưởng đến toàn Pháp Như vậy các sựvật, hiện tượng hay các quá trình của thế giới là luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ, tácđộng qua lại và qui định lẫn nhau

Ngay từ đầu Phật giáo đã đặt ra mục đích giải quyết vấn đề cơ bản của Triết họcmột cách biện chứng và duy vật Phật giáo đã gạt bỏ vai trò sáng tạo thế giới của các

“đấng tối cao” của “Thượng đế” và cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khách quan vàkhông do vị thần nào sáng tạo ra cả Cái bản thể ấy chính là sự thường hằng trong vậnđộng của vũ trụ, là muôn ngàn hình thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trongvạn vật nhưng nó không dừng lại ở bất kỳ hình thức nào Nó muôn hình vạn trạngnhưng lại tuân hành nghiêm ngặt theo luật nhân quả

Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng, thành, trụ,hoại, diệt (sinh thành, biến đổi, tồn tại, tan rã và diệt vong) Quá trình đó phổ biến khắp vạn vật, trong vũ trụ, nó là phương thức thay đổi chất lượng của sự vật và hiệntượng

Trang 10

Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thường của vạn vật, đã xây dựngnền thuyết “nhân duyên” trong thuyết “nhân duyên” có ba khái niệm chủ yếu là Nhân,Quả và Duyên.

- Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, được gọi là Nhân

- Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả

- Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả Duyên không phải là mộtcái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện để giúp cho sự biến chuyểncủa vạn Pháp

Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hoá vô thường của nó,

từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lại Phật giáo đã trình bày thuyết “ThậpNhị Nhân Duyên” (mười hai quan hệ nhân duyên) được coi là cơ sở của mọi biến đổitrong thế giới hiền sinh, một cách tất yếu của sự liên kết nghiệp quả

+ Vô minh: là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên sáng tỏ

+ Hành: là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả, tạo ra cáinghiệp, cái nếp Do hành động mà có thức ấy là hành làm quả cho vô minh và là nhâncho Thức

+ Thức: Là ý thức là biết Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm quả cho hành vàlàm nhân cho Danh sắc

+ Danh sắc: Là tên và hành ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình và tên của ta Dodanh sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làm nhân cho Lục xứ

+ Lục xứ hay lục nhập: Là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và tri thức.

Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạn vật Do Lục nhập mà có xúc– tiếp xúc ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và làm nhân cho Xúc

+ Xúc: Là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên cmở rộng xúc,

cảm giác Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm quả cho Lục xứ và làm nhân cho Thụ

+ Thụ: (Là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào mình Do thụ mà

có ái ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái

+ Ái: Là yêu, khát vọng, mong muốn, thích Do ái mà có Thủ Do ấy, ái làm quả choThụ và làm nhân cho Thủ

+ Thủ: Là lấy, chiếm đoạt cho minh Do thủ mà có Hữu Do vậy mà Thủ làm quả cho

ái và làm nhân cho Hữu

Trang 11

+ Hữu: Là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cái nghiệp Do Hữu mà

có sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của Sinh

+ Sinh: Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người, làm súc sinh Dosinh mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân cho Tử

+ Lão tử: Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải chết Nhưng chết– sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau Thể xác tan đi là hết nhưng linhhồn vẫn ở trong vòng vô minh Cho nên lại mang cái nghiệp rơi vào vòng luân hồi( khổ não)

Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn, không bao giờngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà Các nhân duyên tự tập nhau lại mà sinh mãi mãi gọ

là Duyên hà mãn Đoạn này do các duyên mà làm quả cho đoạn trước, rồi lại do cácduyên mà làm nhân cho đoạn sau Bởi 12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hoá vôthường

- Mối quan hệ Nhân – Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không gian và thời giangiữa vạn vật Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới không tính đến cái lớn nhỏ,không tính đến sự giản đơn hay phức tạp Một hạt cát nhỏ được tạo thành trong mốiquan hệ nhân quả của toàn vũ trụ Cả vũ trụ hoà hơp tạo nên nó Cũng như nó hoà hợptạo nên cả vũ trụ bao la Trong một có tất cả trong tất cả có một Do nhân Duyên màvạn vật sinh hay diệt Duyên hợp thì sinh, Duyên tan thì diệt

Vạn vât sinh hoá vô cùng là do ở các duyên tan hợp, hợp tan nối nhau mà ra Nên vạnvật chỉ tồn tại ở dạng tương đối, trong dòng biến hoá vô tận vô thường vô thực thể, vôbản ngã, chỉ là hư ảo Chỉ có sự biến đổi vô thường của vạn vật, vạn sự theo nhânduyên là thường còn không thay đổi

Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ cũng chỉ là dòngbiến hoá hư ảo vô cùng, không có gì là thường định, là thực, là không thực có sinh, códiệt, có người, có mình, có cảnh, có vật, có không gian, có thời gian Đó chính là cáichân lý cho ta thấy được cái chân thế tuyệt đối của vũ trụ Thấy được điều đó gọi là “chân như” là đạt tới cõi hạnh phúc, cực lạc, không sinh, không diệt, niết bàn

Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên kết hợp mà thành Đó là sựkết hợp của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý

Trang 12

- Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “ sắc” ( địa, thuỷ, hoá, phong ) tức

là cái cảm giác được

- Cái tôi tâm lý ( tinh thần ) linh hồn tức là “tâm” với 4 yếu tố chỉ có tên gọi mà không

có hình chất gọi là “ Danh”

Trong “Sắc’ gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ không nhìn thấy đượcnếu nó nằm trong quá trình biến đổi của “sắc” gọi là “vô biến sắc” như vật chất chuyểnhoá thành năng lượng chẳng hạn

Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của con người là:

+ Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc chạm lĩnh hội

thân hay tâm

+ Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng.

+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.

+ Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.

Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân – Duyên tạo thành mỗi sinh vật cụ thể códanh và có sắc Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta Duyên tan ngũ uẩn thì là diệt Quá trìnhhợp tan ngũ uẩn do Nhân – Duyên là vô cùng tận

- Các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn luôn biến hoá theo qui luật nhân hoá không ngừngkhông nghỉ, nên mọi sinh vật cũng chỉ là vụt mất, vụt còn Không có sự vật riêng biệt,

cố định, không có cái tôi, cái tôi hôm qua không còn là cái tôi hôm nay Kinh Phật cóđoạn viết “ Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc là không, không là sắc.Thụ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế”

Như vậy thế giới là biến ảo vô thường, vô định Chỉ có những cái đó mới là chân thực,vĩnh viễn, thường hằng Nếu không nhận thức được nó thì con người sẽ lầm tưởng tatồn tại mãi mãi, cái gì cũng thường định, cái gì cũng của ta Do đó, mà con người cứkhát ái, tham dục cứ mong muốn và hành động chiếm đoạt tạo ra kết quả mà kết quả

đó có thể tốt, có thể xấu gây nên nghiệp báo, rơi vào bể khổ triền miên không bao giờdứt

Sở dĩ có nỗi khổ là do qui định của Luật nhân quả Vì thế mà ta không thấy được cáiluật nhân bản của mình ( bản thể chân thực ) Khi đã mắc vào sự chi phối của LuậtNhân – Duyên, thì phải chịu nghiệp báo và kiếp luân hồi, luân chuyển tuần hoànkhông ngừng, không dứt

Trang 13

Nghiệp và luân hồi không những chỉ là những khái niệm của Triết học Phật giáo mà có

từ trong Upanishad

Nghiệp chữ phạn và Karma là cái do những hoạt động của ta, do hậu quả việc làm của

ta, do hành động của thân thể ta Được gọi là “ thân nghiệp”, còn hậu quả của nhữnglời nói của ta, phát ngôn của ta thì được gọi làg “ khẩu nghiệp” Hay những cái do ýnghĩ của ta, do tâm tue của ta gây nên được gọi là ‘ý nghiệp” Tất cả những thânnghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp là do ta tham dục mà thành, do ta muốn thoả mãn thamvọng của mình gây nên Sở dĩ ta tham dục vì ta chưa hiểu đươc chân bản vốn có của tacũng như vạn vật là luôn luôn biến đổi không có gì là thường định và vĩnh viễn cả.Cuộc đời con người là sự ghánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời và các kiếp sốngtrước rồi nó tiếp tục chi phối cả đời sau

Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong hiện tại cộng vớicác nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu hay tốt, thiện hay ác

Luân hồi: Chữ phạn là Samsara Có nghĩa là bánh xe quay tròn Đạo phật cho rằng, saukhi một thể xác sinh vật nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vàomột sinh vật khác nhập vào một thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏcây) Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành động của những kiếp trước gây ra Đó cũng

là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người

Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “ thập nhị nhân duyên” làmcho con người rơi vào bể trầm luân Đạo Phật đã chủ chương tìm con đường diệt khổ.Con đường giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phảihành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế

Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải thấuhiểu và thực hiện nó Tứ diệu đế gồm:

Một là Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là khổ,

chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà phải chia lìa nhau

là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ … Những nỗi khổ ấy từ đâu? chúng ta tiếptục tìm hiểu Tập đế

Hai là Tập đế: Tập là tập hợp, tụ tập lại mà thành Vậy do những gì tụ tập lại mà tạo ra

nỗi khổ cho chúng sinh?

Trang 14

Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ ), si ( si mê, cuồng mê, mê muội) vàdục vọng Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là do con người không nắmđược nhân duyên Vốn như là một định luật chi phối toàn vũ trụ Chúng sinh khômgbiết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không Cái tôi tưởng là có nhưng thực làkhông Vì không hiểu được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác.

Ba là Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “ Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn

nguyên của sự khổ – để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ Thực chất là thoátkhỏi nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử

Bốn là Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế

giới nội tâm (thực nghiệm tâm linh) Tuy luyện tâm trí, đặc biệt là thực hành YOGA

để đạt tới cõi siêu phàm mà cao nhất là đạt tới cõi phận là đạt tới trình độ giác ngộ bátnhã Tới chừng đó sẽ thấy được chân như và thanh thản tuyệt đối, hết ham muốn, hếttham vọng tầm thường, tức là đạt tới cói “niết bàn” không sinh, không diệt

Thực hiện Đạo đế là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ nguyên giới luật tập trung thiênđịnh cao độ Phật giáo đã trình bày 8 con đường hay 8 nguyên tắc ( Bát chính Đạo –buộc ta phải tuân thủ bát chính đạo gồm:

- Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái, không để cho những cáisai che lấp sự sáng suốt

- Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn

- Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn

- Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác

- Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà, không được bỏ điềunhân nghĩa

- Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên để đạt tới chânlý

- Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính, không nghĩ đến những điềubạo ngược gian ác

- Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính, không bị thoái chí,lay chuyển trước mọi cán dỗ

Muốn thực hiện được “Bát chính đạo” thì phải có phương pháp để thực hiện nhằmngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và những người làm điều thiện

Trang 15

có lợi ích cho mình và cho người Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện “Ngũ giới” (năm điều răn) và “Lục độ” (Sáu phép tu).

Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát hành đạo”,

“Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát mình ra khỏi nỗi khổ Phậtgiáo không chủ trương giải phóng bằng cách mạng xã hội Mặc dù Phật giáo lên án rấtgay gắt chế độ người bóc lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo

Đó là một trong những nhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật.Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ khôngphải cải tạo thế giới hiện thực Như vậy Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần,phủ nhận đấng sáng tạo ( vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng ( vô thường, lýthuyết Duyên khởi ) Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm chủquan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người tạo ra

1.3 Sự phát triển của Phật giáo

1.3.1 Sự phát triển của Phật giáo trên thế giới

Qua thế kỷ 21 này, sự tiến bộ về vật chất hình như đã quá đủ cho con người, nhưng

sự thiếu hụt về tâm linh lại lớn lao hơn bao giờ hết Trong hoàn cảnh đó chúng ta cóthể hình dung sự phát triển của đạo Phật sẽ như thế nào

Từ hơn 25 thế kỷ nay, Phật giáo không chỉ dừng lại là một nền tảng của văn hóa vănminh nhân loại mà còn phát triển song hành cùng lịch sử để phổ cập khắp thế giới.Ngày nay, Phật giáo phát triển khắp các nước Âu Mỹ, sách Phật giáo chiếm số lượnglớn, là một phần không thể thiếu của văn hóa toàn cầu Đạo Phật đã và đang là mộtđộng lực lớn thúc đẩy và hướng dẫn sự tiến hóa của nhân loại

Năm 1949, trong cuốn Nguồn gốc và Mục đích của Lịch sử, Karl Jaspers 1969), triết gia hiện sinh Thiên Chúa giáo, một trong vài triết gia quan trọng nhất củathế kỷ XX, đã nêu lên khái niệm thời trục và sau đó được công nhận như là một cộtmốc khách quan của lịch sử nhân loại Thời trục (axial age) là thời gian khoảng thế kỷthứ VIII đến thứ III trước tây lịch

Trong thời gian này, ở Ba Tư, Ấn Độ, Trung Hoa và Hy Lạp, La Mã đồng thời xuất

Trang 16

bộ kinh Upanisad, Trung Hoa có Khổng Tử và Lão Tử, ở Iran có Zarathustra, ởPalestine là những vị lập ra Do Thái giáo, Hy Lạp thì có Socrates, Parmenides,Heraclitus, Platon…Thời trục là bình minh của văn hóa văn minh nhân loại Nói nhưJaspers, “…trong thời trục, những nền tảng đó đồng thời nhưng độc lập được thiết lập

ở Ấn Độ, Trung Hoa, Ba Tư, Judea và Hy Lạp Trên chính những nền tảng này mànhân loại tồn tại và phát triển cho đến ngày nay”

Như bất kỳ một công trình vật chất hay tinh thần nào được sáng tạo trên trái đất, nếu

không đáp ứng được nhu cầu của con người hiện thời thì sẽ dần dần mai một Phậtgiáo càng ngày càng có sức sống mạnh mẽ khắp thế giới, vậy Phật giáo đáp ứng chonhu cầu nào của con người hiện đại?

Thoát khỏi cái chết, sự vô thường

Đây là nhu cầu, sự ước ao căn bản của con người Chưa bao giờ con người được đáp

ứng hầu hết các nhu cầu vật chất như ngày nay, nhờ khoa học kỹ thuật Nhưng vẫnluôn luôn có đó nỗi bất an, sự buồn phiền, mau chán, sự mong manh và hữu hạn củathân phận con người Mỗi chúng ta đều có thể biết bản đồ gien của mình, có thể biếtnhững hạt và sóng tạo thành thân thể mình là hạt nào, sóng nào, nhưng gien nào hạtnào sóng nào cũng vô thường, không ai có thể thỏa mãn với những sự trả lời “khách

quan” như vậy.

Tôi là cái gì, tôi từ đâu sanh ra và chết tôi đi về đâu, đây vẫn là câu hỏi treo trên đầu mỗi người.

Trong khi đó, Đức Phật là người đã chiến thắng số phận sanh già bệnh chết của thân

phận con người, khám phá con đường đưa đến “cánh cửa bất tử” Thế nên Đức Phật

được xưng là bậc Chiến Thắng (Jina)

“Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, già, bệnh, chết, tatìm cầu cái không sanh, không già, không bệnh, không chết, cái vô thượng an ổn cáckhổ ách tức Niết-bàn, và đã chứng được cái không sanh, không già, không bệnh,không chết, cái vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, tức Niết-bàn

Những cửa mở đến Bất Tử đang rộng mở

Cho những ai muốn nghe”

(Kinh Thánh Cầu, Trung bộ)

Trang 17

Những cánh cửa mở vào cái không sanh, không già, không bệnh, không chết đã được

mở ra, đang mở ra, và mãi mãi còn mở ra Đó là lý do sự hấp dẫn của đạo Phật trong một thời đại mà mọi thứ đã được bão hòa như ngày nay

Có trong hiện tại

Nhưng chúng ta không phải đi ngược về quá khứ mấy ngàn năm hay chờ đợi ở tươnglai bao lâu nữa “Pháp được Thế Tôn khai thị là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, trực tiếp hướng thượng, mỗi người trí tự mình chứng nghiệm”

Đạo Phật không phải là một tôn giáo theo nghĩa tin và chờ đợi một cách thụ động mà

là trực tiếp chứng nghiệm cái đang có trong hiện tại “Thiết thực hiện tại” nghĩa là

luôn luôn có trong bất kỳ không gian thời gian nào Nó hiện diện bình đẳng khắp không gian và thời gian

“Mỗi người” nghĩa là ai cũng có thể Mọi người đều bình đẳng trước “cánh cửa bất tử” ấy, không có điều kiện gì khác ngoài việc phải “tự mình chứng nghiệm” Sự việc

có trong hiện tại và mỗi người tự mình chứng nghiệm là sự bình đẳng rốt ráo của đạo Phật

Có nhiều phương tiện, nhiều con đường

Trong cuốn kinh nào cũng nói đến nhiều phương tiện để thực hành Những phương tiện ấy không bị giới hạn trong hoàn cảnh sống nào Những phương tiện để thực hành

ấy dựa vào những cơ sở mà mọi người đều có như hơi thở, cảm thọ, thân thể, tâm thức,sắc thọ tưởng hành thức, đất nước lửa gió…

Những pháp môn của đạo Phật khởi từ những yếu tố hàng ngày mà ai cũng có chứ không bắt nguồn từ một yếu tố siêu nhiên Chính vì những phương pháp thực hành đặt

cơ sở trên những yếu tố cụ thể của cuộc sống mà đạo Phật là hiện thực cụ thể: “thiết thực hiện tại, đến để mà thấy” Hơn nữa, mỗi một phương tiện, pháp môn đều huy

động toàn bộ thân khẩu ý, lý trí và tình cảm, nói theo ngôn ngữ ngày nay là chỉ số thông minh và chỉ số cảm xúc

Tóm lại, vì lấy nguyên liệu là tất cả những gì của trần gian này nên những phương pháp, con đường của đạo Phật đáp ứng cho mọi loại khuynh hướng, mọi loại cấu trúc thân tâm, bởi thế, đạo Phật trở nên phổ quát cho toàn nhân loại Đó là con đường rộng lớn đến bao la, chứa đựng tất cả những con đường nhỏ khác thích hợp với từng loại

Ngày đăng: 12/08/2021, 18:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w