PhÇn A Lý do chän ®Ò tµi PHẦN A MỞ ĐẦU I Tính cấp thiết của đề tài Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học Tôn giáo lớn trên thế giới, tồn tại rất lâu đời Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và.
Trang 1PHẦN A: MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài.
Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - Tôn giáo lớn trênthế giới, tồn tại rất lâu đời Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượngphật tử đông đảo được phân bố rộng khắp Đạo phật được truyền bá vàonước ta từ khoảng thế kỷ II sau công nguyên, do các nhà sư từ Ấn Độ truyền
bá và từ Trung Quốc truyền sang từ thế kỷ VI sau công nguyên, đã nhanhchóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thầncủa con người Việt Nam Tuỳ từng giai đoạn lịch sử, dân tộc ta đều có mộthọc thuyết tư tưởng hoặc một tôn giáo nắm vai trò chủ đạo, có tác độngmạnh nhất đến nếp sống, thói quen, suy nghĩ của con người, như Phật giáo ởthế kỷ thứ X - XIV, Nho giáo thế kỷ thứ XV - XIX, học thuyết Mác - Lênin
từ giữa thập kỷ 40 của thế kỷ XX cho đến nay Tuy nhiên, những học thuyếtnày không được ở vị trí độc tôn, mà song song tồn tại với nó vẫn có các họcthuyết, tôn giáo khác tác động vào các khu vực khác nhau của đời sống xãhội, đồng thời cũng tác động trở lại các học thuyết chủ đạo
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, chủnghĩa Mác - Lênin là tư tưởng chủ đạo, là vũ khí lý luận của chúng ta, nhưngbên cạnh đó, bộ phận kiến trúc thượng tầng của xã hội cũ vẫn có sức sốngdai dẳng, trong đó giáo lý nhà Phật đã ít nhiều in sâu vào tư tưởng, tình cảmcủa một số bộ phận lớn dân cư Việt Nam Việc xoá bỏ hoàn toàn ảnh hưởngcủa nó là không thể thực hiện được nên chúng ta cần vận dụng nó một cáchhợp lý để góp phần đạt được mục đích của thời kỳ quá độ cũng như sau này
Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử, giáo lý và sự tác động của đạo Phật đối vớithế giới quan, nhân sinh quan của con người là hết sức cần thiết Việc đi sâunghiên cứu, đánh giá những mặt hạn chế cũng như tiến bộ, nhân đạo củaPhật giáo giúp ta hiểu rõ tâm lý người dân hơn và qua đó tìm ra được mộtphương cách để hướng cho họ một nhân cách đúng đắn Theo đạo để làmđiều thiện, tránh cái ác, hình thành nhân cách con người tốt hơn chứ không
Trang 2trở nên mê tín dị đoan, cúng bái, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, niềm tincủa quần chúng nhân dân.
Hơn nữa, quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ở Việt Nam gắn liềnvới quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Vì vậykhi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, đạo đức Việt Nam không thể không đề cậpđến Phật giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng
Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đối với lối sống củangười Việt Nam hiện nay nhằm tìm kiếm các giải pháp phù hợp để phát huytác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của Phật giáo trong quá trìnhxây dựng lối sống mới xã hội chủ nghĩa là việc làm cần thiết trong giai đoạnhiện nay
II Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
2 Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, đề
tài có nhiệm vụ:
- Khái quát những nội dung cơ bản của thế giới quan và nhân sinh quanPhật giáo
- Khái quát được quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam
- Phân tích được những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống xã hội vàcon người Việt Nam trên các phương diện tư tưởng triết học, tư tưởng chínhtrị cũng như văn hóa, lối sống của con người Việt Nam
- Đề xuất quan điểm nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chếnhững ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo trong quá trình xây dựng lối sốngmới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trang 3III Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thế giới quan
và nhân sinh quan của Phật giáo và những ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội và con người Việt Nam
2 Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài những ảnh hưởng
của thế giới quan và nhân sinh qua của Phật giáo đến đời sống xã hội và con
người Việt Nam xưa và nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu: Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng một số phương pháp như:
phân tích - tổng hợp; thống kê - so sánh; phương pháp logic - lịch sử
Trang 4PHẦN B: NỘI DUNG
I Khái quát về Phật giáo
1 Sự ra đời và phát triển của Phật giáo.
1.1 Sự ra đời của Phật giáo.
Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI tr.CN do Hoàng tử Tất Đạt Đa Siddhartha Gautama (563 - 483TCN), con trai của Trịnh Phạn Vương(Suddhodana), vua nước Trịnh Phạn (Capilavatu), (nay là vùng Nam NêPan
-và một phần các bang Utta, Pradeso -và Biha của Ấn Độ) sáng lập,
Tương truyền rằng: “ Vào một đêm Mahamaia, người vợ chính củaSuđhodana, Vua của người Saia mơ thấy mình được đưa tới hồ thiêngAnavatapta ở Himalaya Sau khi các thiên thần tắm rửa cho bà ở trong hồthiêng, thì có một con voi trắng khổng lồ có đoá hoa sen ở vòi bước tới vàchui vào sườn bà Ngày hôm sau các nhà thông thái được mời tới để giải mơcủa Hoàng hậu Các nhà thông thái cho rằng giấc mơ là điềm Hoàng hậuđang có mang và sẽ sinh hạ được một Hoàng tử tuyệt vời, người sau này sẽtrở thành vị chúa tể của thế giới hoặc người thầy của thế giới Đến ngày, đếntháng, Hoàng hậu Mahamaia trở về nhà cha mình để sinh con Thế nhưngvừa đến khu vườn Lumbini, cách thủ đô Capilavastu của người Sakia không
xa, Hoàng hậu trở dạ và vị Hoàng tử đã ra đời Vừa ra đời, vị Hoàng tử tí hon
đã đứng ngay dậy, đi bảy bước và nói: “ Đây là kiếp cuối cùng của ta, từ nay
ta không phải luân hồi một kiếp nào nữa!”
Đến ngày thứ năm một nghi thức trọng thể được tổ chức và Hoàng tửđược đặt tên là Siđhartha Để ngăn cản Hoàng tử không nghĩ tới việc tu hành,đức vua cha đã tìm mọi cách tạo ra quanh người con trai mình một cuộc sốngvương giả Hoàng tử được học mọi kiến thức để sau này trở thành một vị vuatài ba anh minh trị vì một đất nước Ấn Độ bao la Thế rồi, nhà vua và quầnthần đã kén cho Hoàng tử một người vợ kiều diễm Nhưng cuộc đời vươnggiả không cám dỗ được Hoàng tử trẻ tuổi Bốn sự việc mà hoàng tử chứngkiến được đã làm thay đổi hẳn cuộc đời Hoàng tử Siddhartha Đó là một lần
Trang 5khi đang dạo chơi trong vườn, Hoàng tử thấy một ông già gày còm, ốm yếurồi nhận ra một điều rằng mọi người rồi ai cũng phải già yếu như thế Ít lâusau Hoàng tử lại được chứng kiến người ốm và người chết Ba hoàn cảnhtrên làm cho Hoàng tử băn khoăn, lo nghĩ về kiếp người và muốn cứu conngười khỏi những trầm luôn đau khổ của kiếp luân hồi: Sinh, lão, bệnh, tửchính sự việc thứ tư đã đem đến cho Hoàng tử niềm hi vọng và an ủi Lần đó,Hoàng tử nhìn thấy một vị hành khất dáng vẻ bần hàn nhưng lại ung dung tựtại Vừa nhìn thấy vị hành khất Hoàng tử như bừng tỉnh và quyết định sẽ ra
đi trở thành nhà hành khất như thế
Được tin, đức vua Satdodana tìm mọi cách ngăn cản Hoàng tử Thếnhưng Hoàng tử không thể nào xua đi được bốn sự kiện mà mình đã chứngkiến khiến lòng dạ của Hoàng tử không lúc nào được thanh thản Ngay cả tinmừng công chúa Yashodhara sinh cho chàng một Hoàng nam cũng khônglàm cho Hoàng tử Sidhartha vui Ngày đêm khi đứa con ra đời, khi mọingười ngủ say, Hoàng tử lặng lẽ đến nhìn vợ và con lần cuối rối đánh thứcngười đánh xe dậy cùng minh cưỡi con ngựa Canthaca yêu quý rời khỏicung Khi đã rời khỏi đô thành Hoàng tử trút bộ áo Hoàng tộc và mặc lênngười bộ quần áo thường dân Hoàng tử dùng kiếm cắt bộ tóc dài của mình
và nhờ người đánh xe mang mớ tóc và quần áo về trao lại cho đức vua Còncon ngựa Canthana vì đau khổ phải chia tay với ông chủ của nó nên đã lăn rachết ngay tại chỗ Rời hoàng cung, dứt áo ra đi, Hoàng tử Sidhartha đã trởthành nhà tu hành Khi đó, ông mới 29 tuổi
Thoạt đầu, Hoàng tử đi lang thang đây đó, sống theo kiểu khổ hạnh.Sau đó, ngài vào rừng tu Nhà hiền triết Alara Calama dạy cho chàng cácphép thiền định và những triết lý của upanishad Học thuyết và thực hànhgiải thoát cá nhân của Upanishad không hấp dẫn Hoàng tử Chàng đi tiếp vànhập vào nhóm năm người tu khổ hạnh Suốt sáu năm trường ép xác Hoàng
tử gần như chỉ còn bộ xương khô mà vẫn chưa tìm ra chân lý của sự giảithoát Ngài bèn bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh và trở lại ăn uống bìnhthường
Trang 6Khi Hoàng tử Sidhartha 35 tuổi, một hôm ngài đến ngồi dưới gốc cây
bồ đề ở ngoại vi thành phố Gaia thuộc vùng đất của vua Bimbisura, vua nướcMagadha Cho đến một hôm có nàng Sudjata, con gái của một nông dântrong vùng đem cho ngài một bát cơm to nấu bằng sữa Ăn xong, ngài xuốngsông tắm rửa, rồi trở lại gốc cây bồ đề Ngài ngồi thiền định và nguyện sẽkhông đứng dậy nếu không tìm ra sự giải thoát về điều bí ẩn của sự đau khổ
Và Hoàng tử đã ngồi dưới gốc cây bồ đề suốt 49 ngày đêm Và cuối cùng,Siddhartha đã ngộ đạo – nhận thức được căn nguyên sinh thành, biến hóa củavạn vật trong vũ trụ, tìm ra được nguồn gốc của nỗi khổ, và từ đó chỉ raphương pháp diệt khổ cho con người Rồi từ đó trở đi, người ta gọi ông làBuddha, nghĩa là giác ngộ, Phật Về sau, các đệ tử tôn ông là Thích Ca Mâu
Ni, nghĩa là là bậc hiền triết của dòng tộc Thích ca
Trong quãng đời còn lại, Phật đã truyền bá học thuyết của mình khắp
Ấn Độ Sau khi qua đời ở tuổi 80, tư tưởng của ông đã được học trò pháttriển thành một hệ thống tôn giáo triết học lớn, có ảnh hưởng không chỉ ở Ấn
Độ, mà còn nhiều nước khác, trong đó có Việt Nam Phật giáo được coi làmột tôn giáo lớn của thế giới Triết học Phật giáo cũng là một trong các nềntriết học lớn của thế giới
1.2 Sự phát triển của Phật giáo.
Đạo Phật được Siddthartha Gautama truyền giảng ở miền bắc Ấn Độvào thế kỷ 6 Tr.CN Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi ĐứcPhật còn tại thế ra nhiều nơi, đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển củađạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phươngpháp tu học Ngay từ buổi đầu, Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổchức được một giáo hội với các giới luật chặt chẽ Nhờ vào tính chất khaisáng và sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo Phật được nhiều người tin theo
và có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều tầng lớp người, nhiềutập tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồntại và ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới ngay cả trong các nước
có nền khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu
Trang 7Trước khi Thích ca Mâu Ni tạ thế, các khu vực truyền bá Đạo Phật chủyếu ở miền Trung lưu vực Sông Hằng, đặc biệt xung quanh các khu vựcthành phố lớn mới nổi lên Sau khi ngài tạ thế, các đệ tử của ngài đã đemĐạo Phật mở rộng đến hạ lưu sông Hằng về phía Đông, phía Nam đến bờsông Caođaveri, phía Tây đến bờ biển Arập, phía Bắc tới khu vực Thaiysiro.
Ở thời kỳ thống trị của vua Asoca thuộc vương triều Mauryan, Đạo phật bắtđầu phát triển tới các cùng biển của thứ Đại lục, Đông tới Miama, Nam tớiSri Lanka, Tây tới Syria, Aicập Nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tínhthế giới Sau khi vương triều Casan (kushan) hưng khởi lại truyền tới Iran,các nơi ở trung tâm Châu á, rồi qua con đường tơ lụa truyền vào Trung Quốc
Các nơi khác: Mấy năm gần đây ở một số nước như: Italya, Thuỵ sỹ,thuỵ Điển, Tiệp Khắc việc nghiên cứu Đạo Phật cũng rất sôi nổi, đã xâydựng nên không ít cơ sở nghiên cứu Phật giáo và trung tâm nghiên cứu Phậthọc Ví dụ sở nghiên cứu Trung Đông, Viễn Đông Italia, dưới sự chủ trì của
Đỗ Kỳ đã biên tập và xuất bản “ Tư sách La mã với Đông Phương” ( Đếnnăm 1977 đã xuất bản được 51 loại ) trong đó bao gồm rất nhiều tác phẩmPhật giáo Ngay cả trong số người nổi tiếng trên thế giới ngày nay cũng chọnPhật giáo làm đạo tu hành cho mình như cầu thủ bóng đá Rôbettô Bagiô,Erie Cantôna, siêu sao màn bạc Richard Gere
2 Kinh điển của triết học Phật giáo
Tư tưởng triết lý Phật giáo được tập trung trong một khối lượng kinhđiển rất lớn khoảng 5000 cuốn, gồm 40 tập, được tổ chức thành ba bộ kinhlớn gọi là “Tam Tạng” gồm:
- Tạng Luật: Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo qui định cho
cả năm bộ phái Phật giáo như: “Tứ phần luật” của thượng tọa bộ, Maha tăng
kỷ luật của “Đại chúng bộ”, căn bản nhất thiết hữu bộ luật” Sau này cònthêm các Bộ luật của Đại Thừa như An lạc, Phạm Võng
- Tạng Kinh: Chép lời Phật dạy, trong thời kỳ đầu tạng kinh gồmnhiều tập dưới dạng các tiền đề, mỗi tập được gọi là một Ahàm
Trang 8- Tạng Luận: Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo pháp củaPhật giáo Tạng luận gồm bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm
về giáo pháp của Phật giáo
3 Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học Phật giáo.
Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về thế giới quan vànhân sinh quan, chứa đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác
3.1 Về thế giới quan:
Quan điểm về vật chất và sự vận động của vật chất: Thế giới là thếgiới vật chất, sự vật và hiện tượng trong vũ trụ là vô thuỷ, vô chung (vôcùng, vô tận), vì vạn vật là vô thường (biến đổi không ngừng) Ngay từ đầuPhật giáo đã đặt ra mục đích giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học một cáchbiện chứng và duy vật Phật giáo đã gạt bỏ vai trò sáng tạo thế giới của các
“đấng tối cao” của “Thượng đế” (vô thần) và cho rằng bản thể của thế giớitồn tại khách quan và không do vị thần nào sáng tạo ra cả
Quan điểm của Phật giáo là tự nhiên không bị chia cắt, nó có tính toànvẹn, vận động liên tục, được quy định bởi mối quan hệ nhân - quả Đất,nước, lửa, không thí và thinh không là những thực thể vĩnh hằng, ngoài racòn có thinh không trống rỗng vĩnh cửu Linh hồn là thực thể không vĩnhhằng Nguyên tử là vật chất có hình thức rất mỏng manh, không ngắn cũngkhông dài, không vuông cũng không tròn, không cong cũng không thẳng,không cao cũng không thấp Nó không thể bị chia, không nhìn thấy được,không chạm tới được và không có mùi vị Cơ thể với tư cách là những kháchthể cho cảm giác, lại chính là tổng hòa các nguyên tử
Phật giáo đưa ra tư tưởng “ Vô ngã”, “Vô thường” Theo học thuyếtnày, mọi sự vật quanh ta cũng như ta đều không có thực, mọi thứ đều là ảo,giả, do vô minh mang lại Thế giới, nhất là thế giới hữu tính – con ngườiđược cấu tạo do sự nhóm họp của các yếu tố vật chất (Sắc) và tinhthần(Danh) Danh và sắc được chia thành 5 yếu tố (ngũ uẩn) gồm: Sắc (vậtchất); Thụ (cảm thụ ); Tưởng (ấn tượng); Hành (tư duy); Thức (ý thức)
Trang 9Danh và Sắc chỉ hội tụ với nhau theo một nhân duyên nào đó rồi lạichuyển sang trạng thái khác, do vậy “không có cái tôi” (vô ngã) Bản chấtcủa sự tồn tại thế giới là một dòng biến chuyển liên tục (vô thường), khôngthể tìm ra nguyên nhân đầu tiên và cũng không có kết quả cuối cùng Do đó,không có ai tạo ra thế giới và cũng không có cái gì là vĩnh hằng.
Vũ trụ là một hệ thống các quan hệ Thế giới là thế giới vật chất, sựvật và hiện tượng trong vũ trụ là vô thuỷ, vô chung (vô cùng, vô tận) Do đó,vận vật trong vũ trụ chỉ là những biến hóa liên tục, không ngừng theo luậtnhân – quả Đối với vạn vật luôn biến chuyển theo chu trình: Sinh – Trụ - Dị
- Diệt; Đối với con người là: Sinh – Lão – Bệnh – Tử Phật giáo quan niệmrằng, thế giới không có đầu và có cuối, nó là vô hạn Linh hồn không tồn tạibền vững, không phải là sự vật bất biến, nó không bất tử Thân thể chết thì
nó cũng bị mất Con người luôn bị ràng buộc bởi các quy luật tự nhiên.Nguyên nhân tối thượng không bao giờ có Sự vận động của thế giới donhững nguyên nhân bên trong gây ra, chứ không phải do sự tác động từ bênngoài
Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thường của vạn vật,
đã xây dựng nên thuyết “ nhân duyên” Trong thuyết “nhân duyên” có bakhái niệm chủ yếu là Nhân, Quả và Duyên
- Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, đượcgọi là Nhân
- Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả
- Duyên: Là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả Duyênkhông phải là một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện
để giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp
Theo quan niệm của Phật giáo, vạn vật trong vũ trụ là do Nhân Duyên – Quả tạo ra Trong đó, cái Nhân nhờ có cái Duyên mới sinh ra đượcthành Quả Quả lại nhờ có Duyên mà thành Nhân khác, Nhân này lại nhờDuyên mà thành Quả mới Cứ như thế nối tiếp nhau vô cùng vô tận mà thếgiới, vạn vật, muôn loài, cứ sinh sinh, hoá hoá mãi
Trang 10-Ví dụ hạt lúa là cái quả của cây lúa đã thành, mà lại là cái nhân củacây lúa sắp thành Lúa muốn thành cây lúa có bông lại phải nhờ có điều kiện
và những mối liên hệ thích hợp như đất, nước, không khí, ánh sáng Nhữngyếu tố đó chính là Duyên
Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân biến hoá vôthường của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lai Phật giáo đãtrình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” ( mười hai quan hệ nhân duyên)được coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, một cách tất yếucủa sự liên kết nghiệp quả
+ Vô minh: ( là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiênsáng tỏ)
+ Hành: ( là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết quả,tạo ra cái nghiệp, cái nếp Do hành động mà có thức, ấy là hành làm quả cho
vô minh và là nhân cho Thức)
+ Thức: ( Là ý thức là biết Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làmquả cho hành và làm nhân cho Danh sắc)
+ Danh sắc: ( Là tên và hành, ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình vàtên của ta Do danh sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làmnhân cho Lục xứ)
+ Lục nhập: ( Là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và trithức Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để tiếp xúc với vạn vật Do Lụcnhập mà có xúc - tiếp xúc ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và làm nhâncho Xúc.)
+ Xúc: ( Là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nêncmở rộng xúc, cảm giác Do xúc mà có thụ, ấy là xúc làm quả cho Lục xứ vàlàm nhân cho Thụ.)
+ Thụ: (Là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vàomình Do thụ mà có ái ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho ái.)
+ Ái: (Là yêu, khát vọng, mong muốn, thích Do ái mà có Thủ, ấy là áilàm quả cho Thụ và làm nhân cho Thủ.)
Trang 11+ Thủ: ( Là lấy, chiếm đoạt cho mình Do thủ mà có Hữu Do vậy màThủ làm quả cho ái và làm nhân cho Hữu.)
+ Hữu: ( Là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cáinghiệp Do Hữu mà có sinh, do đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân củaSinh)
+ Sinh: ( Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người,làm súc sinh Do sinh mà có Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân choTử)
+ Lão tử: ( Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phảichết Nhưng chết - sống là hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau Thể xáctan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng vô minh Cho nên lại mang cáinghiệp rơi vào vòng luân hồi ( khổ não)
Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn,không bao giờ ngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà Các nhân duyên tự tậpnhau lại mà sinh mãi mãi gọi là Duyên hà mãn Đoạn này do các duyên màlàm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân cho đoạn sau Bởi
12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hoá vô thường
Mối quan hệ Nhân - Duyên là mối quan hệ biện chứng trong khônggian và thời gian giữa vạn vật Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giớikhông tính đến cái lớn nhỏ, không tính đến sự giản đơn hay phức tạp Mộthạt cát nhỏ được tạo thành trong mối quan hệ nhân quả của toàn vũ trụ Cả
vũ trụ hoà hợp tạo nên nó Cũng như nó hoà hợp tạo nên cả vũ trụ bao la.Trong một có tất cả, trong tất cả có một Do Nhân - Duyên mà vạn vật sinhhay diệt Duyên hợp thì sinh, Duyên tan thì diệt
Vạn vât sinh hoá vô cùng là do ở các duyên tan hợp, hợp tan nối nhau
mà ra Nên vạn vật chỉ tồn tại ở dạng tương đối, trong dòng biến hoá vô tận
vô thường, vô thực thể, vô bản ngã, chỉ là hư ảo Chỉ có sự biến đổi vôthường của vạn vật, vạn sự theo nhân duyên là thường còn không thay đổi
Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻcũng chỉ là dòng biến hoá hư ảo vô cùng, không có gì là thường định, là
Trang 12thực, là không thực, có sinh, có diệt, có người, có mình, có cảnh, có vật, cókhông gian, có thời gian Đó chính là cái chân lý cho ta thấy được cái chânthế tuyệt đối của vũ trụ Thấy được điều đó gọi là “ chân như” là đạt tới cõihạnh phúc, cực lạc, không sinh, không diệt, niết bàn.
Quan điểm về không gian - thời gian: thời gian là vô cùng, không gian
là vô tận Triết học Phật giáo vẫn đưa ra khái niệm đo lường cụ thể: Vềkhông gian thì có “Tam thiên”: Đại thiên, Trung thiên và Tiểu thiên, trongmỗi Tiểu thiên thế giới thì có hàng chục ngàn thế giới khác; về thời gian thì
có “Tam kiếp”: Đại kiếp, Trung kiếp và Tiểu kiếp, mỗi Tiểu kiếp thì có hàngchục triệu năm
3.2 Về nhân sinh quan:
Phật giáo quan niệm bản thân con người không do thần thánh sinh ra,
mà là một bộ phận của giới tự nhiên, một phần đặc biệt của giới tự nhiên.Con người gồm hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý
- Sinh lý tức là thể xác: xương, thịt, da, tóc, phủ tạng…, hình chất vớiyếu tố “sắc”, do 4 yếu tố vật chất tạo thành: địa, thủy, hỏa, phong Trong đó,địa tạo thành phần cứng; thủy tạo thành chất lỏng; hỏa tạo thành nhiệt; phongtạo thành hơi thở
- Tâm lý (tinh thần – ý thức): 4 yếu tố chỉ có tên gọi mà không cóhình chất gọi là “ Danh”: thụ, tưởng, hành, thức
Bốn yếu tố do nhân duyên tạo thành phần tâm lý ( tinh thần ) của conngười là:
+ Thụ: những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng
+ Tưởng: suy nghĩ, tư tưởng
+ Hành: ý muốn thúc đẩy hành động
+ Thức: nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta
Biểu hiện bằng 7 yếu tố tình cảm (thất tình): Ái, Ố, Nộ, Hỷ, Lạc, Ai,Dục Phần tâm lý dựa vào phần sinh lý và gắn liền với phần sinh lý
Phật giáo quan niệm bản thân con người được tạo thành do sự nhómhợp của ngũ uẩn theo luật nhân – duyên – quả Ngoài ra sự xuất hiện con
Trang 13người còn phụ thuộc vào nghiệp của kiếp trước, do có ngiệp thiện mà đượctrở lại làm người, tức một trong sáu con đường tái sinh – luân hồi ( Lục đạo:Cõi phật, người, atula, quỷ, súc sinh, địa ngục) Được trở lại làm người là dokiếp trước chưa tu thân triệt để, vì vậy cuộc đời vẫn chưa thoát khỏi bể khổ.Kiếp người do đó là kiếp trầm luân.
Tư tưởng xuyên suốt của triết học Phật giáo là tư tưởng về sự giảithoát Giải thoát chúng sinh khỏi kiếp luân hồi Sau khi lý giải được nỗi khổ
ở cuộc đời con người là do “thập nhị nhân duyên” làm cho con người rơi vào
bể trầm luân Đạo Phật đã chủ chương tìm con đường diệt khổ Để giải thoát,Phật giáo đưa ra thuyết “Tứ diệu đế” (4 chân lý vĩ đại)
Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúngsinh phải thấu hiểu và thực hiện nó Tứ diệu đế gồm:
3.2.1 Khổ đế: Đời là bể khổ - Là chân lý nói về sự khổ của người đời.
Và Phật giáo đã khái quát trong thuyết Bát khổ: Sinh, Lão, Bệnh, Tử , thụbiệt ly, sở cầu bất đắc, oán tăng hội, ngủ thủ uẩn Con người và vạn vật sinh
ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là khổ, chết là khổ; Sở cầu bất đắc khổ:điều con người cầu mong, mong muốn nhưng không được thỏa mãn là khổ,Thụ biệt ly khổ: phải xa người mà mình yêu thương là khổ, Oán tăng hộikhổ: phải sống với người mình không ưa là khổ, Ngũ thủ uẩn khổ: khổ vì sựhội tụ của ngũ uẩn Cuộc đời của con người ngoài cái khổ ra thì không cònhiện diện gì cả Dù ở đâu, làm gì cũng khổ
3.2.2 Nhân đế (Tập đế): Mọi cái khổ đều phải có nguyên nhân - là
chân lý nói về nguyên nhân tạo ra sự khổ Và Phật giáo quan niệm có thậpnhị nhân duyên gây ra khổ Đó là vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập,
xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, tử Khái quát là bởi tam độc: Tham, sân, si.
Đó là do con người có lòng tham, sân (giận dữ), si (si mê, cuồng mê, mêmuội) và dục vọng Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là do conngười không nắm được nhân duyên Vốn như là một định luật chi phối toàn
vũ trụ Chúng sinh không biết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không
Trang 14Cái tôi tưởng là có nhưng thực là không Vì không hiểu được ra nỗi khổ triềnmiên, từ đời này qua đời khác.
3.2.3 Diệt đế: Mọi nỗi khổ đều có thể tiêu diệt được - là chân lý nói về
khả năng có thể tiêu diệt được sự khổ nơi cuộc sống chúng sinh để đạt tớiniết bàn Phật gáo khẳng định, muốn diệt khổ phải diệt tham, sân, si, diệtthập nhị nhân duyên, đưa ý thức con người về trạng thái tĩnh, hư không.Nghĩa là mọi phát sinh đều tùy thuộc vào nguên nhân và điều kiện Khinguyên nhân bị loại bỏ thì quả không còn tồn tại Vì mọi vật có điều kiện vàtương đối nên chúng đều nhất thời, và đã là nhất thời thì phải biến mất Cái
đã được sinh ra thì phải chết Sự sinh bao hàm cả sự diệt vong
3.2.4 Đạo đế: Là chân lý nói về con đường tu tập phải theo Phật giáo
chỉ ra con đường giải thoát diệt khổ, túc là diệt tham sân, si Phật giáo chủtrương vừa lấy trí tuệ, diệt trừ vô minh, phá vòng luân hồi, lại thường xuyên
tu tập diệt trừ thăng dục để chuyển nghiệp đạt đến sự giải thoát Thực hiệnĐạo đế là một quá trình lâu dài, kiên trì, giữ giới luật, thực hành thiền định
và khai thông trí tuệ Phật giáo đã trình bày con đường diệt vô minh bằngBát chính Đạo, buộc ta phải tuân thủ Đó là:
- Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt được phải trái, không đểcho những cái sai che lấp sự sáng suốt
- Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn
- Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho ngườikhác
- Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn
- Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian tà,không được bỏ điều nhân nghĩa
- Chính tịnh tiến: Phải nỗ lực, siêng năng học tập, có ý thức vươn lên
để đạt tới chân lý
- Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính, không nghĩđến những điều bạo ngược gian ác
Trang 15- Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính,không bị thoái chí, lay chuyển trước mọi cán dỗ
Tám nguyên tắc này có thể thâu tóm vào 3 điều học tập, rèn luyện là
Tam học: Giới – Định – Tuệ.
+ Giới: (giữ giới luật): điều răn, cấm, quy định giúp người tu hànhkhông phạm phải lỗi lầm do tam nghiệp gây ra
+ Định (thực hành thiền định): phương pháp giúp người tu hành khôngtán loạn, phân tâm, nhờ đó loại trừ được ý nghĩ xấu
+ Tuệ: (khai thông trí tuệ) sự bừng sáng của tư duy
Muốn thực hiện được “Bát chính đạo” thì phải có phương pháp đểthực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình vànhững người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người
Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện “ Ngũ giới” (năm điềurăn) và “Lục độ” (Sáu phép tu)
- “Ngũ giới” gồm:
+ Bất sát: Không sát sinh
+ Bất đạo: Không làm điều phi nghĩa
+ Bất dâm: Không dâm dục
+ Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giáo hoạ cho kẻkhác, không nói dối
+ Bất tửu: Không được uống rượu
- “Lục độ” gồm:
+ Bố thí: Đem công sức, tài trí, của cải để giúp người một cáchthành thực chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn
+ Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện
+ Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làmchủ được mình
+ Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên
+ Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không
để cho cái xấu che lấp
Trang 16+ Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thếgian.
Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện
“Bát hành đạo”, “Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoátmình ra khỏi nỗi khổ Phật giáo không chủ trương giải phóng bằng cáchmạng xã hội, mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người,chống lại chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo Đó là một trong nhữngnhược điểm đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật Đứng trước bểkhổ của chúng sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cảitạo thế giới hiện thực
Tinh thần nhân văn nhân đạo: hướng con người tới sự giải thoát,không phải là đặc ân riêng cho giai cấp nào, nhưng triết học Phật giáo khônggắn liền với thực tiễn Như vậy, Phật giáo nguyên thuỷ có tư tưởng vô thần,phủ nhận đấng sáng tạo (vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng (vôthường, lý thuyết Duyên khởi) Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiệntính duy tâm chủ quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vôminh của con người tạo ra
II Một số ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống xã hội và con người Việt Nam:
1 Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt nam
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam vẫn chưa thống nhấtđược với nhau về thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam Có ý kiến chorằng, từ những thế kỷ trước công nguyên, nhiều thuyền buôn Ấn Độ đã cậpbến nước ta Các thương nhân Ấn Độ khi đó đã đem theo văn hóa Ấn Độcùng Phật giáo đến Việt Nam Một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, Phậtgiáo được du nhập vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên.Chúng tôi đồng tình với ý kiến của đa số các nhà nghiên cứu cho rằng Phậtgiáo được truyền vào nước ta từ thế kỷ II sau công nguyên Theo nhiều nhànghiên cứu, Việt Nam đã tiếp thu Phật giáo chủ yếu từ Ấn Độ và Trung Hoa
Trang 17Từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ V đã có nhiều nhà sư Ấn Độ và TrungQuốc cùng vào Việt Nam để truyền đạo như Mahakyvưc, Khưudala (AD),Mâu Bác Cư sĩ (TQ) Ở thế kỷ thứ III có Khương Tăng Hội, Chi LươngCương người Ấn Độ, thế kỷ thứ IV có Du Pháp Lan, Du Đạo Toái ngườiTrung Quốc, thế kỷ thứ V có Đàm Hoằng Ở thời kỳ này cũng có một số nhà
sư Việt Nam có danh tiếng như Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền Quá trìnhtruyền đạo này đã hình thành nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu (một trong 3trung tâm Phật giáo lớn: Lạc Dương, Bành Thành, Luy Lâu)
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ thế kỷ VI đến đầu thế kỷ X vẫnđược xem là giai đoạn truyền giáo Tuy nhiên, giai đoạn này, ảnh hưởng củacác nhà truyền giáo Ấn Độ giảm dần, trong khi các nhà truyền giáo TrungQuốc tăng lên Đáng chú ý hơn cả là việc truyền nhập các phái thiền TrungQuốc vào Việt Nam, đặc biệt là hai phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi và phái thiền
Vô Ngôn Thông Phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền thừa đến 19 đời và Phái
Vô Ngôn Thông truyền được 15 đời
Tóm lại, chín thế kỷ đầu truyền bá vào Việt Nam, mặc dù trong hoàncảnh đất nước bị xâm lược và đô hộ nhưng Phật giáo đã tạo ra được ảnhhưởng trong nhân dân và có những chuẩn bị cho sự phát triển mới trong giaiđoạn đất nước độc lập, tự chủ
Đến thế kỷ thứ X, Việt Nam giành được quyền tự chủ Chính trongthế kỷ này Phật giáo mới bắt đầu hưng thịnh và có những đóng góp tích cựccho đất nước Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng định ra phẩm trật tăng già vàban chức cho tăng sĩ Bắt đầu từ đây cho đến thế kỷ XIV, các thiền sư đượctrọng dụng, được mời tham gia vào chính sự, góp phần to lớn vào công cuộchưng thịnh của quốc gia
Vua Đại Hành sau khi hoà với nhà Tống đã sai sứ sang triều cốngTrung Hoa và xin thỉnh kinh Phật đem về truyền bá Nhiều thiền sư đã đượcvua Lê Đại Hành mời tham gia đóng góp trí tuệ cho đất nước như Thiền sưPháp Thuận, Thiền sư Vạn Hạnh
Trang 18Có thể nói, trong 2 triều đại Đinh và tiền Lê, Phật giáo đã trở thành tôngiáo chiếm địa vị ưu trội Tất cả việc chăm lo phát triển văn hoá, chính trịtrong nước, một phần lớn đều thuộc về hàng tăng sĩ, cho nên Phật giáo đượcphổ biến dễ dàng trong quần chúng Mặc dù Nho giáo và Lão giáo đã truyềnvào từ lâu, nhưng không có uy thế được như Phật giáo.
Sở dĩ Phật giáo đời Đinh và tiền Lê được ưu đãi và giữ địa vị độc tôn
vì các vị tăng sĩ phần nhiều là những người thông hiểu Nho học Chữ Nhomặc dù trước đó đã được đem dạy ở đất Việt, nhưng do chưa có khoa thi cử,nên ít người theo học Chỉ có các vị thiền sư vì cần nghiên cứu Phật giáo quakinh điển bằng chữ Hán, nên phải học Nho Các vị thiền sư lúc bấy giờ thực
sự là những trí thức của dân tộc Họ là người am hiểu nhiều về Nho, hiểu đạo
lý lại vừa là người có đức hạnh Vì vậy, họ được triều đình trọng vọng, đượcdân chúng kính nể là lẽ đương nhiên Phật giáo được thịnh hành trong giaiđoạn này cũng là tất yếu
Triều Lý, triều đại được xem là triều đại Phật giáo đầu tiên và cũng làtriều đại thuần từ trong các triều đại phong kiến Việt Nam Lý Thái Tổ (LýCông Uẩn), vị vua đầu tiên sáng lập nên triều đại nhà lý là người xuất xuấtthân từ cửa Phật, được nuôi dưỡng và trưởng thành ở chốn thiền môn Việclên ngôi của ông cũng do sự sắp sếp tài tình của thiền sư Vạn Hạnh Điều đó
đủ nói lên sức ảnh hưởng của Phật giáo trong triều đại này Mọi công việclớn nhỏ của nhà nước thế tục trong giai đoạn này như chuyện chính trị, quân
sự, ngoại giao, chuyện dời đô đến chuyện dạy đạo đức cho dân đều có sựđóng góp ý tưởng của các vị thiền sư
Triều đình phong kiến lúc này đã cử sứ thần sang Trung quốc thỉnhkinh và khuyến khích việc xuất gia tu hành Phật giáo được trọng dụng nênphát triển rất nhanh Chùa Phật được xây dựng ở hầu khắp các làng xã và trởthành trung tâm tôn giáo lớn nhất ở nông thôn miền Bắc Đại Việt lúc đươngthời Nhiều thiền sư nổi tiếng về việc tu hành và có nhiều đóng góp to lớncho đất nước, như sư Vạn Hạnh, sư Viên Chiếu, sư Mãn Giác, sư Không Lộ,
sư Viên Thông…Có thể nói, hơn 200 năm dưới triều đại nhà Lý, Phật giáo đã
Trang 19chiếm được địa vị độc tôn và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi phương diệncủa đời sống xã hội Đại Việt
Sang đời Trần, bộ máy hành chính nhà nước đã dần được xây dựng vàhoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương Nho giáo dần chiếm vị trí quantrọng trong đời sống tinh thần cũng như trong tổ chức xã hội Nhưng Phậtgiáo thời Trần đến giữa thế kỷ XIV vẫn giữ được sự thịnh vượng của nó Cácvua nhà Trần ý thức được rõ ràng vai trò của cả Nho giáo và Phật giáo đốivới xã hội Trần Thái Tông đã viết: “Cái phương tiện để mở lòng mê muội,con đường tắt để rõ lẽ sinh tử, ấy là đại giáo của Đức Phật Làm cán cân chohậu thế, làm khuôn phép cho tương lai ấy là trọng trách của tiên thánh ”.Trải qua một quá trình du nhập và phát triển đến đời Trần, Phật giáo ở ViệtNam đã có sự góp mặt của 3 thiền phái từ Ấn Độ và Trung Quốc là Tỳ Ni ĐaLưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường Đến đầu thế kỷ thứ XIII, ba thiềnphái nói trên đã dần dần nhập lại làm một để hình thành nên phái thiền mangđậm tính chất dân tộc là phái thiền Trúc Lâm Yên Tử
Các tăng sĩ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trịnhư các Thiền sư đời Lý, nhưng Phật giáo vẫn là một yếu tố quan trọng đểliên kết nhân tâm, cố kết cộng đồng Tinh thần Phật giáo đã giúp cho các nhàchính trị đương thời có những kế sách thân dân trong việc củng cố, xây dựng
và bảo vệ đất nước Không thể phủ nhận được rằng, Phật giáo đã có nhữngđóng góp tích cực góp phần làm nên hào khí Đông A lừng lẫy một thời củadân tộc Đại Việt qua những chiến thắng bình Nguyên, dẹp Mông Ở thờiTrần, rất nhiều chùa tháp qui mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo đã được xâydựng Phật giáo thời Trần đã có có sự phát triển đến cực thịnh
Từ giữa thế kỷ XIV, cùng với sự suy vi của triều đại nhà Trần, Phậtgiáo cũng dần mất đi tính nhập thế tích cực và ngày càng suy vong
Bảy năm dưới triều đại nhà Hồ, Phật giáo suy vi một cách nhanhchóng Quân Minh mượn cớ khôi phục nhà Trần kéo quân sang xâm lượcnước ta và đặt chế độ cai trị hà khắc Với âm mưu Hán hóa văn hóa Đại Việt,