1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam

93 785 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học kinh tế
Thể loại đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Giới thiệu 1.1 Đặt vấn đề và mục đích bài nghiên cứu “Tính từ đầu năm 2011 đến nay, đã có hơn 50.000 DN tại TP Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh làm ăn thua lỗ, phá sản – đây là một con số đáng lo ngại. Nhưng chưa hết, thực tế số doanh nghiệp đang trong tình trạng ngắc ngoải “chết lâm sàng” còn rất nhiều và dự báo con số này còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Doanh nghiệp phá sản dẫn đến những hệ lụy domino ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng đến nền kinh tế” (Báo An ninh thủ đô n ày 8/1/2013). Có thể thấy, phá sản của các doanh nghiệp vẫn còn là một vấn đề vô cùng nhức nhối của nền kinh tế nước ta hiện nay. Chính phủ đã ban hành hàng loạt các phương án giải cứu, hỗ trợ để góp phần giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn, khuyến khích doanh nghiệp vượt khó, mở rộng thị trường sản xuất kinh doanh và chuẩn bị điều kiện phát triển ổn định, bền vững, tránh cho doanh nghiệp đi vào bờ vực phá sản thông qua năm giải pháp lớn bao gồm: điều hành vĩ mô (hạ nhanh lãi suất huy động và cho vay, ưu tiên vốn tín dụng một số ngành…), chi tiêu công (đẩy nhanh đầu tư xây dựng cơ bản…), thuế và phí (gia hạn thời gian nộp thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền thuế đất…), điều hành giá và trợ cấp, cải cách thủ tục hành chính thuế (giảm chi phí thủ tục cho doanh nghiệp). (Nghị quy t 13/NQ-CP vào tháng 5/2012) … Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt để các doanh nghiệp tồn tại vẫn chính là sự chủ động, cương quyết của mỗi doanh nghiệp đặc thù, đề ra những chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lí, phù hợp hoàn cảnh để phát triển. Vậy thì vấn đề đặt ra ở đây là trong những năm trước khi phá sản hoặc giải thể, các doanh nghiệp ở nước ta nhìn chung đã có những dấu hiệu nhận biết nào để từ đó các doanh nghiệp có thể chủ động khắc phục, tập trung vào mối ưu tiên, quan tâm hàng đầu, hạn chế được kết quả xấu cuối cùng là phá sản? Điều này đã thúc đẩy chúng tôi tìm tòi và nghiên cứu mô hình dự báo phá sản đối với các công ty phi tài chính ở Việt Nam, dựa trên các thành tựu đạt được từ rất nhiều bài nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua. Mô hình được xây dựng dựa trên việc kiểm định 22 biến tài chính thuộc bốn mảng quan trọng của doanh nghiệp là tỷ số đòn bẩy, tỷ số khả năng sinh lợi, tỷ số vòng quay và tỷ số thanh khoản để nhận biết được các nhân tố nào đóng vai trò quan trọng và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đối với khả năng phá sản từ đó sẽ giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có những giải pháp, hướng đi thích hợp. Đầu tiên ta sẽ bắt đầu với với khái niệm phá sản. Phá sản được xác định là việc công ty không có khả năng tiếp tục việc kinh doanh hiện tại do có nghĩa vụ nợ cao (Pongsatat et al. 2004). Phá sản điển hình xảy ra khi hoặc dòng tiền hoạt động của công ty thì không đủ để thực hiện nghĩa vụ hiện tại- tức là không có khả năng trả các khoản nợ - hoặc là khi giá trị ròng của công ty là âm – tức là giá trị của tài sản thì ít hơn giá trị của khoản phải trả (Knox et al., 2008) Định nghĩa về phá sản khác nhau giữa các quốc gia. Ví dụ, ở Mỹ, có hai chương luật về những công ty được xác định là phá sản ví dụ sự thanh lý trong chương 7 và sự tái tổ chức trong chương 11 (Alman 1968). Tương tự, ở Nhật, có 3 luật cơ bản xếp những công ty lớn nào là phá sản: Luật phục hồi công dân, Luật tái tổ chức doanh nghiệp và Luật đóng cửa doanh nghiệp (Xu và Zhang 2008). Bởi vì không có một định nghĩa tổng quát hoá, có nhiều nghiên cứu như Beaver 1966 và Tavlin at al 1989 đã xác định phá sản dựa theo các cơ sở và phạm vi kiến thức của họ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM NĂM 2012

LẬP MÔ HÌNH DỰ BÁO PHÁ SẢN

CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH VIỆT NAM

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ

Trang 2

Mục lục:

1 Giới thiệu 1

1.1 Đặt vấn đề và mục đích bài nghiên cứu 1

1.2 Phương pháp nghiên cứu 5

2 Cơ sở lý thuyết 7

2.1 Phá sản 7

2.2 Chi phí phá sản 9

2.1.1.Chi phí trực tiếp 9

2.1.2.Chi phí gián tiếp 10

2.3 Ảnh hưởng của phá sản lên nền kinh tế quốc gia và ngành công nghiệp 11

2.4 Nguyên nhân của phá sản 13

2.4.1.Nguyên nhân bên ngoài 14

2.4.2.Nguyên nhân bên trong 19

2.5 Sự cần thiết một mô hình dự báo phá sản 25

2.5.1.Tầm quan trọng đối với ban quản lý 26

2.5.2.Tầm quan trọng đối với cổ đông 27

2.5.3.Tầm quan trọng đối với nhà cung ứng và công ty 27

2.5.4.Tầm quan trọng với các nhà đầu tư 28

2.5.5.Tầm quan trọng với nhà tín dụng 29

2.5.6.Tầm quan trọng đối với công nhân và công đoàn 29

2.6 Độ chính xác của mô hình dự báo phá sản 30

3 Tổng quan mô hình của các nghiên cứu trước đây 31

3.1 Mô hình dự báo phá sản dựa vào sổ sách kế toán 31

3.1.1.Mô hình dự báo phá sản của Beaver (1996) 31

3.1.2.Mô hình dự báo phá sản của Altman (1968) 33

3.1.3.Mô hình dự báo phá sản của Ohlson (1980) 35

3.1.4.Mô hình dự báo phá sản của những nhà nghiên cứu sau đó 36

3.2 Mô hình dự báo phá sản dựa trên yếu tố thị trường 41

Trang 3

3.3 Mô hình dự báo phá sản dựa trên sự thông minh nhân tạo 43

4 Phương pháp và dữ liệu 46

4.1 Phương pháp tiếp cận phân tích biệt số bội (MDA) 46

4.2 Định nghĩa mẫu và biến 51

5 Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu 55

5.1 Trung bình và độ lệch chuẩn của công ty bị phá sản 55

5.2 Trung bình và độ lệch chuẩn của công ty không bị phá sản 57

5.3 Kiểm định T cho Equality of Means 59

5.4 Kiểm định F cho Equality of Variances 62

5.5 Kết quả thống kê phân tích biệt biệt số (MDA) 65

5.6 Điểm Z/ Mô hình MDA 67

5.7 Tham số thống kê kiểm tra chức năng phân biệt ước tính 70

5.7.1.Eigenvalue và hệ số tương quan canonical 70

5.7.2.Wilks 'Lambda của mô hình MDA ước tính 71

6 Kết luận 72

6.1 Kết luận 72

6.2 Hạn chế 73

6.3 Biện pháp 74

6.3.1.Tăng EBIT 74

6.3.2.Quản lý vốn lưu động 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC : Danh sách những công ty phá sản và không phá sản 83

Trang 4

CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG

interest and taxes)

Trang 5

DANH SÁCH CÁC BẢNG SỬ DỤNG

Bảng 1: Tuổi của những công ty phá sản 23

Bảng 2a: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số đòn bẩy đối với những công ty phá sản 55

Bảng 2b: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số thanh khoản đối với những công ty phá sản 56

Bảng 2c: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số khả năng sinh lợi đối với những công ty phá sản 56

Bảng 2d: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số vòng quay đối với những công ty phá sản 57

Bảng 3a: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số đòn bẩy đối với những công ty không phá sản 58

Bảng 3b: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số thanh khoản đối với những công ty không phá sản 58

Bảng 3c: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số khả năng sinh lợi đối với những công ty không phá sản 59

Bảng 3d: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số vòng quay đối với những công ty không phá sản 59

Bảng 4a: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với không phá sản 60

Bảng 4b: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản với không phá sản 61

Bảng 4c: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản với không phá sản 61

Bảng 4d: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số vòng quay công ty phá sản với không phá sản 62

Bảng 5a: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với không phá sản 62

Bảng 5b: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với không phá sản 63

Bảng 5c: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản với không phá sản 64

Bảng 5d: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số vòng quay công ty phá sản với không phá sản 64

Bảng 6: Variables Entered/Removed a,b,c,d 65

Bảng 7: Standardized Canonical Discriminant Function Coefficients 66

Bảng 8: Functions at Group Centroids 67

Trang 6

Bảng 9: Classification Results b,c 68

Bảng 10: Casewise statistics 69

Bảng 11: Eigenvalues 71

Bảng 12:Wilks' Lambda 71

Trang 7

DANH ÁCH CÁC ĐỒ THỊ, Ơ ĐỒ

Hình 1: Quy trình chuỗi giá trị giả định 16

Hình 2: Giả thiết vòng đời của một công ty 24

Hình 3: Ba tỉ số tài chính xác định khủng hoảng tài chính theo Beaver (1966) 33

Hình 4: Các phân phối biệt số 48

Hình 5: Đồ thị tán xạ phân phối theo trục 49

Hình 6: Tao trục mới (kết hợp tuyến của x và y) 50

Trang 9

1 Giới thi u

1.1 Đặt vấn đề và mục đích bài nghiên cứu

“Tính từ đầu năm 2011 đến nay, đã có hơn 50.000 DN tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh làm ăn thua lỗ, phá sản – đây là một con số đáng lo ngại Nhưng chưa hết, thực

tế số doanh nghiệp đang trong tình trạng ngắc ngoải “chết lâm sàng” còn rất nhiều và dự báo con số này còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới Doanh nghiệp phá sản dẫn đến

những hệ lụy domino ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng đến nền kinh tế” (Báo An ninh thủ đô n ày 8/1/2013)

Có thể thấy, phá sản của các doanh nghiệp vẫn còn là một vấn đề vô cùng nhức nhối của nền kinh tế nước ta hiện nay Chính phủ đã ban hành hàng loạt các phương án giải cứu, hỗ trợ để góp phần giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn, khuyến khích doanh nghiệp vượt khó, mở rộng thị trường sản xuất kinh doanh và chuẩn bị điều kiện phát triển

ổn định, bền vững, tránh cho doanh nghiệp đi vào bờ vực phá sản thông qua năm giải pháp lớn bao gồm: điều hành vĩ mô (hạ nhanh lãi suất huy động và cho vay, ưu tiên vốn tín dụng một số ngành…), chi tiêu công (đẩy nhanh đầu tư xây dựng cơ bản…), thuế và phí (gia hạn thời gian nộp thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm tiền thuế đất…), điều hành giá và trợ cấp, cải cách thủ tục hành chính thuế (giảm chi phí thủ tục cho doanh

nghiệp) (Nghị quy t 13/NQ-CP vào tháng 5/2012) … Tuy nhiên, vấn đề mấu chốt để

các doanh nghiệp tồn tại vẫn chính là sự chủ động, cương quyết của mỗi doanh nghiệp đặc thù, đề ra những chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lí, phù hợp hoàn cảnh để phát triển

Vậy thì vấn đề đặt ra ở đây là trong những năm trước khi phá sản hoặc giải thể, các doanh nghiệp ở nước ta nhìn chung đã có những dấu hiệu nhận biết nào để từ đó các doanh nghiệp có thể chủ động khắc phục, tập trung vào mối ưu tiên, quan tâm hàng đầu, hạn chế được kết quả xấu cuối cùng là phá sản? Điều này đã thúc đẩy chúng tôi tìm tòi và nghiên cứu mô hình dự báo phá sản đối với các công ty phi tài chính ở Việt Nam, dựa

Trang 10

trên các thành tựu đạt được từ rất nhiều bài nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua Mô hình được xây dựng dựa trên việc kiểm định 22 biến tài chính thuộc bốn mảng quan trọng của doanh nghiệp là tỷ số đòn bẩy, tỷ số khả năng sinh lợi, tỷ số vòng quay và tỷ số thanh khoản để nhận biết được các nhân tố nào đóng vai trò quan trọng và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đối với khả năng phá sản từ đó sẽ giúp các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có những giải pháp, hướng đi thích hợp

Đầu tiên ta sẽ bắt đầu với với khái niệm phá sản

Phá sản được xác định là việc công ty không có khả năng tiếp tục việc kinh doanh

hiện tại do có nghĩa vụ nợ cao (Pongsatat et al 2004) Phá sản điển hình xảy ra khi hoặc

dòng tiền hoạt động của công ty thì không đủ để thực hiện nghĩa vụ hiện tại- tức là không

có khả năng trả các khoản nợ - hoặc là khi giá trị ròng của công ty là âm – tức là giá trị

của tài sản thì ít hơn giá trị của khoản phải trả (Knox et al., 2008)

Định nghĩa về phá sản khác nhau giữa các quốc gia Ví dụ, ở Mỹ, có hai chương luật về những công ty được xác định là phá sản ví dụ sự thanh lý trong chương 7 và sự tái

tổ chức trong chương 11 (Alman 1968) Tương tự, ở Nhật, có 3 luật cơ bản xếp những

công ty lớn nào là phá sản: Luật phục hồi công dân, Luật tái tổ chức doanh nghiệp và

Luật đóng cửa doanh nghiệp (Xu và Zhang 2008) Bởi vì không có một định nghĩa tổng

quát hoá, có nhiều nghiên cứu như Beaver 1966 và Tavlin at al 1989 đã xác định phá sản dựa theo các cơ sở và phạm vi kiến thức của họ

Theo Luật phá sản Vi t N m năm 2001, doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình

thanh toán nợ đến hạn (dòng tiền) hoặc tổng nợ vượt quá tài sản có (bảng cân đối tài sản) Dấu hiệu này để suy đoán doanh nghiệp đang mất khả năng thanh toán, chứ không có ý nghĩa doanh nghiệp đã phá sản, cần phải thu hồi, phát mại và thanh lý sản nghiệp Tuy nhiên bởi vì chỉ cần các chủ nợ có yêu cầu thì doanh nghiệp sẽ ngay lập tức lâm vào tình trạng phá sản nên trong bài nghiên cứu này, dù một số ít công ty vẫn còn niêm yết nhưng

Trang 11

rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán trầm trọng chúng tôi vẫn mạnh dạn xếp vào dạng phá sản

Tiếp nối, chúng tôi lưu ý về một số điều kiện mà nếu mắc phải, các công ty trên

- Điều 14 - Khoản 1đ: Kết quả sản xuất, kinh doanh bị lỗ trong ba năm liên tục

và tổng số lỗ luỹ kế vượt quá vốn chủ sở hữu trong báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất

- Điều 14 - Khoản 1c:Tổ chức niêm yết bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành

Do đó, bài nghiên cứu này của chúng tôi tiếp tục tiếp nối những khái niệm phá sản như những bài nghiên cứu trước, cũng như dựa vào tình trạng nền kinh tế của Việt Nam, công ty được xác định là phá sản ở Việt Nam trong bài sẽ là:

- Công ty bị huỷ niêm yết ở Sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội theo luật định điều số 14 khoản 1c và 1đ, Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007

- Công ty bị đóng cửa bởi Sở giao dịch và chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội Như ta đã biết, Việt Nam là một đất nước đang phát triển trong quá trình hội nhập toàn cầu Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế 2008 vẫn còn để lại rất nhiều hệ luỵ cho đến ngày nay mà thể hiện rõ nhất là qua những con số biết nói về số lượng các doanh nghiệp phá sản Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1/2013 cho thấy chỉ trong vòng 20 ngày đầu năm 2013, cả nước đã

có 4.278 doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động, tăng 11,3% so cùng kỳ Nhìn lại từ năm 2011 đến đầu năm 2013, những tổng hợp, báo cáo kết quả điều tra con số giải thể, phá sản của các doanh nghiệp, ban ngành chưa lúc nào sụt giảm hay chững lại Ngược lại, những con số này đang ngày tăng cao và trở thành một hiện tượng của kinh tế Việt Nam năm 2012 “Doanh nghiệp dẫu to hay nhỏ, khi phá sản cũng hệ luỵ đến hàng trăm đối tác, hàng ngàn người lao động Theo hiệu ứng domino, tác động của sự ''chết chóc'' vật lý này

Trang 12

cũng không khác sự chết chóc sinh học là bao nhiêu Theo đó là môi trường kinh doanh

bị ô nhiễm nặng nề, nếu không nhanh chóng dọn dẹp, sự chết chóc lan toả thành đại dịch

sẽ là một thảm họa” Do đó, với tình hình một lượng lớn phạm vi ảnh hưởng phá sản đã diễn ra ở Việt Nam, bài nghiên cứu này nhận ra việc cần thiết khi phát triển 1 mô hình dự báo phá sản độc nhất cho môi trường doanh nghiệp của Việt Nam để phòng ngừa việc thất bại thêm nữa của những doanh nghiệp Hơn thế nữa, không có nghiên cứu nào về phá sản trong chừng mực Việt Nam và không có bài nghiên cứu nào trên thế giới tập trung riêng biệt cho Việt Nam Vì thế, bài nghiên cứu này được xem là bước đầu tiên để lấp đầy lỗ hổng về mảng dự báo phá sản của Việt Nam Sự khám phá này sẽ giúp những doanh nghiệp của Việt Nam trong việc giám sát đúng lúc và đề cao vị thế tài chính của doanh nghiệp

Mục đích chính của bài nghiên cứu là:

- Xác định các biến tài chính để nhận ra “sự khoẻ mạnh” từ những công ty có vấn đề tài chính

- Phát triển một mô hình có khả năng dự báo sức khoẻ tài chính và có sự nhận biết đúng giữa phá sản và không phá sản

Mô hình dự báo phá sản này có ý nghĩa quan trọng đến nhiều thành phần trong doanh nghiệp cũng như trong xã hội

Mô hình có ý nghĩa với những nhà quản lí, những người điều hành chính sách trong công ty - những người phải áp dụng thường xuyên đến những mô hình dự báo để kiểm tra tình trạng sức khoẻ tài chính của những doanh nghiệp từ đó đưa ra những phương án thiết thực, hữu hiệu, chữa đúng bệnh cho doanh nghiệp mình khi có vấn đề xảy ra

Mô hình có ý nghĩa cho những tổ chức tín dụng để xét khả năng phá sản của doanh nghiệp Trong lĩnh vực quản trị rủi ro, dự báo phá sản doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc kiểm định vào việc ứng dụng khoản cho vay tín dụng vì lẽ giúp cho ngân hàng khỏi gặp tình trạng không trả được nợ của các khoản nợ xấu và giúp ngân

Trang 13

hàng thu được lợi nhuận từ việc cho vay thích hợp Hơn thế nữa, việc dự báo phá sản doanh nghiệp theo cách đúng đắn, một ngân hàng, một tổ chức tín dụng, có thể đóng góp cho cộng đồng bằng việc cung ứng những công ty khoản vay đúng tương ứng với khả năng trả được nợ của họ Với tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, số lượng doanh nghiệp phá sản ngày càng tăng cao, không khó có thể thấy mức nợ xấu của ngân hàng vô cùng lớn, điều đó đã dẫn đến điều kiện để được vay vốn của các tổ chức ngân hàng khá khắt khe, tuy nhiên hiệu quả chính xác hay không lại khó biết được Ta không thể xét tất cả các tỉ số tài chính và chỉ cần một tỉ số không đạt yêu cầu là lại cẩn trọng không cho doanh nghiệp vay, dẫn đến hệ luỵ các doanh nghiệp “khát vốn” nhưng lại khó tiếp cận với các

nguồn hỗ trợ, dẫn đến khó khăn cho hoạt động sản xuất Bởi theo Beaver (1966), ông cho

rằng mặc dù phân tích tỉ số có thể cung cấp những thông tin hữu ích, nhưng ta phải thận trọng khi sử dụng chúng : Không phải tất cả tỉ số đều có khả năng dự báo tốt như nhau

Ví dụ như theo nghiên cứu của ông tỉ số dòng tiền trên tổng nợ thì có khả năng dự báo tốt hơn nhiều so với tỉ số tài sản thanh khoản

Và cuối cùng, mô hình còn có ý nghĩa với những nhà nghiên cứu kinh tế trong việc xem xét tiếp theo những mô hình dự báo phá sản ở các mảng khác áp dụng ở nền kinh tế Việt Nam

1.2 Phương pháp nghiên cứu

Hầu hết các nghiên cứu chính của mô hình dự báo phá sản được hình thành dựa trên phân tích kinh tế của các tỷ số tài chính Có hai cân nhắc về nó: đầu tiên, báo cáo tài chính được công bố có chứa một sự đầy đủ thông tin về triển vọng và thành tựu của công

ty và thứ hai là một cách để kiểm soát độ lớn của ảnh hưởng của các biến hệ thống theo

thử nghiệm (Lev và Sunder, 1979) Vì vậy, phân tích tỷ số không chỉ được ưa chuộng

khi giải thích các tính toán tài chính cần thiết, nhưng cũng đã đóng một chức năng quan trọng trong sự phát triển của các mô hình dự báo phá sản Trong bài này chúng tôi cũng phân tích các tỷ số của công ty để xác định mức độ tác động của các yếu tố đến khả năng phá sản của doanh nghiệp Dựa trên lý luận và các bài nghiên cứu trước đây, chúng tôi tập trung tiến hành phân tích tác động của 24 nhân tố thuộc 4 nhóm: tỷ số đòn bẩy, tỷ số

Trang 14

thanh khoản, tỷ số khả năng sinh lợi và tỷ số vòng quay Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích biệt số MDA để kiểm tra tác động của những nhân tố này lên khả năng xảy ra phá sản bất cứ lúc nào trong bốn năm từ 2009 đến ba tháng đầu năm 2013

Trong đó biến phụ thuộc là biến phá sản Z

Chúng tôi thu thập mẫu là 48 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) với 24 công ty phá sản và 24 công ty không phá sản cùng ngành có tổng tài sản tương đương

Kết quả, chúng tôi nhận thấy rằng trong tổng số 22 biến tỷ số tài chính của công ty thì có hai biến có ảnh hưởng đáng kể trong việc dự đoán phá sản cho các công ty phi tài chính ở Việt Nam là tỷ số EBIT trên tổng tài sản (thuộc nhóm tỷ số khả năng sinh lợi) và

tỷ số vốn luân chuyển trên doanh thu (thuộc nhóm tỷ số vòng quay) Các kết quả tính toán được từ mô hình phân tích biệt số với biến phụ thuộc Z đã cung cấp bằng chứng cho thấy mỗi công ty phi tài chính có một giá trị Z khác nhau, đem so sánh với giá trị ZCE = 0.08 – điểm gãy, nếu công ty nào có Z > ZCE = 0,08 thì rơi vào trường hợp không phá sản, còn công ty nào có Z < ZCE = 0,08 thì rơi vào phá sản Mô hình này đã được kiểm định với độ chính khác khi phân loại công ty phá sản là 79.2%

Trang 15

2 Cơ sở lý thuy t

2.1 Phá sản

Phá sản của một công ty hay trở nên phá sản có thể được xác định như sự mất khả năng của công ty khi trả các khoản nợ, rõ ràng trở nên phá sản thì tồi tệ hơn nhiều so với

mất tính thanh toán (Gonenli 1988) Mặc dù, phá sản đi cùng với một sự giảm đều đặn

giá trị tài sản dưới tổng nợ phải trả, quyết định đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của

doanh nghiệp thì đúng đắn hơn là cố gắng tồn tại (Wheelen 2000) Nhu cầu giải cứu các

công ty hay cơ cấu lại lần đầu tiên được trông thấy là ở Mỹ Sự cố gắng tổ chức cơ cấu lại lần đầu tiên được áp dụng trong ngành đường sắt Mặc dù, ngành đường sắt hầu hết là phá sản, nó được bảo vệ bởi Luật phá sản Mỹ, chương 7 năm 1898 nhờ tầm quan trọng

cốt yếu của ngành giao thông với nền kinh tế (Ustundag 1998)

Phá sản là bằng chứng theo pháp luật về sự mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn của một công ty, do đó, mục đích của quá trình phá sản là ngăn ngừa sự lừa gạt gian lận của công ty để bảo vệ quyền của người cho vay, và để tạo một cơ hội hình thành nên công việc kinh doanh mới sau khi đáp ứng được tất cả khoản nợ phải trả

Nguyên nhân chính của phá sản là sự thiếu khả năng và không thành công của những nhà quản lý Với doanh số thấp và chi phí sản xuất cao, những công ty có xu hướng tài trợ cho những nhu cầu tiền ngắn hạn chỉ bằng những khoản nợ ngắn hạn Chính sách tài chính này ngược lại lại làm tăng rủi ro phá sản trong tương lai Rủi ro phá sản không là một rủi ro hệ thống và khía cạnh này là một đối tượng cho nhiều nhà nghiên

cứu Altman (1968) và Ohson (1980), trong nghiên cứu dự báo phá sản cho rằng rủi ro phá sản không là một rủi ro tương quan với rủi ro thị trường Dichev (1998) lưu ý rằng

những công ty có rủi ro phá sản cao, có tỷ suất sinh lợi thấp hơn tỷ suất sinh lợi trung bình trong cùng ngành

Nếu một công ty đi đến phá sản, nó sẽ phải dàn xếp với chủ nợ hoặc bộ phận tín dụng của ngân hàng, hoặc nộp đơn phá sản lên toà án Nếu quyết định phá sản được đưa

ra, công ty sẽ thực hiện theo 2 cách:

Trang 16

1 Công ty có thể tiên hành quy trình tổ chức cải tổ lại

2 Công ty đi đến quyết định phát mại (đóng cửa công ty)

Cả hai hành động đều yêu cầu công ty nộp đơn phá sản lên toà án Thủ tục cần thiết sau đơn phá sản được vận dụng bởi Uỷ ban được ấn định của toà

Ở Vi t Nam, thanh lý tài sản là sự lựa chọn duy nhất Trong quá trình thanh lý, tài

sản của công ty được bán đi và số tiền được sử dụng để trả nợ Những nhà tín dụng chịu rủi ro ít nhất vì được trả đầu tiên, những cổ đông là những người cuối cùng được trả

Ở Mỹ, những công ty nộp đơn xin phá sản lên toà án Federal District Có hai loại

phương pháp phá sản là Phát mại và Tổ chức lại Toà án quyết định phát mại công ty

hoặc cố gắng tổ chức cơ cấu lại công ty C ươn 7 – Federal Bankruptcy Act quy định

sự thanh lý của công ty Dưới chu trình thanh lý, người được toà án uỷ thác (một luật sư hoặc một người kinh doanh) nhận nhiệm vụ kiểm soát tài sản của công ty để quản lý chu trình phá sản Người được toà ản uỷ thác có nhiệm vụ thanh lý tài sản bằng việc bán đấu giá hàng hoá tài sản công ty và phân phối số thu nhập dựa theo quyền được ưu tiên thích

hợp (Krishnamurti và Vishwanath 2008)

Để những người có liên quan nhận được số tiền bán tài sản của công ty, quyền lợi của chính phủ đầu tiên Tiếp theo là quyền lợi của những chủ nợ đảm bảo như trái phiếu được đảm bảo bởi tài sản công ty Tiếp theo đến quyền lợi của công nhân (người làm thuê) về lương, quyền lợi về tiền trợ cấp của công ty và quyền lợi của những nhà tín dụng thông thường và không bảo đảm Tiếp theo cuối cùng là quyền lợi của cổ đông ưu đãi và

cổ đông thường

Ngược lại với thanh lý, công ty có thể tìm đến con đường tổ chức lại, được hướng

dẫn trong Chươn 11 của Federal Bankruptcy Act Việc tổ chức lại thì thường phức

tạp hơn là phát mãi, và thường nhận được quan tâm nhiều hơn của cổ đông và nhà tín dụng Tổ chức lại có nghĩa là công ty được phép tiếp tục hoạt động trong khi thực hiện trong kế hoạch đưa việc kinh doanh hiệu quả trở lại

Trang 17

Trong suốt thời kì tổ chức lại, công ty hoạt động dưới sự quản lý của ban quản trị

và Người được toà ản uỷ thác (Altman và Hotchkiss 2005) Kế hoạch tổ chức lại phải

được sự chấp nhận của những nhà tín dụng và toà án trước khi thực hiện Kế hoạch tổ chức lại tập trung vào quyền lợi của người cho vay sẽ được thoả mãn bởi công ty tổ chức lại Việc tổ chức lại hiệu quả khi cả công ty thì có giá trị hơn là phân chia từng mảnh

(Brouwer 2006)

2.2 Chi phí phá sản

Chi phí kinh tế cho việc phá sản doanh nghiệp thì lớn, minh chứng thấy rõ qua việc giá trị thị trường của những công ty kiệt quệ về căn bản giảm trước khi phá sản kết

thúc hoàn toàn (Warner 1977, Charalambous và cộng sự 2000) Do đó, người cung

cấp vốn, nhà đầu tư, nhà cho vay, cũng như ban quản lý và người làm công, đều chịu ảnh hưởng nặng nề từ phá sản doanh nghiệp Kiểm toán thì cũng đối diện với những đe doạ của các vụ kiện cáo tiềm ẩn nếu họ thất bại trong việc đưa ra dấu hiệu cảnh bảo sớm về

những công ty phá sản thông qua việc đưa ra ý kiến kiểm toán chất lượng (Zavgren

1983, Jones 1987, Boritz 1991, Laitinen và Kankaanpaa 1999)

Chi phí phá sản có thể được phân loại thành 2 loại:

Trang 18

thì chắc chắn tăng khi một công ty gặp khó khăn tài chính trầm trọng (Branch 2002) Vì

thế, chúng tôi có thể nói rằng chi phí trực tiếp khi giải quyết kiệt quệ tài chính thì lớn hơn dạng phí được trả cho các nhà chuyên môn (đặc biệt là luật sư và kế toán)

2.1.2 Chi phí gián tiếp

Hầu hết chi phí phá sản là chi phí gián tiếp Giảm sút trong thị phần thị trường có thể xuất hiện khi công ty phá sản hoặc bị kiệt quệ tài chính Sau đó, lợi tức của công ty có

xu hướng bị mất giá trị bởi vì giá trị sở hữu của công ty giảm

Chi phí gián tiếp của phá sản là những chi phí của việc tránh nộp đơn phá sản phải gánh chịu bởi những công ty kiệt quệ tài chính Mất doanh thu, xao nhãng quản lý, chi phí tập trung trong ngắn hạn, mất thị phần, và mất các nhân viên tốt nhất có thể đươc xem

là ví dụ của những chi phí gián tiếp của phá sản

Chi phí gián tiếp của phá sản thể hiện khó khăn trong việc vận hành công ty trong khi nó đang cố gắng vượt qua phá sản Chi phí trực tiếp của phá sản thì khá nhỏ so với chi phí gián tiếp - phá sản liên quan đến giới hạn quản lý và nỗ lực để cải thiệt tình trạng kinh tế thì khá quan trọng

Theo Gilson (1989), sau khi nộp đơn phá sản, những nhà điều hành chịu tổn thất

cá nhân lớn và hơn một nửa nhà điều hành bị sa thải Gilson và Vetsuypens (1994) thấy

rằng các nhà điều hành vẫn còn ở lại sau khi nộp đơn phá sản thì nhận lương và tiền thưởng thấp hơn đáng kể, trung bình các nhà điều hành chỉ nhận được khoảng 35% thu nhập ròng trước đó

Theo nghiên cứu của Branch (2002), chi phí trực tiếp của phá sản thì khoảng

4,45% - 6,35% giá trị thị trường trước khi phá sản, chi phí gián tiếp của phá sản thì khoảng 5% - 10% giá trị thị trường trước khi phá sản

Altman (1984) thấy rằng tổng chi phí phá sản trực tiếp và gián tiếp chiếm khoản

15% giá trị công ty trước khi kiệt quệ đối với những công ty công nghiệp và khoản 7%

đối với những công ty bán lẻ Gần hơn, Franks và Torous (1994) kết luận rằng chi phí

phá sản tăng thêm trung bình vượt quá phá sản không theo thủ tục ít nhất 4,5%

Trang 19

Một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh chi phí cơ hội, gây ra bởi thời gian mất đi không thể đo lường được, nên được xem như chi phí trực tiếp của phá sản Một số nhà nghiên cứu lưu ý rằng chi phí cơ hội nên được xem như chi phí gián giếp của phá sản Chi phí gián tiếp khác là việc giảm sút trong thu nhập bị gây ra bởi mất mát doanh số bởi việc phá sản có thể xảy ra và chi phí tín dụng tăng cao phụ thuộc vào rủi ro tăng lên

(Aktas 1997)

2.3 Ảnh hưởng của phá sản lên nền kinh tế quốc gia và ngành công nghiệp

Việc kinh doanh phá sản có một ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế cả nước Tỉ lệ thất nghiệp, một trong những vấn đề vĩ mô quan trọng nhất sẽ tăng do bị thôi việc bởi những công ty phá sản Trong khi đó, hàng hoá và dịch vụ, được sản xuất trước đó, thì không được sản xuất nữa, do đó tổn thất thu nhập sẽ xảy ra và việc sử dụng năng lực sản xuất giảm Tương tự, những nhà đầu tư đã đầu tư vào công ty phá sản, sẽ miễn cưỡng chuyển tiền tiết kiệm qua thị trường vốn vào công ty kinh doanh cần vốn để mở rộng

Tổ chức kinh doanh quản lý việc kinh doanh trong một môi trường năng động, nguyên nhân này ảnh hưởng đến chi phí của kiệt quệ tài chính không chỉ bị giới hạn bởi những nhà quản lý và chủ sở hữu của công ty mà còn có những nhà kinh doanh và tổ chức liên kết trong ngành công nghiệp liên quan nhạy cảm với sự ảnh hưởng đó

Trong một nghiên cứu của Buehler và cộng sự (2006), lưu ý rằng trong những

ngành hoặc nhóm ngành có tỉ lệ phá sản xảy ra cao, những hoạt động sát nhập thì hiếm Mặt khác, khám phá khác của bài nghiên cứu cho rằng sát nhập giữa những tổ chức kinh doanh lớn thì thường xảy ra hơn so với những tổ chức nhỏ Hơn thế nữa, tuổi công ty là một nhân tố quan trọng khác liên quan đến sát nhập và phá sản Họ thấy rằng việc xảy ra phá sản và sát nhập của những công ty thì có mối liên hệ ngược chiều với tuổi của công

ty Trong thời kì phát triển vĩ mô, trong khi những hoạt động sát nhập tăng, phá sản hoặc đóng cửa tự nguyện thì giảm

Ảnh hưởng của thông báo phá sản của một công ty địch thủ lên công ty khác hoạt

động trong cùng ngành là một vấn đề thử thách khác Lang và Stulz (1992) cho là những

Trang 20

ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của thông báo phá sản của một công ty địch thủ cùng ngành lần lượt là ảnh hưởng cạnh tranh và ảnh hưởng lan truyền

Ản ƣởng cạnh tranh

Phá sản của công ty địch thủ có thể được xem như một sự kiện tốt đối với những đối thủ cạnh tranh của công ty phá sản Sự kiện này cho là ảnh hưởng cạnh tranh Theo ảnh hưởng cạnh tranh, khi công ty cùng ngành phá sản, những đối thủ cạnh tranh được tác động một cách tích cực và thị phần của họ tăng lên, giá cổ phiếu được đánh giá cao

trong thị trường (Lang & Stulz 1992, Ferris và cộng sự 1997, Iqbal 2002)

Iqbal (2002) trong nghiên cứu thời kì 1991-1996 ở Mỹ cho thấy những đối thủ

cạnh tranh thì được ảnh hưởng tích cực lên tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu bởi sự phá sản của một công ty cùng ngành

Ản ƣởng lan truyền

Tin tức về công ty đối thủ phá sản có thể chỉ ra một số vấn đề phổ biến với những

công ty khác trong cùng ngành (Caton và cộng sự 2008) Theo ảnh hưởng lan truyền,

những đối thủ cạnh tranh bị ảnh hưởng xấu bởi việc hình thành lối suy nghĩ bi quan về ngành công nghiệp bị gây ra thông báo phá sản của công ty đối thủ Trong khi việc phá sản công ty làm giảm sút niềm vào công ty đó, nó cũng là giảm sự tín nhiệm vào các

công ty khác trong cùng ngành (Ferris và cộng sự 1997, Iqbal 2002)

Ferris và cộng sự (1997) cho thấy tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu của những công ty

đối thủ của công ty kiệt quệ tài chính bị sụt giảm giá trị xuống khoảng 4,68% trong 3 ngày đầu tiên Khám phá này là chứng cứ của sự lan truyền thông tin xấu về ngành công nghiệp

Kanas (2004) kiểm tra sự ảnh hưởng của nhóm những ngân hàng đa quốc gia

BCCI phá sản lên ngành ngân hàng ở Mỹ, Anh, Tây Ban Nha và Thuỵ Sĩ Kanas thấy rằng sự phá sản của nhóm ngân hàng này có ảnh hưởng lan truyền lên ngành ngân hàng Tây Ban Nha và Anh Nghĩa là, theo bài nghiên cứu, những ngân hàng khác trong mảng ngân hàng quốc gia bị ảnh hưởng tiêu cực

Trang 21

Nghiên cứu khác điều tra về sự ảnh hưởng lây lan của kiệt quệ tài chính được thực

hiện bởi Gay và cộng sự Trong bài nghiên cứu này, ảnh hưởng sự phá sản của 3 ngân

hàng Hồng Kông lên giá cổ phiếu của ngành ngân hàng Hồng Kông được xem xét Kết quả cho thấy những ngân hàng khác trong ngành thì bị ảnh hưởng tiêu cực và giá cổ phiếu bị sụt giá trong ngành công nghiệp do phá sản không mong đợi của ba ngân hàng kia

Phá sản của các công ty thì có khả năng ảnh hưởng xấu lên toàn bộ xã hội Do đó, việc thiết lập và phát triển một phương thức cảnh báo sớm cho công ty mang một tầm quan trọng lớn Bằng cách này, phá sản có khả năng xảy ra có thể được ngăn chặn và kết quả là các công ty có thể tự tạo cơ hội cho việc tái tổ chức

2.4 Nguyên nhân của phá sản

Thành công hay thất bại của bất kì công ty nào cũng đều là kết quả tác động qua lại của hai bộ nhân tố chính

Thứ nhất, kết quả hoạt động của công ty bị ảnh hưởng bởi những nhân tố bên ngoài, vượt ngoài khả năng kiểm soát các giám đốc kinh doanh Tỉ lệ tăng trưởng của nền kinh tế, phá sản, tỷ giá hối đoái, tỷ suất ngân hàng, sự ưu tiên, thái độ và sự thay đổi trong khẩu vị khách hàng, sự thay đổi những đặc tính của những hoạt động thị trường; điều kiện môi trường rõ ràng ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi và sức mạnh thị trường

của doanh nghiệp (Sharma và Mahajan 1980)

Thứ hai, bộ nhân tố chính còn lại ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh của công ty

là những nhân tố bên trong, những nhân tố tồn tại trong công ty và dưới khả năng điều hành Giữa những nhân tố liên quan đến công ty, vốn chủ sở hữu không hiệu quả cho sự phát triển tài chính và việc sử dụng quá mức đòn bẩy, thất bại trong lựa chọn vị trí, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, đầu tư tài sản cố định quá mức… có thể được xem

là những nhân tố bên trong ảnh hưởng đến khả năng công ty

Theo nghiên cứu bởi trung tâm đánh giá quốc tế, Dun & Br dstreet, năm 1987,

phá sản doanh nghiệp do 5 nhân tố chính sau đây:

Trang 22

- Những nhân tố kinh tế

- Kinh nghiệm quản lí

- Doanh thu yếu kém

- Chi phí tăng cao

- Những nhân tố nhỏ khác

Theo các báo cáo, nguyên nhân quan trọng nhất của phá sản doanh nghiệp là do những nhân tố kinh tế, kinh nghiệm quản lí xếp thứ hai

Những nguyên nhân bên trong và bên ngoài của phá sản được nêu rõ sau đây:

2.4.1 Nguyên nhân bên ngoài

Mỗi công ty là một cá thể của nền kinh tế và chúng bị ảnh hưởng, tác động bởi môi trường mà chúng hoạt động Do đó, một số nhân tố môi trường gây ra sự phá sản vượt ngoài khả năng điều hành kinh doanh của công ty Mặc dù khó có thể ngăn chặn những nhân tố này, những công ty có thể sử dụng một số phương pháp để giảm thiểu ảnh hưởng bất lợi Những nhân tố môi trường khiến những doanh nghiệp thất bại được liệt kê sau đây:

Mô trường xã hội

Một trong những nguyên nhân bên ngoài khiến doanh nghiệp thất bại là môi trường bên ngoài mà doanh nghiệp hoạt động Sự kết hợp các điều kiện kinh tế và kiểu hành vi của người dân hình thành và điều chỉnh những hoạt động của môt công ty

(Buker và cộng sự, 1997)

Kinh doanh, để thành công, bắt buộc phải biết sự kì vọng của xã hội và tiếp tục những hoạt động kinh doanh phù hợp với những nhu cầu đó Tránh chế độ độc quyền, tôn trọng quyền khách hàng và ý thức môi trường là một số yêu cầu của môi trường xã hội

(Turko 1999)

Những cuộc nổi dậy, mối quan hệ quốc tế căng thẳng, những thay đổi trong tình hình chính trị và xã hội là những rủi ro chính trị và xã hội ảnh hưởng đến những công ty

Trang 23

và quyết định của họ Trong những năm gần đầy, nhiều công ty đã rơi vào kiệt quệ bởi tình hình quốc tế căng thẳng và những thay đổi tiêu cực trong tâm lý người dân Ví dụ, sau khi thông qua luật Armenian Genocide ở Thượng nghị viện Pháp, những công ty Pháp ở Thổ Nhĩ Kỳ rơi vào tình trạng kiệt quệ Giá cổ phiếu của French Alcatal rớt

xuống một phần ba (Tezcan 2002) Ví dụ khác, vào ngày 11/9/2001, máy bay tự sát đâm

vào Trung tâm thương mại thế giới ở New York, ảnh hưởng đến nhiều công ty bảo hiểm

và hàng không chủ chốt một cách trầm trọng Giá cổ phiếu của chúng rớt xuống đáng kể

và những công ty đứng trên bờ phá sản Swissair, trong số đó, phải dừng các chuyến bay

và đệ trình đơn phá sản, ngược lại, giá trị của những công ty kinh doanh vũ khí và bảo vệ thì lại tăng

Mô trường ngành

Những con sóng lên và xuống trong ngành có thể ảnh hưởng nhiều công ty, do đó, những công ty sẽ gặp kiệt quệ tài chính, việc lặp đi lặp lại của những đợt sóng này sẽ khiến những công ty bị phá sản Ví dụ, việc đình công thường xuyên trong ngành sẽ khiến các công ty rơi vào kiệt quệ tài chính và bóp méo những quyết định sản xuất của

họ

Theo Charitou, A, Neophytou, E., & Charalambous, C (2004), những nhân tố

dẫn đến công ty phá sản thì rất nhiều Nhiều nhà kinh tế học quy hiện tượng cho lãi suất cao, lợi nhuận thu hẹp và đóng băng, gánh nặng nợ lớn Hơn thế nữa, đặc trưng của các ngành công nghiệp, như chính sách nhà nước và bản tính của hoạt động kinh doanh, có thể dẫn đến kiệt quệ tài chính của công ty Những nghiên cứu về những vụ phá sản kinh doanh ở Mỹ, Anh, Canada và Úc cho thấy những công ty mới, tư nhân và nhỏ với thủ tục kiểm soát kém hiệu quả và hoạch định dòng tiền kém thì dễ dẫn đến kiệt quệ tài chính hơn là những công ty công lớn lâu đời

Điều kiện không chắc chắn của thị trường có thể khiến các doanh nghiệp đối mặt với nguy hiểm và rủi ro Các công ty bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi những rủi ro nhân tố này, liên quan đến môi trường bên ngoài của công ty Một số rủi ro được liệt kê sau đây:

Trang 24

Rủi ro sở thích: sự bất lực của các công ty để thích nghi với những chọn lựa và sở

thích của khách hàng dẫn đến thất bại của doanh nghiệp

Rủi ro chuỗi giá trị: một chuỗi giá trị (value chain) là một bộ liên kết của những

hoạt động tạo ra giá trị khởi nguồn từ vật liệu thô cơ bản từ những nhà cung cấp, tiếp đến chuỗi các hoạt động làm tăng thêm giá trị bao gồm sản xuất và marketing sản phẩm hoặc dịch vụ, và kết thúc bởi các nhà phân phối đưa sản phẩm cuối cùng đến tay của khách

hàng cuối cùng (Thomas L.Wheelen 2000)

Hình 1: Quy trình chuỗi giá trị giả định

Vấn đề xảy ra ở những nhà cung cấp và nhà phân phối của một công ty có thể ảnh hưởng xấu đến công ty chính Ví dụ, nguyên liệu thô chất lượng thấp hoặc thiếu sót được gửi tới bởi các nhà cung cấp có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản xuất và những sản phẩm chất lượng thấp này sẽ huỷ hoại danh tiếng của công ty và làm giảm doanh thu, kết quả là lợi nhuận kém và kiệt quệ tài chính Trở lại, một vấn đề trong kênh phân phối có thể đưa đến kết quả thất bại Hãy nghĩ đến một công ty sản xuất được những sản phẩm chất lượng cao nhưng không thể đưa chúng ra thị trường Những sản phẩm không bán được tức là tổn thất, tổn thất kéo dài cũng sẽ dẫn đến phá sản

Những hệ thống Just-in-time (Đúng sản phẩm - đúng số lượng - đúng nơi - đúng thời điểm) được thiết kế để giảm hàng tồn kho của một tổ chức và chí phí liên kết, mục đích đẩy xuống 0 lượng thời gian mà những nguyên liệu thô và những sản phẩm hoàn

thành ở lại trong nhà máy (Beard & Butler 2000) Quan niệm này đưa ra rằng những nhà

cung cấp vận chuyển nguyên liệu với thời gian số lượng chính xác cần thiết, do đó giảm hàng tồn kho sản phẩm thô đến 0 Hơn thế nữa, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất thì được giữ lại tối thiểu bởi vì những mặt hàng được sản xuất vừa đủ để phục vụ cho bước

Trang 25

tiếp theo của quá trình sản xuất Hàng tồn kho của sản phẩm cuối cùng thì được giảm thiểu khi số lượng tương thích với doanh số yêu cầu Thực vậy, vấn đề nên được giải

quyết, việc lập chương trình nên cực kì cẩn thận và phối hợp chặt chẽ (Daft, 2003) Một

vấn đề trong truyền đạt thông tin giữa các mắc xích liền kề có thể dẫn đến việc sản xuất

và việc buôn bán không hiệu quả

Rủi ro về giá: việc lên và xuống mức giá chung hoặc sự thay đổi giá đáng kể trong

ngành có thể gây khó khăn cho doanh nghiệp

Lạm phát đưa đến kết quả một nền kinh tế không ổn định trong hầu hết các nước đang phát triển như Thổ Nhĩ Kỳ Lạm phát có nghĩa là trạng thái không cân bằng giữa cung và cầu trong sự tăng đều đặn của mức giá chung, hơn thế nữa, lạm phát gây ra sự méo mó trong phân phối thu nhập, tiết kiệm ít, tăng độc quyền, mất cân bằng trong bảng cân đối kế toán Kết quả, các công ty rơi vào kiệt quệ và khủng hoảng dễ dàng trong nền

kinh tế này (Eren, 1995)

Ở Việt Nam các nước đang phát triển khác, nhu cầu vốn tài chính thường không được thoả mãn nhờ vào thị trường vốn ngân hàng do lãi suất cao – kết quả của lạm phát cao, bởi vì lạm phát làm tăng lãi suất và kết quả làm giảm cung tiền – nhân tố quan trọng với đầu tư dài hạn Lãi suất cao làm tăng chi phí tạo nguồn, ảnh hưởng quyết định đầu tư, dưới tình trạng này, hầu hết các công ty hờ hững với việc đầu tư và trở nên yếu đi Đó là nguyên nhân mà hầu hết những công ty kiệt quê trong nền kinh tế bị lạm phát

Rủi ro cạnh tranh: là một nguyên nhân phá sản khác Mục đích của kinh doanh,

những nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức là đầu tư vào sự tăng trưởng, phát triển và mở rộng trong ngành, do đó, điều kiện cạnh tranh thì quan trọng khi phân tích ngành được nghiên vứu Mật độ cạnh tranh, luật chống bán phá giá và sự tồn tại của các rào cản để gia nhập

ngày có thể được suy xét (Berk 1999)

Mô trường kinh t

Kinh doanh thương mại là một phần của hệ thống kinh tế và bị ảnh hưởng bởi những điều kiện kinh tế trong nước – nơi hoạt động

Trang 26

Phá sản là một vấn đề toàn cầu có thể xảy ra ở cả những nền kinh tế phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, nó xảy ra quá mức ở các môi trường kinh tế đang phát triển Những nguyên nhân chính phía sau những thất bại của doanh nghiệp thì khác nhau ở mỗi quốc gia, đó là những khác biệt trong cấu trúc vốn, chuẩn mực kế toán và môi trường xã

hội, chính trị, kinh tế (Newton 1985, Argenti 1976 và Her & Choe 1999)

Những nhân tố kinh tế có thể gây ra phá sản được liệu kê sau đây: giảm hoặc tăng đột ngột lãi suất, sự thay đổi không mong đợi trong tỉ lệ lạm phát, sự thay đổi bất thường trong tỷ giá hối đoái, sự thay đổi trong chế độ xuất và nhập khẩu và chính sách tiền tệ

(Buker và cộng sự 1997)

Để đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng, các công ty phải cung cấp hàng hoá và dịch vụ vào thị trường, bên cạnh đó để tiếp tục hoạt động, họ có nhu cầu đầu vào như nhân công, vốn, tài nguyên từ thị trường đó Do đó, việc kinh doanh nằm ở hai phía của

cả cung và cầu trong cùng một thời điểm Đây là quy tắc của chu kì kinh tế (Demir 1997)

Trong hầu hết trường hợp, chính phủ xác định vai trò trong nền kinh tế Mặc dù dưới nền kinh tế thị trường tự do, vai trò của chính phủ giảm xuống, chính sách vĩ mô giúp tương lai đất nước được ổn định Với chế độ xuất và nhập khẩu, lãi suất, chính sách thuế, giúp đỡ tài chính và những hoạt động hỗ trợ, chính phủ đã tác động đến những hoạt

động kinh doanh (Demir 1997),

Mô trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên ý nói những tài nguyên được sử dụng trong quá trình sản xuất Sự phát triển và tiến hoá của môi trường tự nhiên tạo những cơ hội đưa đến sự thành công trong những hoạt động kinh doanh và nhưng cũng có thể đưa đến sự phá sản của công ty Việc làm cạn kiệt các tài nguyên và ô nhiêm môi trường ảnh hưởng đến hoạt

động kinh doanh (Turko 1999)

Trang 27

Hơn thế nữa, những thiên tai như động đất, lũ lụt, hoả hoạn, dịch bệnh… có thể liệt kê như những nhân tố tự nhiên điển hình ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Đáng tiếc, việc ước lượng và tính toán phương pháp chống đỡ thiên tai thì rất khó

Mô trường khoa học k t uật

Sự sụt giảm giá trị của máy móc và những thiết bị sản xuất khác có thể xem như một ví dụ của nguyên nhân kĩ thuật với phá sản Đặc biệt, những thay đổi nhanh chóng trong công nghệ và thiết bị sản xuất làm tăng cường độ cạnh tranh và sự không chắc chắn của hướng đi của nền kinh tế Do đó, sự bất lực trong việc thích nghi với những thay đổi

và tính toán sai hướng đi của nền kinh tế có thể dễ dàng đẩy những công ty đi vào phá sản Đầu tư vào công nghệ sai có thể đạp đổ hoàn toàn công ty

Loại hình khác của rủi ro phát sinh từ công nghệ là những tai nạn bị gây ra bởi máy móc và phương phá sản xuất, thiệt hại sản xuất gây ra bởi sự hao mòn và hỏng hóc của các thiết bị máy móc, những hậu quả đáng tiếc không mong đợi ví dụ như ô nhiễm, hoá chất, sự bức xạ của công nghệ được sử dụng ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ con người

Mô trường chính trị và luật pháp

Các nhà kinh doanh phải tuân thủ một số điều luật (luật thương mại, luật thuế, bộ luật về nghĩa vụ nợ, luật phá sản …) Việc kinh doanh vi phạm những điều luật này là đối tượng của nhiều hình thức phạt khác nhau và mất đi danh tiếng, do đó những sự kiện tiêu

cực này có thể là nguyên nhân của phá sản (Turko 1999)

2.4.2 Nguyên nhân bên trong

Những nhân tố bên trong, dưới sự điều hành của ban quản lý, ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh có thể được liệt kê dưới đây (Keskin 2002)

- Quản lý yếu kém

- Sự không hoà hợp trong sự phát triển môi trường

- Truyền đạt thông tin không hiệu quả

Trang 28

- Tăng trưởng thất thường

- Thất bại trong các dự án quan trọng

Chất lƣợng quản lý

Mặc dù những bài nghiên cứu trước đưa ra nhiều nguyên nhân dẫn đến phá sản nhưng nhân tố được kiểm chứng ảnh hưởng quan trọng nhất dẫn đến sự sụp đổ của công

ty là việc thiếu kinh nghiệm Kiểm chứng cho thấy các nhà doanh nghiệp kinh nghiệm và

đủ tố chất quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp và ngược lại (Chandler và Hanks 1998)

Trong một nghiên cứu của Buccino& Associates (1991), cho thấy 88% sự thiếu

sót trong chất lượng quản lý xác định sự khác biệt cơ bản giữa thành công và thất bại của

một doanh nghiệp Theo những nguyên cứu trước đó của D& B (1980), hơn 44% phá sản là do sự thiếu kinh nghiệm và hiểu biết, hoặc chỉ là sự thiếu trình độ rõ ràng (Altman 1993) Hơn thế nữa, Gitman (1992) ủng hộ ý kiến này của D&B khi cho rằng 50% vụ

phá sản đều liên quan đến sự thiếu khả năng của các nhà quản trị Sự kém cỏi của nhà quản trị có thể gây ra phá sản trong những giai đoạn hoạt động và đầu tư

Đối với tất cả công ty, quá trình đầu tư bắt đầu với việc xây dựng hoặc với sự phát triển và mở rộng cơ sở hoạt động, theo sau bởi việc chuẩn bị một dự án đầu tư thông qua việc nghiên cứu tính tiện lợi về kinh tế, kỹ thuật, tài chính và luật pháp, nhưng trái lại, sự thiếu khả năng quản lý trong giai đoạn này có thể đưa việc kinh doanh đi vào khó khăn

Argenti (1976) nghiên cứu toàn diện vào sự sụp đổ doanh nghiệp phát hiện nhiều

nguyên nhân và dấu hiệu của phá sản doanh nghiệp Những nguyên nhân được phát hiện bởi tác giả bao gồm: ban quản lí yếu kém, thông tin kế toán không đầy đủ, kinh doanh quá khả năng vốn, nợ cao, sự thay đổi về kinh tế - công nghệ - chính trị và xã hội Hơn thế nữa, tác giả còn đưa ra những dấu hiệu của phá sản bao gồm đạo đức thấp của công nhân, chất lượng và dịch vụ ngày càng yếu kém, chính sách tín dụng siết chặt, sụt giảm trong vốn hoá thị trường, tăng nhanh mức độ phàn nàn của khách hàng, thất bại trong việc hoàn thành mục tiêu và thấu chi

Trang 29

Hall (1992) đã phân tích những nhân tố dẫn đến sự phá sản của những doanh

nghiệp Anh và biện luận rằng việc marketing không hiệu quả dứt khoát là nguyên nhân

cơ bản của phá sản

Theo Bongini và cộng sự (1998), những công ty châu Á dẫn đến phá sản bởi vì

mức đòn bẩy cao và việc đầu tư vào bất động sản và nhà máy

Tương tự, sự tiếp cận phù hợp đến những nguồn nhân lực và tài chính giữ một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các dự án kinh doanh mới Quả thực, nguồn tài chính không thích hợp thường xuyên được viện dẫn là nguyên nhân chính đưa đến sự phá sản

của những doanh nghiệp mới nổi (Cooper 1994)

Yukcu và cộng sự (1999) tóm tất những nhân tố ban đầu dẫn đến sự phá sản :

- Thiếu khả năng hình thành cấu trúc vốn tối ưu do sự khan hiếm vốn chủ sở hữu

- Phân tích thị trường không thích đáng

- Mất sức mạnh cạnh tranh trong thời kì đầu của hoạt động do mức chi phí lớn

- Chọn sai phương pháp sản xuất

- Chọn công nghệ sản xuất dẫn đến chi phí sản xuất cao

- Chọn sai vị trí cho cơ sở sản xuất

- Logistics thiếu hiệu quả

- Đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định dẫn đến nguồn lực không sử dụng

- Giải quyết không thoả đáng thiết bị và máy móc sản xuất

- Kinh doanh bằng những dự án đầu tư không hiệu quả hoặc áp dụng sai phương án đầu tư

Khi kinh doanh, ban quản trị thiếu kinh nghiệm có thể làm phá sản công ty Một

số khía cạnh chính của sự thiếu năng lực được liệt kê dưới đây :

Trang 30

- Thành phần đòn bẩy cao và sự khát vốn chủ sở hữu do sự tăng trưởng thiếu

kế hoạch

- Kế hoạch tài chính không hiệu quả, thiếu cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn

- Chi phí cố định cao hơn chi phí dự kiến

- Chi phí sản xuất cao và thiếu khả năng kiểm soát chúng

- Chính sách hàng tồn kho thiếu ổn định, kinh doanh không hiệu quả

- Thiếu thận trong trong nghiên cứu thị trường và xác định vị thế thị trường

- Không tạo được sự hoà hợp giữa các nhà quản lý

- Thiếu hiểu biết kĩ thuật

- Sự bất lực trong việc dùng các thiết bị thích hợp làm giảm chi phí

- Phối hợp không hiệu quả giữa các ban bộ trong tổ chức

- Không có khả năng giới thiệu sản phẩm hoặc dịch vụ mới

- Thiếu cân bằng giữa quyền lực và sự phản ứng lại

Amit (2003) phân tích số liệu của 339 doanh nghiệp Canada phá sản để xác định

những nguyên nhân phá sản giữa những công ty trẻ và già Tác giả thấy rằng việc thiếu hiểu biết của ban quản trị và thiếu khả năng quản lí tài chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự phá sản của những công ty trẻ hơn, trong khi đó việc thiếu khả năng thích ứng với

sự thay đổi của môi trường là nguyên nhân chính đến sự phá sản của những công ty Canada già hơn

Dun & Bradstreet biên soạn một thống kê thú vị về tuổi của những công ty phá

sản chấp nhận mối quan hệ giữa những nhà quản lý thiếu kinh nghiệm và phá sản Rõ ràng là khả năng phá sản của những công ty thiếu kinh nghiệm, trẻ và thiếu vốn thì lớn hơn những công ty già hơn Phân tích cho thấy hơn 50% các vụ phá sản diễn ra trong 5 năm đầu tiên của doanh nghiệp Sau năm thứ năm, tỉ lệ phá sản giảm xuống khi công ty

Trang 31

trở nên vững vàng, ổn định, kinh nghiệm hơn và có thể tiếp cận dễ dàng hơn nguồn vốn

Trang 32

Chu kì kinh doanh

Chu kì kinh doanh là một khía cạnh khác bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những yếu tố bên trong và bên ngoài, lưu ý một mặt khác của phá sản doanh nghiệp Những công ty thường được nghĩ là hoạt động theo bên ngoài, nhưng thực tế điều này không vững chắc Việc kinh doanh có thể được xem như những cá thể sống khi chúng được sinh ra với việc đầu tư được hoàn thành và chết đi khi chúng trở nên già và mất đi sức mạnh Chúng ta có thể phân loại chu kì kinh doanh thành 4 giai đoạn: hình thành, phát triển, trưởng thành và suy thoái, như một sản phẩm mới được đưa vào thị trường

Đó là nguyên nhân tại sao hình dạng của chu kì kinh doanh trông giống như một chữ S bởi vì sự phát triển sản xuất, lợi nhuận, doanh thu theo thời gian Cũng vậy, chu trình được đặt tên mô hình S thể hiện dưới đây: (Mặc dù mô hình này được làm đơn giản hoá, hình dạng này vẫn hữu ích trong việc phân tích một công ty)

Hình 2: Giả thiết vòng đời của một công ty

Trang 33

Có thể giải thích ngắn gọn chu kì kinh doanh như sau: trong thời kì hình thành, công ty mới bước vào ngành với mục tiêu là hình thành và giới thiệu bản thân Khối lượng doanh số thì thấp và lợi nhuận thì xem như không Trong giai đoạn phát triển, khối lượng doanh số tăng nhanh hơn, do đó, lợi nhuận tăng đáng kể và đạt đến mức tối đa Vào giai đoạn trưởng thành, số lượng các đối thủ tăng và bởi vì sự cạnh tranh mà mức lợi nhuận co nhẹ lại Giai đoạn trưởng thành thì dài hơn những giai đoạn khác Doanh số tăng nhẹ và đạt đến mức cao nhất, nhưng trái lại, sau một thời gian thì doanh số và lợi nhuận đều giảm sút Vào giai đoạn suy thoái, công ty suy yếu, doanh số và lợi nhuận trở nên yếu kém không đủ cho công ty tồn tại hơn nữa

Việc xác định, khi những giai đoạn bắt đầu và khi chúng kết thúc liên quan những đánh giá chủ quan, nhưng một số nhà nghiên cứu phát triển những tiêu chuẩn cụ thể để

xác định những thời kì này (Mucuk 1994)

Lý thuyết chu kỳ ngụ ý một sự quản lý hiệu quả trong thời kì tăng trưởng và một

sự quản lý yếu kém trong thời kì trưởng thành và suy thoái Do đó, mục đích chính của việc quản lý nên là tiếp tục làm tốt trong thời kì tăng trưởng và để ngăn ngừa thời kì suy thoái

Việc quản kí kinh doanh, khi việc kinh doanh trong giai đoạn tăng trưởng, nên xem xét các yếu tố môi trường để đưa ra các quyết định tối ưu khi giới thiệu sản phẩm mới hoặc tăng trưởng bền vững, do đó các công ty có thể kéo dài thời kì tăng trưởng dài hơn Nếu công ty đang trong thời kì trưởng thành và suy thoái, công ty nên được bán cho

một công ty khác hoặc được thanh lý (Wheelen, 2000)

2.5 Sự cần thiết một mô hình dự báo phá sản

Phá sản doanh nghiệp là một hiện tượng kinh tế đáng lo ngại Sức khoẻ và sự thành công của những công ty là mối quan tâm phổ biến của những nhà làm chính sách,

người tham gia nền kinh tế, nhà đầu tư, nhà quản lý (O’Le ry 1998) Nó cũng là một vấn

đề ảnh hưởng đế nền kinh tế mỗi quốc gia Số lượng công ty phá sản thì quan trọng với nền kinh tế một đất nước và có thể xem như là một chỉ số của sự phát triển và mạnh khoẻ

Trang 34

của nền kinh tế (Zopounidis & Dimitraas 1998) Chi phí xã hội, kinh tế, cá nhân cao khi

xày ra phá sản doanh nghiệp đã thúc đẩy những nhà nghiên cứu để tìm kiếm sự hiểu biết

và khả năng dự báo tốt hơn (McKee & Lensberg 2002) Dự báo phá sản doanh nghiệp là

mối quan tâm ngày càng tăng cao đối với những nhà đầu tư, nhà cho vay, công ty đi vay

và chính phủ Sự phát hiện đúng lúc việc phá sản sắp xảy đến của một doanh nghiệp là

một nhu cầu cấp thiết (Jones 1987)

Việc tiếp cận định lượng được áp dụng bởi một lượng lớn nghiên cứu khi áp dụng nhiều công cụ thống kê dựa vào những thông tin tài chính thu được từ những nguồn được công bố của công ty Mục tiêu then chốt của những nghiên cứu này là để phát hiện dấu hiệu nhận biết tài chính đặc biệt giữa công ty khoẻ mạnh và công ty phá sản

Những bài nghiên cứu trong bài này chứng tỏ hoàn toàn có thể dự báo trước được phá sản bằng cách sử dụng các báo cáo tài chính Phân tích tỷ số là một phương pháp được sử dụng thường xuyên trong các nghiên cứu dự báo phá sản Những tỷ số tài chính thể hiện trong báo cáo tài chính có thể đánh giá được sức khoẻ của một công ty Trong những bài nghiên cứu này, mục đích là để tìm ra những tỷ số tài chính có thông tin quan trọng trước khi xảy ra phá sản Điểm khởi đầu là tình hình ngày càng xấu đi của những thông tin trong báo cáo tài chính của công ty kiệt quá và dự đoán thị trường bi quan về công ty

Tầm quan trọng của việc thiết lập một mô hình dự báo phá sản có ý nghĩa với những thành phần bên ngoài và bên trong của doanh nghiệp: ví dụ ban lãnh đạo công ty, nhà đầu tư, nhà tín dụng, kế toán, người điều chỉnh điều lệ trong chính phủ và những người có quyền lợi liên quan khác

2.5.1 Tầm quan trọng đối với ban quản lý

Bằng việc sử dụng công cụ dự báo phá sản, ban quản trị có thể nhận ra tình trạng phá sản trong thời kì sớm hơn và thực hiện các phương án cải thiện, sửa chữa chống lại những ảnh hưởng bất lợi của phá sản

Trang 35

Việc sử dụng những mô hình dự báo này giúp các nhà quản lý có đủ thời gian để tìm nguồn quỹ cần thiết, thiết lập những cộng tác mới, tìm kiếm các cơ hội chuyển nhượng mà không làm mất giá trị thị trường Nhà quản lý cũng có thể sử dụng phương pháp dự báo này cho những khách hàng và công ty cung ứng của họ để có thể xem xét lại mối quan hệ với những công ty có rủi ro phá sản có thể xảy ra

2.5.2 Tầm quan trọng đối với cổ đông

Mô hình dự báo có thể được các cổ đông sử dụng trong việc chọn lựa giữa những

cơ hội xuất hiện trước họ, đầu tư vào công ty, sát nhập hoặc thu mua những công ty khác Nếu kết quả không tốt đẹp, cổ đông có thể chọn quyền chọn bán công ty ở mức giá hơn giá trị thực bởi vì công ty vẫn còn có khả năng thoả thuận để được bán hơn giá trị thực Nếu các cổ đông chờ trong hi vọng công ty có thể khoẻ trở lại, họ thực chất có thể đối diện với giá trị thị trường thấp Hơn thế nữa, xác định những công ty yếu để thu mua thì

rẻ và dễ dàng hơn nhiều nhờ những nghiên cứu dự báo

Cũng vậy, mô hình dự báo phá sản có thể được xem xét bởi những công ty mẹ Bởi vì, sự phá sản của một công ty con có thể huỷ hoại danh tiếng của một tập đoàn và sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và quyết định tín dụng Do đó, những công ty mẹ có thể giám sát những việc đang diễn ra qua những công cụ ước lượng

2.5.3 Tầm quan trọng đối với nhà cung ứng và công ty

Các doanh nghiệp sử dụng phương pháp luận Just – in – time (JIT) để đạt được chi phí sản xuất tối thiểu và thiếu sót xuống 0 Phương pháp JIT đưa ra cơ sở cho việc quản lý hàng tồn kho và trữ lượng để giảm thiểu lãng phí, cũng như phát triển hiệu quả và

sử dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng Do đó, mối quan hệ với nhà cung ứng thì quan trọng đối với việc quản lý hiệu quả chất lượng trực tiếp

“Mua nguyên liệu chỉ khi nhà cung ứng có một quy trình chất lượng” Deming đặc biệt nhấn mạnh là các công ty nên xây dựng mối quan hệ lâu dài với những nhà cung ứng Nhưng các nhà cung ứng sẽ chỉ chấp nhận điều này nếu họ thấy rằng qua thực

nghiệm và kinh nghiệm, tồn tại sự tin tưởng với những công ty thu mua nguyên liệu (Rao

Trang 36

và cộng sự 1996) Nghĩ về mối quan hệ của một nhà cung ứng và một công ty, họ làm

việc cùng nhau và làm tăng chất lượng Họ tin tưởng lẫn nhau, do đó họ cộng tác kinh doanh với nhau Rõ ràng là một vấn đề nảy sinh ở người này có thể ảnh hưởng đến người kia và ngược lại Do đó, nhà cung ứng và công ty nên sử dụng mô hình dự báo phá sản để kiểm soát lẫn nhau để đề phòng nguy hiểm Một vấn đề tài chính bên nhà cung ứng có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh, chất lượng sản phẩm và số lượng sản xuất Chất lượng kém hơn và số lượng ít hơn sẽ ảnh hưởng xấu đến việc sản xuất và doanh số của công ty dẫn đến kết quả là sụt giảm và mất đi danh tiếng trong tư tưởng của khách hàng Ngược lại, vấn đề bên công ty thu mua cũng ảnh hưởng xấu đến công ty cung ứng, công

ty rơi vào tình trạng phá sản sẽ được thể hiện trong số tiền phải trả cho người cung ứng,

vì thế người cung ứng cũng có thể rơi vào phá sản bị gây ra bởi công ty thu mua

Để tránh tình trạng như vậy xảy ra, nhà cung ứng và công ty nên giám sát lẫn nhau qua những dụng cụ dự báo Và nếu kết quả không tốt, thì họ nên tìm một công ty cung ứng khác hoặc một công ty khác để cung ứng

2.5.4 Tầm quan trọng với các nhà đầu tư

Những nhà đầu tư cá nhân hay nhà đầu tư tổ chức có thể sử dụng mô hình dự báo trong quá trỉnh quyết định đầu tư Với sự hỗ trợ của công cụ dự báo, những nhà đầu tư có thể xác định những cổ phiếu kém trong danh mục đầu tư của họ và đưa ra quyết định bán chúng trước khi giá trị của những cổ phiếu đó biến mất Hơn nữa, những nhà đầu tư có thể xác định những cổ phiếu có giá trị mới để đưa chúng vào danh mục đầu tư Mô hình

dự báo phá sản cung cấp những thuận lợi đáng kể tới các nhà đầu tư tìm kiếm tỷ suất sinh lợi cao hơn Một nhà đầu tư có thể điều chỉnh lại danh mục đầu tư của mình bằng công cụ

dự báo, tức là công ty đang lâm vào tình trạng phá sản được trông đợi khắc phục được vấn đề của mình, do đó đầu tư vào những cổ phiếu giá thấp của công ty này có thể đem đến lợi nhuận cao sau này, khi công ty đã giải quyết được khó khăn

Mô hình dự báo phá sản không chỉ đưa ra thời điểm cần thiết một nhà đầu tư cần

mà còn giải quyết việc thiếu kinh nghiệm của nhà đầu tư Do đó, các nhà đầu tư đạt được mục đích của họ bằng việc đầu tư vào những nơi đúng đắn và những công ty có cơ hội

Trang 37

khoẻ mạnh nhờ sự hỗ trợ vừa phải của nguồn quỹ Việc giải quyết khó khăn nguồn vốn dẫn đến cơ hội cho những đầu tư mới và giúp cho việc kinh doanh phát triển và đạt được những thuận lợi cạnh tranh

2.5.5 Tầm quan trọng với nhà tín dụng

Nhà tín dụng là một người hay công ty cho công ty vay Rủi ro phá sản được xem xét trong mỗi thoả thuận với nhà tín dụng để bảo vệ họ khỏi khả năng phá sản mà họ sẽ chạm trán nếu người mắc nợ không trả hoặc trả nợ thiếu Đó là nguyên nhân tại sao quản

lý tín dụng rất quan trọng đối với những tổ chức, công ty tín dụng, ngân hàng và những định chế tài chính khác

Quản lý tài chính bao gồm 5 bước bao gồm: xác định độ dài thời gian trả nợ, xác định dạng hợp đồng, đánh giá khách hàng có đáng tin để cho vay, xác định giới hạn tín dụng và bước cuối cùng là cho vay

Bước đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng là bước quan trong của quản lý tín dụng Có rất nhiều nguồn thông tin về khách hàng như kinh nghiệm riêng của nhà tín dụng với khách hàng, kinh nghiệm của những nhà tín dụng khác, đánh giá của trung tâm tín dụng, kiểm tra tài khoản ngân hàng của khách hàng, giá trị thị trường của tài sản bảo đảm của khách hàng và phân tích báo cáo tài chính của khách hàng Hơn thế nữa, với sự

hỗ trợ của mô hình dự báo phá sản, các định chế tài chính được lợi từ việc chọn được công ty thích hợp để cho vay Đánh giá và phân tích hồ sơ vay nợ nhờ mô hình dự báo phá sản cho kết quả nhanh và chính xác hơn Từ chối hồ sơ vay nợ của một công ty được

dự báo là phá sản nhờ mô hình, tiết kiệm được thời gian và tăng tính hiệu quả của việc đánh giá tín dụng của các chuyên gia Do đó, nguồn quỹ sẽ được cho vay đúng nơi, trong trường hợp này, nền kinh tế của một đất nước và những tổ chức tín dụng có thể đạt được lợi ích cao

2.5.6 Tầm quan trọng đối với công nhân và công đoàn

Công nhân là một trong những nhân tố sản xuất quan trọng và đóng một vai trò đáng kể trong thành công của một công ty Công nhân và công đoàn có ảnh hưởng trực

Trang 38

tiếp bởi những hoạt động của doanh nghiệp Việc kinh doanh đạt được mục tiêu có thể tăng mạnh trong thị trường thì người công nhân cũng sẽ nhận được một phần thưởng thích đáng từ thành công đó

Mô hình dự báo phá sản có thể được công đoàn sử dụng để thu thập thông tin về tình hình sức khoẻ tài chính của công ty, từ đó, công đoàn có thể xác định tăng lương cũng như tăng những quyền công dân khác Mặt khác, những người công nhân của một công ty dự báo lâm vào tình trạng phá sản thì có thể nỗ lực làm việc hơn để hỗ trợ phục hồi công ty hoặc tìm kiếm cho họ một công việc khác

2.6 Độ chính xác của mô hình dự báo phá sản

Độ chính xác của mô hình dự báo phụ thuộc vào những nhân tố cơ bản chắc chắn bao gồm sự đáng tin cậy của báo cáo tài chính, kiến thức và kinh nghiệm của nhà phân tích, kiến thức ngành, lường trước được xu hướng kinh tế trong suốt thời kì phân tích, và nhận biết được chính sách của các nhà quản lí Một mô hình dự báo chính xác sẽ có lợi cho việc kinh doanh như một sai sót hay thiếu chính xác trong việc dự báo có thể dẫn đến tổn thất Vì nguyên nhân này, những nghiên cứu dự báo yêu cầu sự cẩn thận và tập trung

từ đầu đến cuối

Một số công ty có xu hướng lừa gạt nhà cầm quyền bằng những báo cáo tài chính

đã trang điểm (Anil, 1997) Do đó, một phân tích nên tránh chọn loại báo cáo tài chính

này vào trong nghiên cứu mà chỉ sử dụng các báo cáo tài chính đã được kiểm toán

Phân tích và diễn dịch báo cáo tài chính yêu cầu lượng kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực này Một nhà phân tích kinh nghiệm có thể nhìn thấy những điểm thiếu sót

và lừa dối trong báo cáo và có thể làm chúng sáng tỏ trở lại

Sản xuất trong quá khứ, giá, nguồn vốn và chính sách chia cổ tức của những công

ty trong bài phân tích là nguồn thông tin có giá trị về sức khoẻ của nghiên cứu Hoàn toàn

có thể đạt được những chính sách tương lai của những đối tượng công ty sau khi làm tăng

độ chính xác của mô hình dự báo

Trang 39

3 Tổng quan mô hình của các nghiên cứu trước đây

Từ những năm 1960, những nhà nghiên cứu đã dành nhiều nỗ lực để kiểm chứng việc dự báo phá sản nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Ví dụ, Canada (Alman và Lavelle 1981), Australia (Izan 1984), UK (Charitou at al 2004), Pháp (Micha 1984), Hàn Quốc (Alman 1995), Nhật Bản (Xu và Zhang 2008), Malaysia (1988), Sudan (Eljelly at

al 2001), Ấn Độ (Bandyopadhyay 2006), Turkey (Ugurlu và Aksoy 2006), Iran (Etemadi

et al 2008) và nhiều quốc gia khác nữa

Qua việc tổng quan những bài nghiên cứu, chúng tôi kết luận: sự phát triển của những nghiên cứu về phá sản doanh nghiệp được phân vào một trong ba phương pháp kĩ thuật thống kê chung sau:

- Mô hình dự báo phá sản dựa vào sổ sách kế toán

- Mô hình dự báo phá sản dựa vào nhân tố thị trường

- Mô hình dự báo phá sản dựa vào khả năng hiểu biết nhân tạo

Ba phương pháp trên được thường xuyên áp dụng bởi lượng lớn các bài nghiên cứu về sự phá sản doanh nghiệp Việc xem xét lại những nghiên cứu này sẽ được trình bày chi tiết dưới đây

3.1 Mô hình dự báo phá sản dựa vào sổ sách kế toán

Mô hình dự báo phá sản dựa vào sổ sách kế toán thì xem xét những biểu hiện trong quá khứ của công ty như là một cơ sở để dự báo về khả năng tồn tại trong tương lai

của doanh nghiệp (Xu và Zhang 2008)

Nhiều bài nghiên cứu bao gồm nhiều biến kế toán cho việc dự báo sự phá sản doanh nghiệp là Beaver (1966), Altman (1968), Ohlson (1980), Dichev (1998), Shumway (2001)…

3.1.1 Mô hình dự báo phá sản của Beaver (1996)

Trang 40

Công trình quan trọng và chủ yếu nhất trong lĩnh vực dự báo phá sản là bài nghiên

cứu của Beaver (1966) Tác giả phân tích 30 tỉ số tài chính giữa những công ty không

phá sản và công ty phá sản bao gồm :

Nhóm 1: Tỷ số dòng tiền

1 Dòng tiền trên doanh thu

2 Dòng tiền trên tổng tài sản

3 Dòng tiền trên tài sản ròng

4 Dòng tiền trên tổng nợ

Nhóm 2: Tỷ số thu nhập ròng

1 Thu nhập ròng trên doanh thu

2 Thu nhập ròng trên tổng tài sản

3 Thu nhập ròng trên tài sản ròng

cộng cổ phiếu ưu đãi trên tổng tài sản

Nhóm 4: Tỷ số tài sản lưu động trên

tổng tài sản

1 Tiền mặt trên tổng tài sản

2 Tài sản khả toán trên tổng tài sản

3 Tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản

4 Vốn lưu động trên tổng tài sản

Nhóm 5: Tỷ số tài sản lưu động trên

nợ ngắn hạn

1 Tiền mặt trên nợ ngắn hạn

2 Tài sản khả toán trên nợ ngắn hạn

3 Tỷ số hiện hành (tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn hạn)

Nhóm 6: Tỷ số vòng quay

1 Tiền mặt trên doanh thu

2 Khoản phải thu trên doanh thu

3 Hàng tồn kho trên doanh thu

4 Tài sản thanh toán trên doanh thu

5 Tài sản ngắn hạn trên doanh thu

6 Vốn lưu động trên doanh thu

7 Tài sản ròng trên doanh thu

8 Tổng tài sản trên doanh thu

9 Vòng quay tiền mặt (tiền mặt trên chi phí hoạt động)

Ngày đăng: 01/04/2014, 00:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Giả thiết vòng đời của một công ty - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Hình 2 Giả thiết vòng đời của một công ty (Trang 32)
Hình 3: Ba tỉ số tài chính xác định khủng hoảng tài chính theo Beaver (1966) - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Hình 3 Ba tỉ số tài chính xác định khủng hoảng tài chính theo Beaver (1966) (Trang 41)
Hình 4: Các phân phối biệt số - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Hình 4 Các phân phối biệt số (Trang 56)
Hình 5: Đồ thị tán xạ phân phối theo trục - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Hình 5 Đồ thị tán xạ phân phối theo trục (Trang 57)
Hình 6: Tao trục mới (k t hợp tuy n của x và y) - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Hình 6 Tao trục mới (k t hợp tuy n của x và y) (Trang 58)
Bảng 2a: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số đòn bẩy đối với  những công ty phá sản - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 2a Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số đòn bẩy đối với những công ty phá sản (Trang 63)
Bảng 3c: Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số khả năng sinh  lợi đối với những công ty không phá sản - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 3c Giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD) của tỷ số khả năng sinh lợi đối với những công ty không phá sản (Trang 67)
Bảng 4b: Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản  với không phá sản - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 4b Kiểm định giá trị trung bình (T-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản với không phá sản (Trang 69)
Bảng 5a: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với  không phá sản - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 5a Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với không phá sản (Trang 70)
Bảng 5b: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với  không phá sản - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 5b Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số đòn bẩy công ty phá sản với không phá sản (Trang 71)
Bảng 5c: Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản  với không phá sản - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 5c Kiểm định giá trị phương sai (F-test) của tỉ số thanh khoản công ty phá sản với không phá sản (Trang 72)
Bảng 6: Variables Entered/Removed a,b,c,d - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 6 Variables Entered/Removed a,b,c,d (Trang 73)
Bảng 9: Classification Results b,c - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 9 Classification Results b,c (Trang 76)
Bảng 11: Eigenvalues - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 11 Eigenvalues (Trang 79)
Bảng 12: Wilks' Lambda - Lập mô hình dự báo phá sản công ty phi tài chính việt nam
Bảng 12 Wilks' Lambda (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w