TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM VỀ VÔ NGÃ, VÔ THƯỜNG TRONG TƯ TƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO Học viên Chuyên ngành Khóa TP HỒ CHÍ MINH 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRI.
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
QUAN ĐIỂM VỀ VÔ NGÃ, VÔ THƯỜNG TRONG TƯ
TƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO
Học viên:……….
Chuyên ngành:……….
Khóa: ………
TP HỒ CHÍ MINH - 2022
Trang 22 QUAN ĐIỂM VỀ VÔ NGÃ, VÔ THƯỜNG TRONG TƯ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với hơn 2.500 năm ra đời và phát triển, Phật giáo có nhiều đóng góp tolớn cho nền văn hoá, văn minh của nhân loại Lịch sử tồn tại, phát triển củaPhật giao là quá trình tiếp thu, kế thừa có chọn lọc nhiều thành tựu về tri thức,văn hoá của loài người để biến chúng thành những giá trị riêng, độc đáo vàmang bản sắc của mình Đến lượt mình, Phật giáo phát triển mạnh mẽ, liêntục mở rộng sự ảnh hưởng, du nhập và góp phần làm phong phú thêm về vănhoá cũng như tạo ra bản sắc độc đáo của không ít các quốc gia, dân tộc trênthế giới, đặc biệt là các nước thuộc khu vược châu Á
Đối với dân tộc Việt Nam, không ai có thể phủ nhận được thực tế, Phậtgiáo là một trong những thành tố quan trọng góp phần làm nên đời sống tinhthần, tâm linh và văn hoá dân tộc Nó là một phần không thể thiếu tạo nên sự
đa dạng cũng như bản sắc của nền văn hoá Việt Đã hơn 2.000 năm từ khi dunhập vào và tồn tại ở Việt Nam, Phật giáo đã để lại dấu ấn rất riêng, rất sâuđậm trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nó không chỉ tác động sâusắc tới đới sống tâm linh, tâm lý, đạo đức của người dân Việt, mà còn có ảnhhưởng mạnh mẽ khá đậm nét trong phương thức giao tiếp, ứng xử, trongphong tục, tập quán của người Việt Nam Nói chính xác hơn, Phật giáo đã gópphần hình thành những giá trị cốt lõi, chuẩn mực nền tảng trong nếp nghĩ, lốisống của người Việt Nam trong tiến trình lích sử
Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, đem lạinhiều thành tưuc ở nhiều mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội….nhưngcũng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức, nhất là trong đời sống đạo đức, tinhthần, văn hoá Vấn đề cấp bách lớn đặt ra với dân tộc là làm sao hòa nhập màkhông hoà tan; hội nhập mà vẫn giữ được các giá trị cốt lõi, cội nguồn để xâydựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đung quan điểmcủa Đảng Do đó, việc quan tâm, tìm hiểu, gìn giữ và phát huy những giá trị
Trang 4văn hoá, tư tưởng nền tảng và truyền thống của dân tộc được đặt ra một cáchcấp thiết hơn bao giờ hết.
Trong những di sản văn hoá, tư tưởng của dân tộc thì hệ thống tư tưởngđạo đức, thế giới quan, nhân sinh quan trong triết lý của Phật Giáo là mộttrong những bộ phận cốt lõi quan trọng Trong thế giới quan của Phật giáo, tưtưởng về Vô ngã, Vô thường là những nét đặc sắc nhất Đó là quan điểm giảithích một cách khoa học và duy vật về vũ trụ, xã hội và con người Với sựphát triển mạnh mẽ như vũ bão các các khoa học ngày nay, quan điểm về Vôngã, Vô thường trong triết lý Phật giao vẫn sáng ngời những giá trị chân lýcủa khoa học
Vì vậy, việc khảo cứu lại, tìm hiểu về Vô thường, Vô ngã trong thế giớiquan của Phật Giáo là một việc làm ý nghĩa và thiết thực Mục đích để nhằmhiểu thấu đáo, đầy đủ về giá trị về tư tưởng triết học, khoa học trong triết lýsâu sắc này, từ đó có thể chọn lọc, kế thừa và vận dụng vào thực tiễn nhậnthức giác ngộ đầy đủ và trọn vẹn hơn về vũ trụ, xã hội, con người và về thếgiới quan của triết học Phật giáo Những lý do nêu trên là điểm xuất phát để
học viên lựa chọn đề tài "Quan điểm về Vô ngã, Vô thường trong tư tưởng
của Phật giáo” làm chủ đề nghiên cứu, tìm hiểu của mình trong tiểu luận này.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Về vấn đề Vô ngã, Vô thường trong tư tưởng Phật Giáo đã được cónhiều nhà khoa học, nhiều nhà tư tưởng, văn hóa nghiên cứu với các côngtrình tiêu biểu sau:
Sách, tài liệu nghiên cứu, chuyên khảo có: Thế giới quan Phật Giáo củaThích mật Thể (1967); Phật Giáo nhập thế - các vấn đề đương đại viện TrầnNhân Tông (2017); Cuốn Nghiên cứu Phật học quan lăng kính Tây phươngcủa Phật Điển Hành Tư (2005); Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê MạnhThát (1972) Ngoài ra trong các công trình Lịch sử triết học của Nguyễn HữuVui; Giáo trình lịch sử triết học của Tổng cục Chính trị QĐND VN (2003)…
Trang 5có dành ra một phần để đề cập đến tư tưởng Vô ngã, Vô thường của PhậtGiáo.
Về các luận văn, luận án có: “Ảnh hưởng của Thế giới quan Phật giáođối với đời sống tinh thần người dân đồng bằng sông Hồng hiện nay” của CaoXuân Sáng (Luận án Tiến sĩ Triết học – Học viện chính trị quốc gia Hồ ChíMinh– 2019); “Đạo đức phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đạo đức conngười Việt Nam hiện nay” của Đào Tấn Thành (Luận án Tiến sĩ Triết học –trường ĐH KHXH và NV thành phố HCM– 2020) và nhiều bài viết trên cácbáo, tạp chí có đề cập về vấn đề này
Tất cả những công trình nghiên cứu trên đều đã đề cập, tìm hiểu về vấn
đề Vô ngã, Vô thường trong thế giới quan của Phật giao từ nhiều khía cạnh vàgóc độ nhìn nhận, đáng giá khác nhau để đưa ra những giá trị tư tưởng, khoahọc cũng như những điểm còn hạn chế về lịch sử, thời đại và cách nhìn nhưngchưa có công trình nào khái quát, tổng hợp và làm rõ riêng biệt chỉ vấn đề Vôngã và Vô thường trong thế giới quan của Phật giáo
Vì vậy, từ cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoahọc, tác giả trong những công trình nói trên Để nghiên cứu làm rõ hơn vấn đề
này, học viên lựa chọn đề tài "Quan điểm về Vô ngã, Vô thường trong tư
tưởng của Phật giáo” làm chủ đề nghiên cứu, tìm hiểu của mình trong tiểu
luận môn học
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Dựa trên cở sở lý luận, phương pháp luận khoa học, tiểu luận trình bày
- Lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo trong lịch sử và những
tư tưởng cơ bản của Phật giáo
- Quan điểm về Vô ngã, Vô thường trong thế giới quan Phật giáo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 6Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống tư tưởng, triết lý của Phậtgiáo, nhưng trong giới hạn của một tiểu luận môn học tác giả xác định phạm
vi tập trung nghiên cứu của đề tài là: Quan điểm về Vô ngã, Vô thường trong
tư tưởng của Phật Giáo
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Tiểu luận được thực hiên trên cơ sở lý luận và phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài phươngpháp chung nhất là phương pháp biện chứng duy vật, tiểu luận còn sử dụngtổng hợp các phương pháp như: Logic và Lịch sử, Phương pháp so sánh,Phương pháp phân tích và tổng hợp
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO
1.1 Nguồn gốc hình thành và phát triển của Phật giáo
Phật giáo là một trường phái triết học - tôn giáo lớn nhất và có ảnhhưởng rộng rãi nhất trến thế giới Phật giáo xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ
VI trước công nguyên ở miền Bắc của đất nước Ấn Độ, phía Nam của dãy núiHymalaya Nay thuộc vung đất biên giới giữa Ấn Độ với Nêpan
Trong hệ thống triết học Ấn độ thời Cổ đại, Phật giáo cùng với trườngphái triết học Lokayanta và Jaina là những trường phái triết học và tôn giáokhông chính thống (Nastika) vì bác bỏ uy thế tối cao và những tìn điều trongthành kinh Véđa của đạo Bàlamôn Và đối lập lại trường phái triết học chínhthống (Astika) thừa nhận uy thế tối cao trong thánh kinh Véđa, đạo Bàlamôn,bao gồm 6 trường phái chính là: Samkhya, Nyaya, Vaisêsika, Mimamsa,Yoga và Védanta
Sự ra đời của Phật giáo trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạoBàlamôn và chế độ đẳng cấp nghiệt ngã trong xã hội Ấn Độ cổ đại Nên Phậtgiáo còn học thuyết triết học truy tìm, lý giải căn nguyên nỗi khổ và tìm racon đường giải thoát con người khỏi bể khổ đó Đây là giai đoạn lịch sử đăcbiệt khi nền kinh tế - xã hội nô lệ ở Ấn Độ đã phát triển cao, nhưng vẫn bị bópnghẹt bởi tính chất bảo thủ, kiên cố của tổ chức công xã nông thôn kiểuphương thức sản xuất châu á Bên cạnh đó, sự thống trị của nhà nước quânchủ chuyên chế trung ương tập quyền và sự khắc nghiệt của chế độ đẳng cấplàm xã hội ngày càng nhiều đau khổ, bất bình đẳng
Trong lĩnh vực tinh thần, thế giới quan duy tâm, tôn giáo tri phối, đượccoi như hệ tư tưởng chính thống, tri phối, thống trị trong đời sống tinh thần
Trang 8toàn xã hội Từ đó, dẫn tới trào lưu triết học thời kỳ này có khuynh hướngphát triển đa dạng, đại diện cho tư tưởng, nguyện vọng các tầng lớp, địa vị xãhội khác nhau Vì vậy, những tư tưởng triết học không chỉ giải thích vũ trụ màchủ yếu tìm tận cùng căn nguyên nỗi thống khổ đang bao trùm của xã hội, triphối con người, tìm mọi cách giải thoát con người Nên tư tưởng thời kỳ nàyvừa mang tính chất giải thích quy luật của triết học, vừa mang đậm màu sắc tutập, giải thoát của tôn giáo.
Trong thời kỳ này, cuộc đấu tranh giữa các trường phái triết học, nhất
là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật, vô thần chống chủ nghĩa duy tâm,tôn giáo lên đến đỉnh cao, đặc biệt là việc phủ nhận uy thế của kinh Véđa Từ
đó đã hình thành cách phân chia có tính chất truyền thống tất cả các trườngphái triết học thành hai phái chính thống và phi chính thống
Người sáng lập Đạo Phật là Thích Ca Mâu Ni có tên thật là Siddharha(Tất Đạt Đa) họ là Gautama, con trai đầu của vua Suddhodana dòng họ Sakya,
có kinh đô là thành Kapilavatthu Phật Thích Ca sinh ngày 8 tháng 4 năm 563
tr CN và mất năm 483 tr CN Năm 29 tuổi, ông từ bỏ cuộc sống vương giả đi
tu luyện tìm con đường diệt trừ nỗi đau khổ của chúng sinh Sau 6 năm khổluyện, ông đã "ngộ đạo", tìm ra chân lý vĩnh cửu là "Tứ diệu đế" và "Thập nhịnhân duyên"
Ngay sau khi thành đạo Đức Thích Ca đã quyết định thuyết giảng,truyền thụ lại điều đã ngộ, đã hiểu biết của mình Truyền rằng 60 đệ tử đầutiên của Thích Ca đã hình thành tăng đoàn hay còn gọi là giáo hội đầu tiêncủa Phật Giáo Ngay sau đó, 60 người được chia đi khắp nơi và mang về thêmngày càng nhiều người muốn theo nghe Thích Ca thuyết giảng và tu học
Khi đức Thích Ca còn tại thế, tất cả tu sĩ của Phật giáo được tập hợptrong tổ chức được gọi là Tăng đoàn, đều trực tiếp được sự hướng dẫn củaThích Ca về giáo lý và phương pháp tu tập Tăng đoàn là tổ chức mọi ngườiđều bình đẳng không có sự phân biệt giới tính, hoàn cảnh, đẳng cấp xã hội
Họ đều có mục tiêu tối cao là cùng đi tới giác ngộ cho minh và cho mọi
Trang 9thành viên khác Nhờ vào tổ chức thống nhất, bình đẳng và dựa trên nguyêntắc tự giác nên Tăng đoàn tránh được nhiều chia rẽ.
Sau khi Phật nhập niết bàn thì Tôn giả Ma-ha-ca-diếp (Maha Kassapa)thay phần lãnh đạo giáo hội và đề nghị kết tập và phân loại toàn bộ lời dạycủa Phật lại thành kinh điển để tránh chia rẽ, sai lầm về giáo pháp Lịch sửPhật giáo đến nay đã diễn ra 6 lần kết tập lớn Nghĩa là, từ thế kỉ thứ 7 trở đi,đạo Phật giáo đã có nhiều phân hoá đẫn đến nhiều tông phái đã xuất hiện lại
có đường lối khác nhau
Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, sự lấn lướt từ các tôn giao khác như:Hindu giáo, Hồi giáo, Jaina và đạo Silk…cùng sự bao dung và tự do của Phậtgiáo cũng là một tiền đề cho sự suy tàn của Phật giáo tại Ấn Độ Các hoang
đế Ấn Độ mặc dù sẵn sàng nghe thuyết giảng Phật pháp nhưng vẫn không bỏquên đạo Bà La Môn, Hồi giáo và không ngừng phát huy tôn giáo này thay vìPhật giáo Vì thế, Phật giáo đã phải lý khai khỏi Ấn Độ, tìm đến, du nhập vàphát triển ở các nước châu Á láng giềng khác như Trung Quốc, Mianma, Tháilan, Lào, Campuchia, Việt Nam….và hình thành nhiều hệ phái với những đặctrưng khác nhiều Phật giáo ở Ấn Độ thời cổ đại
1.2 Những nội dung cơ bản trong hệ thống tư tưởng của Phật giáo
Hệ thống tư tưởng và triết lý của Phật giáo ban đầu chỉ truyền miệngthông quan các bài thuyết giảng, dăn dạy của Đức Phật nhưng sau đó đượccác đệ tử và sau này ghi chép lại, viết thành văn và được thể hiện đầy đủ trong
bộ kinh gọi là "Tam tạng" (Tripitaka) Bộ kinh này gồm ba bộ phận:
- Tạng kinh (Sutra - pitaka) ghi lại những lời răn dạy của Đức Phật
- Tạng luật (Vinaya - pitaka) gồm các quy định, giới luật của đạo Phật
- Tạng luận (Abhidarma - pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luậngiải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau
Hệ thống kinh điển Phật giáo cho đến ngày nay tuy không có con sốthông kê khoa học cụ thể nhưng có thể khẳng định, “có số lượng cực kỳ lớn,
Trang 10thậm chí xưa lấy 84000 để ước chừng tượng trưng về số lượng” Tuy vây, hệthống triết lý, tư tưởng cơ bản của Phật giáo tập trung trong những nội dungchủ đạo sau:
- Một là, Thế giới quan – hệ thống tư tưởng, lý thuyết giải thích về quy
luật hình thành, vận động, phát sinh, phát triển của vũ trụ bao la Thế giớixung quanh chi phối cuộc sống con người và xã hội
Thế giới quan Phật giáo nguyên thủy chứa đựng những yếu tố duy vật
và biện chứng chất phác, phủ nhận tư tưởng về đấng sáng tạo tối cao làBrahman, cũng như phủ nhận "Cái tôi" tức Atman – tức biểu hiện củaBrahman trong mỗi con người Từ đây, Phật giáo đưa ra quan niệm về haiphạm trù "Vô ngã" (Anatman) và "Vô thường"
Phạm trù Vô ngã là quan điểm cho rằng, vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự
"giả hợp" do hội đủ nhân duyên nên thành ra "có" (tồn tại) Ngay bản thân sựtồn tại của thực thể con người cũng do nhân duyên kết hợp và được tạo thànhbởi hai thành phần là thể xác (Rupa - sắc) và tinh thần (Nâma - danh), do sựhợp tan của ngũ uẩn (sắc - thụ - tưởng - hành - thức) Duyên hợp ngũ uẩn thì
là ta, duyên tan ngũ uẩn ra thì không còn là ta, là diệt, nhưng không phải làmất đi mà là trở lại với ngũ uẩn
Phạm trù Vô thường để chỉ vũ trụ là vô thủy, vô chung; vạn vật trongthế giới chỉ là dòng biến hóa vô thường, vô định không do một vị thần nào tạonên cả; tất cả đều biến đổi theo luật nhân quả, theo quá trình sinh, trụ, dị, diệt(hay thành, trụ, hoại, không) và chỉ có sự biến hóa ấy là thường hữu Tất cảmọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ đều bị chi phối bởi luật nhânduyên Cái nhân (Hetu) nhờ có cái duyên (pratitya) mới sinh ra được màthành quả (phla) Quả lại do cái duyên mà thành ra nhân khác, nhân khác lạinhờ có duyên mà thành quả mới và cứ biến đổi mãi mãi
1 Wikipedia, Kinh điển Phật giáo, truy cập ngày 31/7/2022, nguồn
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_%C4%91i%E1%BB%83n_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o#:~:text=Kinh%20%C4%91i%E1%BB
%83n%20Ph%E1%BA%ADt%20gi%C3%A1o%20c%C3%B3,l%C3%A0%20Kinh%2C%20Lu%E1%BA%ADt%20v%C3%A0%20Lu
%E1%BA%ADn
Trang 11Vì không nhận thức được sự biến ảo vô thường đó nên người ta nhầmtưởng là cái tôi tồn tại mãi, cái gì cũng là của ta nên con người cứ khát ái,tham dục, hành động chiếm đoạt nhằm thỏa mãn những ham muốn, dục vọng
đó tạo ra những kết quả, gây nên nghiệp báo (karma), mắc vào bể khổ triềnmiên (sam - sara) tức là mắc vào kiếp luân hồi
- Hai là, Nhân sinh quan là những quan niệm về cuộc sống, số phận
con người trong xã hội
Phật giáo tiếp thu, kế thừa, thừa nhận quan điểm về "Luân hồi" và
"Nghiệp" trong bộ kinh nổi tiếng Upanishad Phật giáo đặc biệt chú trọng đếncon người, số phận con người, triết lý nhân sinh và đặt ra mục tiêu tìm kiếm
sự giải thoát cho mọi chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tớitrạng thái tồn tại hạnh phúc vĩnh cửu nơi Niết bàn (Nirvana)
Đi tìm và lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Thích Ca Mâu Ni
đã đưa ra thuyết "Tứ diệu đế" và " Thập nhị nhân duyên" để giải thoát chúng sinh
ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi Đây là triết lý nhân sinh chủ yếucủa đạo Phật
Trong lý thuyết triết học phật giáo tập trung phần lớn nội dung vào thựchiện mục đích giải thoạt con người khỏi cuộc sống đau khổ Để cứu conngười khỏi “bể khổ”, triết học phật giáo đưa ra tư tưởng tập trung ở “ tứ diệuđế” - tức 4 chân lí huyền diệu, cao siêu để co thể giải phóng con người thoátnỗi khổ của chúng sinh Nó bao gồm Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.Trong đó:
Khổ đế là hòn đá tảng của “Tứ diệu đế”, lí luận này khẳng định: “Đời
là bể khổ” Theo quan niệm này, đời người có trăm ngàn nỗi khổ, nhưng có 8nỗi khổ trầm luân, bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu là: Sinh, lão,bệnh, tử, thụ biệt ly (Yêu thương mà phải chia lìa), Oán tăng hội (Oán ghétnhau mà phải sống với nhau), sở cầu bất đắc (Cầu mong mà không được), ngũthụ uẩn (năm yếu tố vô thường nung nấu làm nên sự đau khổ).Tám cái khổtrên thuộc về quy luật sinh tồn của tự nhiên và những quan hệ hiện thực của