CHƯƠNG III NHỮNG QUAN ĐIỂM VỀ GIÁ TRỊ TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
3.1 Những quan điểm giá trị tích cực của triết học Phật giáo
Trong thế kỷ XVII, René Descartes – nhà toán học người Pháp đã chia vũ trụ thành hai phần: vật chất và ý thức. Khoa học chỉ nghiên cứu “vật chất” nên bị giới hạn trong các đối tượng thuộc phạm vi nhận thức bằng các giác quan con người. Điều này làm hạn chế khoa học trên con đường tìm kiếm tri thức để nhận thức bản chất của tự nhiên.
Năm 1905, Albert Einstein đã phá vỡ rào chắn không gian ba chiều, đưa khoa học vượt qua giới hạn của không gian ba chiều. Điều này đã phá đổ sự phân chia giả định của Descartes và chủ nghĩa duy vật cực đoan trong khoa học. Vào giữa thế kỷ XX, khoa học đã gặt hái được nhiều thành công. Sự phát triển vượt bậc của khoa học thế kỷ XX cho phép chúng ta thẩm định một cách khoa học và các khái niệm như vô thường, vô ngã do Đức Phật dạy là đúng với tự nhiên, vượt qua không gian ba chiều và vượt qua khoa học cổ điển.
Những gì được khoa học khám phá ra cho là mới thật ra trên 2500 năm trước Đức Phật đã biết. Điều này đã được xác nhận bằng những lời phát biểu của các nhà khoa học hàng đầu thế kỷ XX. Triết gia Derek Parfit ở Đại học Oxford chấp nhận quan niệm của Phật giáo về đời sống và vô ngã. Khoa học đã mở ra con đường thích ứng với thời đại, khẳng định giá trị thực tiễn của nhân sinh quan. Nếu thế giới công nhận sự thành tựu của khoa học, tức là họ đã đi vào quỹ đạo của Phật giáo. Bởi vì Phật giáo không phải là tôn giáo thuần tín ngưỡng, mà là tôn giáo của lý trí. Cho nên nghiên cứu Phật giáo trên lập trường khoa học, có thể soi sáng cho nhân loại trên hành trình tìm chân lý. Đại sư Thái Hư từng nói: “Khoa học càng phát triển, tức là hiển bày ý nghĩa chân thật của Phật giáo”.
Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng tìm thấy tinh thần chính xác, rõ ràng, minh bạch của Kinh Phật cũng là cái tinh thần mà các nhà khoa học ngày nay đòi hỏi phải hội đủ, trong bất cứ một công cuộc thí nghiệm nào.
Nếu chúng ta đọc cuốn huấn thị cho khoa học (Instruction Book of Science) chúng ta thấy phương pháp khảo cứu khoa học được đặt trên một số tiêu chuẩn như sau:
1. Đối tượng của thí nghiệm (The objects of the experiment)
2. Vật liệu, dụng cụ cần thiết để làm thí nghiệm (The materials, instruments and tools necessary for the experiment)
3. Lý thuyết về thí nghiệm (The theory of the experiment)
4. Phương pháp và tiến trình thí nghiệm (Methods and steps to work out the experiment) 5. Kết quả thí nghiệm (Results of the experiment)
6. Những điều cần để ý và coi chừng khi làm thí nghiệm (Requisites for attention and precautions in working out the experiment)
27 7. Kết luận để kiểm chứng giá trị của lý thuyết và những kết quả thực dụng của nó (Conclusion to verify the validity of the theory and its practical results)
Đọc Kinh Lăng Nghiêm, chúng ta thấy trong Kinh có những phần sau đây:
1. Nguyên nhân Phật thuyết Kinh (Phần Thông Tự) 2. Đối tượng của tu chơn tâm (7 thường trụ xứ của Tâm)
3. Lý thuyết tu chơn tâm (Chỉ rõ Tính Thấy, Tóm thu 4 Khoa và 7 Đại về Như Lai Tạng để phát khởi chỗ chơn-ngộ)
4. Phương pháp và các trình độ tu chứng (25 phương pháp viên thông và 7 Thánh vị).
5. Lợi ích của sự tu tập, đối với cá nhân và chúng sinh (Tuyên nói Tâm Chú, khai thị những lợi ích)
6. Những điều cần để ý và coi chừng khi tu tập (Khai thị chỗ hư vọng của 7 loài để khuyến khích tu hành chánh Pháp và phân biệt các Ấm ma)
7. Kết luận (Phần lưu thông, công đức trì Kinh, được Phúc, tiêu tội, trừ ma)
Chúng ta có thể thấy ngay những điểm giống nhau về phần cấu trúc của cuốn huấn thị về khoa học và của cuốn Kinh Phật.
Làm bảng so sánh trên, chúng tôi không có ý định chứng tỏ Khoa Học và Phật Giáo giống nhau cả về hình thức lẫn nội dung, mà chỉ muốn tỏ rõ một điều: Kinh Phật được xếp đặt một cách rất khoa học. Điều này thật ra cũng dễ hiểu, vì những phương pháp tu tập trong Phật Giáo và những phương pháp khảo cứu khoa học đều đặt trên những căn bản giống nhau:
1. Không để cho tình cảm chi phối.
2. Hoàn toàn khách quan.
3. Phân tách mọi vấn đề một cách có hệ thống.
4. Kết quả dựa trên thực nghiệm.
3.1.2 Giá trị thiết thực của tư tưởng Phật giáo
a) Phật giáo góp phần kiến tạo một xã hội bình đẳng và bác ái
Đức Phật dạy rằng hạnh phúc tối thượng là an lạc, và không thể có hạnh phúc chân thật nếu không có an lạc. Đức Phật không hề chia cấp bậc mà có cái nhìn ngang bằng với tất cả chúng sinh. Đạo Phật chủ trương bình đẳng, Phật là đức Phật đã thành, chúng sinh là Đức Phật sẽ thành, chúng sinh đều có Phật tính, đều bình đẳng trước Phật. Với Phật, không ai tiểu nhân, không ai quân tử, cũng không có quân, không có dân, chia cắt nhau bằng các hàng rào cấp bậc giai cấp; chỉ có một niềm từ bi bác ái, không có hằn học, oán ghét, phục thù. Tiếp đó Phật kêu gọi sự tự giác, vị tha không những để giải quyết nỗi khổ của mình mà còn phải cứu nhân độ thế. Người ta chỉ thấy ở đây một chủ nghĩa nhân đạo lớn lao và có phần tích cực. Có thực hiện được hay không là vấn đề khác mà chúng ta cần xem xét,
28 để phê phán giá trị của học thuyết này nhưng ở đây thì rõ ràng đó là những điểm chính yếu làm cho Phật giáo gắn bó được với quần chúng.
Phật giáo khuyến khích mọi người sống chan hoà, cảm thông và thân ái dù khác nhau sắc tộc, tôn giáo, màu da... Có tôn giáo đã truyền bá bằng gươm đao và chiếm đoạt. So với điều này, Đạo Phật là một tôn giáo không có lực lượng vũ trang, cũng không có thánh chiến trong việc truyền bá giáo lý. Đạo Phật đã lan rộng một cách từ từ nhưng vững vàng chắc chắn đến nhiều nước, nhiều vùng đất: Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung tâm Thể Nhĩ Kỳ, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Cam-pu-chia…
“Thế giới quan Phật giáo dạy chúng ta nhìn thấy rõ được chính mình như một phần quan trọng của thế giới, không phải làm chủ nhân của nó. Đạo Phật nhấn mạnh tinh thần khoan dung bất bạo động, giữ vững lập trường mạnh mẽ kêu gọi hòa bình. Từ việc kêu gọi hòa bình, thay đổi khí hậu, đến việc nhân quyền, chúng ta biết rõ những lời Phật dạy có liên quan thiết thực đến công việc của Liên Hiệp Quốc ngày nay.” (trích “Thông điệp Đại lễ Vesak 2018 của TTK Liên Hợp Quốc ANTÓNIO GUTERRES)
“...Thông điệp của Ngài về lòng thương, và sự quên mình phụng sự nhân loại, về hòa bình, sự hiểu biết và tầm nhìn về nhân loại vượt qua các sự dị biệt giữa các quốc gia và quốc tế là cần thiết hiện nay, nếu chúng ta muốn đương đầu với các vấn đề phức tạp của thời kỳ hạt nhân. Triết lý này của Đức Phật chính là tinh thần của bản hiến chương của Liên Hiệp Quốc và triết lý đó nên nằm hàng đầu trong mọi suy nghĩ của chúng ta, đặc biệt trong Năm Hòa Bình Quốc Tế này.”
(Thông điệp nhân kỷ niệm lễ Vesak, tháng 5 năm 1986 của Tổng Thư Ký Hội Đồng Liên Hiệp Quốc Javier Perez de Cuellar).
b) Phật giáo góp phần tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc
Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa các dân tộc. Trong quá trình du nhập và phát triển, Phật giáo thường tiếp biến văn hóa với các tín ngưỡng, tôn giáo bản địa, phù hợp với tinh thần “khế lý, khế cơ” (phù hợp với chân lý, phù hợp với hoàn cảnh) giúp phát huy những giá trị tích cực đã có, bổ sung và hoàn thiện những giá trị tốt đẹp vào các nền văn hóa. Chúng ta có thể thấy tại các quốc gia Đạo Phật là chiếm đa số hiện nay như: Tây Tạng, Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện, Srilanka,… nền văn hóa truyền thống được gìn giữ và kết hợp cùng Đạo Phật để trở thành một bản sắc văn hóa riêng, và có khả năng chống lại sự đồng hóa, thôn tính của các nền văn hóa khác.
c) Phật giáo khuyên mọi người sống lương thiện, tu tâm dưỡng tính
Đức Phật dạy các điều thiết yếu không chỉ cho việc tu tập nội tâm của từng cá nhân vì hạnh phúc của nhân loại mà còn cho sự cải thiện đời sống xã hội. Vì vậy, Ngài thuyết giảng về đặc tính chung nhất của nhân loại, bất kể màu da chủng tộc hoặc các đặc tính sinh lý và tạo
29 ra một cuộc cách mạng loại bỏ các hệ thống giai cấp mà rất thịnh hành tại Ấn Độ thời bấy giờ. Để biểu lộ khái niệm đồng nhất của nhân loại, Đức Phật đã khơi dậy mối đồng cảm không những của giai cấp vua chúa, quý tộc, thương gia, mả còn với giai cấp cùng định, người xin ăn, kẻ cướp..
Lối sống mà Đức Phật đã dạy rất đơn giản, đối với người tại gia chỉ áp dụng năm nguyên tắc sống: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu, đây là một bảng nguyên tắc thật sự rất đơn giản. Những lối sống của Phật giáo, con đường mà Đức Phật đã mô tả không ngừng lại ở nguyên tắc này. Lời dạy đó được đơn giản hóa theo một cách mà ai cũng có thể hiểu được và làm được là bố thí (dàna), trì giới (sila) và thiền định (bhàvana).
Giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của Đạo Phật đã trở thành nếp sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đối với những người có hiểu biết, có suy nghĩ. Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghiệp báo, nó chẳng những thích hợp với giới bình dân mà còn ảnh hưởng đến giới trí thức.
Việc ăn chay hàng tháng trở thành thói quen không thể thiếu của người theo đạo Phật. Mặt khác nhà chùa sẵn sàng tham gia các sự kiện quan trọng trong đời sống như hằng thuận, cầu an, cầu siêu… Tất cả những điều này củng cố niềm tin vào giáo lý, vừa qui định tư duy và hành động của họ, tạo cơ sở để hình thành những nhân cách riêng biệt.
d) Giáo lý của Đạo Phật góp phần giáo dục đạo đức con người
Có thể nói rằng Phật giáo là một trong những tôn giáo của thế giới bao hàm nhiều phương pháp tốt đẹp có thể cải thiện và giáo dục tâm tính cho con người. Phật giáo đánh thức nơi con người đức tính tự trọng và tinh thần trách nhiệm bản thân, phổ biến trong nhân loại đức tính khoan dung, từ bi, tình huynh đệ, cùng dứt trừ được nơi con người lòng sân hận và bạo tàn. Cho nên, tự trọng, tự tín, khoan dung, từ bi, trí tuệ là những đức tính tốt đẹp có thể tạo được cho nhân loại nhờ ảnh hưởng của Phật giáo.
Thế hệ trẻ ngày nay nhiều người chỉ biết chạy theo vật chất, bị cuốn hút bởi những thứ ăn chơi sa đọa làm hại đến gia đình và cộng đồng. Hơn bao giờ hết việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ trở nên rất quan trọng và một trong những phương pháp hữu ích là nêu cao truyền bá tinh thần cũng như tư tưởng nhà Phật trong thế hệ trẻ. Đó thực sự là công việc cần thiết để giáo dục lớp trẻ hiện nay.
e) Phật giáo có ảnh hưởng tích cực đến các mối quan hệ gia đình, xã hội
Những mối quan hệ trong gia đình và xã hội như cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bạn bè, họ hàng, láng giềng,... Phật giáo xem là thiêng liêng đáng được tôn kính và lễ lạy, tôn thờ. Nhưng người ta phải lễ lạy, tôn thờ những môi quan hệ ấy như thế nào? Đức Phật dạy rằng người ta có thê lễ lạy và tôn thờ những điều ấy chỉ thông qua việc thực thi trách nhiệm và bổn phận của anh ta đối với những điều ấy.
30 Trước tiên, cha mẹ là thiêng liêng đối với con cái, nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: "Muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ" (Kinh Thai Cốt), hay kinh Nhãn Nhục dạy: "cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn bất hiếu". Bởi Phật giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt. Đức Phật dạy: phải quan tâm chăm sóc bố mẹ của mình ở độ tuổi xế chiều, phải làm bất cứ những gì mình phải làm vì nhu cầu của bố mẹ, phải duy trì danh dự của gia đình và tiếp tục phát huy. truyền thống của gia đình, phải bảo vệ tài sản, của cải do bố mẹ kiếm. được, và lo tô chức tang đám khi bố mẹ qua đời. Bố mẹ, ngược lại, phải có một số trách nhiệm đối với con cái của mình:
phải giáo dục con cái tránh xa những việc làm xấu xa, tội lỗi; hướng chúng vào những nghề nghiệp lành mạnh và có lợi lạc; cho con cái ăn học đến nơi, đến chốn; dựng vợ, gả chồng cho chúng ở những nơi gia đình tốt, và giao của cải tài sản cho chúng đúng lúc.
Thứ hai, mối quan hệ giữa thầy và trò: học trò phải cung kính và vâng lời thầy, phải hỗ trợ thầy lúc cần thiết, phải siêng năng học tập. Và ngược lại thầy đối với trò: phải rèn luyện và dạy đô học trò nên người tốt; giới thiệu học trò cho bạn bè của chúng, và cố gắng tạo việc làm đảm bảo sau khi học trò học xong.
Thứ ba, mối tương quan giữa vợ và chồng: tình yêu giữa vợ và chồng được xem như rất là tôn giáo và thiêng liêng. Vợ và chồng phải chân thành tin tưởng lẫn nhau, tôn trọng và hết mình vì nhau, và họ có một số trách nhiệm đối với nhau: người chồng phải tôn trọng vợ và không bao giờ thiếu sự tôn trọng đối với vợ; phải yêu thương vợ và chung thủy, chân thành với vợ; đảm bảo vị trí và tiện nghi của vợ, và làm cho vợ vui lòng bằng cách thường mua áo quần và nữ trang cho cô ta. (Sự kiện Đức Phật đề cập những món quà như thế do người chồng tặng cho vợ, chứng tỏ Ngài hiểu và thông cảm những cảm xúc và tình cảm thế gian của Ngài đối với tình cảm bình thường của con người). Ngược lại, người vợ nên giám sát và chăm lo công việc nội trợ nhà cửa; đón tiếp khách khứa, bạn bè, bà con, họ hàng, và người làm thuê; thương yêu và trung thành với chồng mình; bảo vệ của cải do chồng kiếm được, và phải sáng suốt và nhiệt tâm trong tất cả các công việc.
Thứ tư, mỗi quan hệ giữa bạn bè, họ hàng quyền thuộc và hàng xóm: họ phải hiếu khách và nhân từ đối với nhau, nói lời vui vẻ và dễ chịu, làm việc lợi lạc cho nhau, đối xử bình đẳng với nhau, giúp đỡ nhau trong những lúc cần thiết, và cưu mang lẫn nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn.