TÓM TẮT ĐỀ TÀI o Lý do chọn đề tài Sau hơn 10 năm hoạt động, TTCK Việt Nam ngày càng phát triển, việc đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán trở thành kênh đầu tư thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam vẫn còn quá non trẻ và ẩn chứa bên trong nhiều biến động, do đó việc đầu tư cũng mang lại không ít rủi ro cho các nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư mới tham gia vào thị trường hay những nhà đầu tư theo hình thức đám đông, chưa có nhiều kiến thức về lĩnh vực chứng khoán. Rủi ro khi đầu tư vào TTCK là không thể tránh khỏi. Do đó, nhà đầu tư phải cân nhắc trước khi quyết định lựa chọn mã chứng khoán vào danh mục của mình để mang lại suất sinh lợi cao với mức rủi ro chấp nhận được. Có nhiều nghiên cứu phân tích những nguyên nhân tác động đến TTCK. Những nhân tố vĩ mô như biến động của chu kỳ kinh tế trong nước cũng như thê giới, biến động của lãi suất, tỷ giá hay giá vàng, giá dầu… hay nhân tố vi mô như ảnh hưởng của thị trường, quy mô công ty, dòng tiền trên giá…Khi đầu tư vào TTCK đòi hỏi phải có kiến thức về chứng khoán, nếu không sẽ lúng túng trước những thông tin hay báo cáo của thị trường cũng như của doanh nghiệp. Càng khó khăn cho nhà đầu tư hơn khi tham khảo những dự đoán của giới chuyên môn, tổ chức tài chính danh tiếng trên thế giới khi nhận định về TTCK Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu các mô hình định giá chứng khoán từ đó cho nhà đầu tư có kiến thức sâu hơn, tầm nhìn rộng hơn về TTCK là rất quan trọng. Có nhiều tranh luận về các mô hình định giá này như: mô hình định giá tài sản vốn, mô hình 3 nhân tố của Fama- French hay mô hình 4 nhân tố của Carhart…Các mô hình này được nghiên cứu trên nhiều TTCK trên thế giới và mang lại nhiều kết quả hữu ích cho nhà đầu tư khi tham gia vào TTCK. TTCK Việt Nam biến động khá bất thường, không thể chỉ dựa vào những phỏng đoán của giới chuyên môn đặc biệt là đầu tư theo “tâm lý bầy đàn” của nước ta mà phải có cái nhìn sâu sắc hơn, nhận định rõ ràng hơn để mang lại kết quả thỏa đáng. Muốn vậy, việc xem xét các nhân tố tác động đến TSSL của chứng khoán là cần thiết và tìm ra mô hình định giá thích hợp cho TTCK Việt Nam là điều tất yếu. Nhận ra điều tất yếu đó, bài nghiên cứu này tiến hành kiểm định xem thử trong 3 mô hình trên mô hình nào là phù hợp nhất đối với TTCK Việt Nam để đưa ra lời khuyên tốt nhất cho các nhà đầu tư. o Mục tiêu nghiên cứu Nhằm tìm ra câu trả lời mô hình nào phù hợp cho TTCK Việt Nam, bài viết nghiên cứu trả lời các câu hỏi sau: Các danh mục có định giá đúng các chứng khoán hay không. TSSL các chứng khoán với nhân tố thị trường có mối quan hệ như thế nào Theo mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993) thì nhân tố quy mô và nhân tố giá trị tương quan với TSSL chứng khoán như thể nào. Nhân tố xu hướng trong mô hình của Carhart ảnh hưởng thế nào đến TSSL các chứng khoán. Trong ba mô hình định giá tài sản thì mô hình nào là phù hợp nhất để giải thích cho TSSL của các chứng khoán trên sàn Hose trong giai đoạn 2009-2012. o Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu trên 81 chứng khoán của các công ty niêm yết trên sàn Hose giai đoạn từ tháng 7/2009 đến tháng 12/2012. Xử lý số liệu thu thập trên Excel, sau đó sử dụng hồi quy OLS trong kinh tế lượng thông qua phần mềm Eviews để thể hiện mối tương quan giữa các biến trong mô hình, xem xét khả năng giải thích giữa các biến và kiểm định sự phù hợp của mô hình lần lượt thông qua các công việc Giới thiệu sơ nét các mô hình nghiên cứu Thu thập số liệu từ các nguồn và dựa vào đó ước lượng các tham số trong các mô hình Phân tích các kết quả thu được, so sánh với các nghiên cứu trước đây và kiểm định sự phù hợp của mô hình. o Nội dung nghiên cứu Kết quả kiểm định cho thấy ngoài nhân tố thị trường của mô hình CAPM, các chứng khoán trên sàn Hose còn chịu ảnh hưởng của nhân tố quy mô, nhân tố giá trị và nhân tố xu hướng. Trong 3 nhân tố trên thì nhân tố quy mô ảnh hưởng chặt chẽ hơn. Bởi trong cả 3 mô hình thì hệ số đối với nhân tố quy mô đều có ý nghĩa thống kê ở tất cả các danh mục. Giữa nhân tố quy mô và TSSL chứng khoán thể hiện mối quan hệ ngược chiều, tức là các chứng khoán có quy mô nhỏ mang lại TSSL cao hơn các chứng khoán có quy mô lớn. Phần bù giá trị cũng có ảnh hưởng đến TSSL chứng khoán theo chiều dương nhưng không chặt chẽ bằng nhân tố quy mô. Bằng chứng cho điều này là khi hồi quy theo các mô hình thì có 1 vài danh mục hệ số đối với nhân tốgiá trị không có ý nghĩa thống kê. Yếu tố xu hướng có ý nghĩa với các danh mục phân chia theo xu hướng và những danh mục các chứng khoán tăng giá có hệ số xu hướng lớn hơn danh mục chứng khoán giảm giá khi xét trong cùng nhóm quy mô. Điều này cho thấy nhà đầu tư nên mua những chứng khoán nào tăng giá và bán những chứng khoán giảm giá kỳ trước đó.
Trang 1“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2013”
TÊN CÔNG TRÌNH:
Nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán Mô hình định giá thích hợp cho thị trường chứng khoán Việt Nam
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2đó việc đầu tư cũng mang lại không ít rủi ro cho các nhà đầu tư, đặc biệt là những nhàđầu tư mới tham gia vào thị trường hay những nhà đầu tư theo hình thức đám đông,chưa có nhiều kiến thức về lĩnh vực chứng khoán.
Rủi ro khi đầu tư vào TTCK là không thể tránh khỏi Do đó, nhà đầu tư phải cân nhắctrước khi quyết định lựa chọn mã chứng khoán vào danh mục của mình để mang lạisuất sinh lợi cao với mức rủi ro chấp nhận được
Có nhiều nghiên cứu phân tích những nguyên nhân tác động đến TTCK Những nhân
tố vĩ mô như biến động của chu kỳ kinh tế trong nước cũng như thê giới, biến độngcủa lãi suất, tỷ giá hay giá vàng, giá dầu… hay nhân tố vi mô như ảnh hưởng của thịtrường, quy mô công ty, dòng tiền trên giá…Khi đầu tư vào TTCK đòi hỏi phải cókiến thức về chứng khoán, nếu không sẽ lúng túng trước những thông tin hay báo cáocủa thị trường cũng như của doanh nghiệp Càng khó khăn cho nhà đầu tư hơn khitham khảo những dự đoán của giới chuyên môn, tổ chức tài chính danh tiếng trên thếgiới khi nhận định về TTCK Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu các mô hình định giáchứng khoán từ đó cho nhà đầu tư có kiến thức sâu hơn, tầm nhìn rộng hơn về TTCK
là rất quan trọng Có nhiều tranh luận về các mô hình định giá này như: mô hình địnhgiá tài sản vốn, mô hình 3 nhân tố của Fama- French hay mô hình 4 nhân tố củaCarhart…Các mô hình này được nghiên cứu trên nhiều TTCK trên thế giới và manglại nhiều kết quả hữu ích cho nhà đầu tư khi tham gia vào TTCK
TTCK Việt Nam biến động khá bất thường, không thể chỉ dựa vào những phỏng đoáncủa giới chuyên môn đặc biệt là đầu tư theo “tâm lý bầy đàn” của nước ta mà phải cócái nhìn sâu sắc hơn, nhận định rõ ràng hơn để mang lại kết quả thỏa đáng Muốn vậy,việc xem xét các nhân tố tác động đến TSSL của chứng khoán là cần thiết và tìm ra
mô hình định giá thích hợp cho TTCK Việt Nam là điều tất yếu Nhận ra điều tất yếu
đó, bài nghiên cứu này tiến hành kiểm định xem thử trong 3 mô hình trên mô hình nào
Trang 3là phù hợp nhất đối với TTCK Việt Nam để đưa ra lời khuyên tốt nhất cho các nhàđầu tư
o Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm tìm ra câu trả lời mô hình nào phù hợp cho TTCK Việt Nam, bài viết nghiêncứu trả lời các câu hỏi sau:
Các danh mục có định giá đúng các chứng khoán hay không
TSSL các chứng khoán với nhân tố thị trường có mối quan hệ như thế nào
Theo mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993) thì nhân tố quy mô và nhân
tố giá trị tương quan với TSSL chứng khoán như thể nào
Nhân tố xu hướng trong mô hình của Carhart ảnh hưởng thế nào đến TSSL cácchứng khoán
Trong ba mô hình định giá tài sản thì mô hình nào là phù hợp nhất để giải thíchcho TSSL của các chứng khoán trên sàn Hose trong giai đoạn 2009-2012
o Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu trên 81 chứng khoán của các công ty niêm yết trên sàn Hose giai đoạn từtháng 7/2009 đến tháng 12/2012
Xử lý số liệu thu thập trên Excel, sau đó sử dụng hồi quy OLS trong kinh tế lượngthông qua phần mềm Eviews để thể hiện mối tương quan giữa các biến trong mô hình,xem xét khả năng giải thích giữa các biến và kiểm định sự phù hợp của mô hình lầnlượt thông qua các công việc
Giới thiệu sơ nét các mô hình nghiên cứu
Thu thập số liệu từ các nguồn và dựa vào đó ước lượng các tham số trong các
mô hình
Phân tích các kết quả thu được, so sánh với các nghiên cứu trước đây và kiểmđịnh sự phù hợp của mô hình
o Nội dung nghiên cứu
Kết quả kiểm định cho thấy ngoài nhân tố thị trường của mô hình CAPM, các chứngkhoán trên sàn Hose còn chịu ảnh hưởng của nhân tố quy mô, nhân tố giá trị và nhân
tố xu hướng Trong 3 nhân tố trên thì nhân tố quy mô ảnh hưởng chặt chẽ hơn Bởitrong cả 3 mô hình thì hệ số đối với nhân tố quy mô đều có ý nghĩa thống kê ở tất cảcác danh mục Giữa nhân tố quy mô và TSSL chứng khoán thể hiện mối quan hệ
Trang 4ngược chiều, tức là các chứng khoán có quy mô nhỏ mang lại TSSL cao hơn cácchứng khoán có quy mô lớn Phần bù giá trị cũng có ảnh hưởng đến TSSL chứngkhoán theo chiều dương nhưng không chặt chẽ bằng nhân tố quy mô Bằng chứng chođiều này là khi hồi quy theo các mô hình thì có 1 vài danh mục hệ số đối với nhântốgiá trị không có ý nghĩa thống kê Yếu tố xu hướng có ý nghĩa với các danh mụcphân chia theo xu hướng và những danh mục các chứng khoán tăng giá có hệ số xuhướng lớn hơn danh mục chứng khoán giảm giá khi xét trong cùng nhóm quy mô.Điều này cho thấy nhà đầu tư nên mua những chứng khoán nào tăng giá và bán nhữngchứng khoán giảm giá kỳ trước đó
Hệ số chặn của các mô hình tuy đều khác 0 nhưng không mô hình nào có hệ số chặn
có ý nghĩa thống kê Do đó, ta có thể xem hệ số chặn bằng 0, tức không có TSSL vượttrội, các mô hình định giá đúng các chứng khoán của thị trường
Khi so sánh độ phù hợp của mô hình thì mô hình 4 nhân tố có R2 hiệu chỉnh trungbình là 74% lớn hơn mô hình CAPM và Fama- French Bên cạnh đó, các giả thiết củaOLS của các danh mục trong mô hình 4 nhân tố cũng ít bị vi phạm hơn Do đó ta cóthể kết luận mô hình 4 nhân tố là phù hợp hơn Tuy nhiên, giá trị R2 hiệu chỉnh của
mô hình 4 nhân tố không lớn hơn mô hình 3 nhân tố nhiều, nên nhân tố xu hướng ở thịtrường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa thật sự phổ biến đối với các chứng khoán
o Đóng góp của đề tài
Với việc kiểm định 3 mô hình trên cùng một mẫu quan sát trong cùng khoảng thờigian, sau đó so sánh và tìm được mô hình phù hợp nhất thể hiện mối quan hệ giữaTSSL chứng khoán và các nhân tố trong các mô hình Từ đó cung cấp cho nhà đầu tưcông cụ đo lường được rủi ro, ước tính suất sinh lợi của chứng khoán và danh mục,giúp họ đưa ra quyết định đầu tư thích hợp nhất khi tham gia vào TTCK Việt Nam
o Hướng phát triển của đề tài.
TTCK Việt Nam còn non trẻ với một số đặc thù khác với các thị trường trên thế giới,
vì thế đề tài có thể được phát triển bằng việc thêm vào một số nhân tố đặc thù khácnhư tâm lý nhà đầu tư, tác động của nhà nước, pháp luật…Với khoảng thời gian dàihơn và dữ liệu đầy đủ minh bạch hơn trong tương lai nên nghiên cứu thêm một sốnhân tố khác để mô hình có sự phù hợp cao hơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
TÓM TắT: 2
1 Mục tiêu nghiên cứu 2
2 Giới thiệu: 2
3 Sơ lược thị trường chứng khoán Việt Nam 3
3.1 Tổng quan TTCK Việt Nam 3
3.2 Các giai đoạn phát triển của TTCK Việt Nam 4
4 Tổng quan tài liệu 10
5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu 11
5.1 Phương pháp nghiên cứu 12
5.2 Thu thập và xử lý dữ liệu 14
6 Kết quả 17
6.1 Thống kê mô tả 17
6.2 Kết quả hồi quy 18
6.2.1 Kiểm định với mô hình CAPM 18
6.2.1.1 Mô hình 18
6.2.1.2 Ước lượng mô hình 19
6.2.1.3 Kiểm định giả thiết của OLS 20
Giả thiết đối với các hệ số hồi quy 20
Kiểm định phương sai thuần nhất của các phần dư (U i ) 20
Kiểm định tự tương quan giữa các phần dư 21
Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy 21
6.2.2 Kiểm định mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993) 22
6.2.2.1 Mô hình 22
6.2.2.2 Ước lượng mô hình 23
Giả thiết đối với các hệ số hồi quy 25
Kiểm định phương sai thuần nhất của các phần dư (U i ) 26
Trang 6 Kiểm định tự tương quan giữa các phần dư 27
Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 27
Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy 28
6.2.3 Kiểm định mô hình 4 nhân tố của Carhart (1997) 30
6.2.3.1 Mô hình 30
6.2.3.2 Ước lượng mô hình 31
6.2.3.3 Kiểm định các giả thiết của OLS 32
Giả thiết đối với các hệ số hồi quy 32
Kiểm định phương sai thuần nhất của các phần dư (U i ) 34
Kiểm định tự tương quan giữa các phần dư 36
Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 37
Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy 38
7 Kết luận và kiến nghị 39
7.1 Kết luận 39
7.2 Kiến nghị cho nhà đầu tư
41 PHỤ LỤC I Phụ lục 1: Danh sách 81 mã chứng khoán i
Phụ lục 2: Kiểm định phân phối chuẩn chuỗi TSSL ii
Phụ lục 3: Thống kê mô tả các danh mục iii
Phụ lục 4: Các kết quả kiểm định đối với mô hình CAPM iii
Phụ lục 4.1: Kiểm định tính dừng đối với biến độc lập iii
Phụ lục 4.2: Ước lượng kết quả hồi quy của các danh mục iii
Phụ lục 4.3: Kiểm định phương sai thuần nhất iv
Phụ lục 4.4: Kiểm định tự tương quan iv
Phụ lục 5: Các kết quả kiểm định đối với mô hình 3 nhân tố của Fama- French v
Phụ lục 5.1: Kiểm định tính dừng đối với biến độc lập v
Phụ lục 5.2: Ước lượng kết quả hồi quy đối với các danh mục vi
Phụ lục 5.3: Kiểm định Wald đối với nhân tố HML trong danh mục SG vi
Trang 7Phụ lục 5.4: Kiểm định phương sai thuần nhất vi
Phụ lục 5.5: Kiểm định tự tương quan vii
Phụ lục 5.6: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến viii
Phụ lục 5.7: Hồi quy các danh mục theo mô hình nhỏ ix
Phụ lục 6: Kết quả kiểm định đối với mô hình 4 nhân tố của Carhart xiv
Phụ lục 6.1: Kiểm định tính dừng đối với biến độc lập xiv
Phụ lục 6.2: Ước lượng kết quả hồi quy đối với các danh mục xiv
Phụ lục 6.3: Kiểm định Wald đối với nhân tố HML trong các danh mục xvi
Phụ lục 6.4: Kiểm định phương sai thuần nhất xvi
Phụ lục 6.5: Kiểm định tự tương quan xviii
Phụ lục 6.6: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến xix
TÀI LIỆU THAM KHẢO XXI
Trang 8Các từ viết tắt trong bài
TTCK: Thị trường chứng khoán
TTSL: Tỷ suất sinh lợi
B/M: Tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trườngTTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán SGDCK: Sở giao dịch chứng khoán
CP&CCQ: Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Sau gần 12 năm hoạt động, từ 2 cổ phiếu khi mới thành lập vào ngày cho đến nay làhơn 750 mã cổ phiếu hoạt động mạnh mẽ trên cả 2 sàn Hà Nội và Hồ Chí Minh TTCKViệt Nam đã có nhiều phát triển vượt bậc nhưng cũng có nhiều giai đoạn thăng trầm.Tuy nhiên, so với các TTCK khác trên thế giới thì TTCK Việt Nam vẫn là một thịtrường còn non trẻ, ẩn chứa bên trong nhiều biến động và rủi ro khi đầu tư vào đây.Điều đó thể hiện rõ qua sự biến động của các chỉ số thị trường qua các giai đoạn
Có nhiều mô hình nghiên cứu sự ảnh hưởng của TTCK Việt Nam trên thế giới như môhình định giá tài sản vốn CAPM, mô hình 3 nhân tố của Fama- French, mô hình 4nhân tố của Carhart …của nhiều tác giả.Vì thế nghiên cứu phân tích sự tác động củaTTCK là cần thiết đối với TTCK Việt Nam nhằm tìm ra mô hình phù hợp giúp nhàđầu tư có cái nhìn đúng đắn khi tham gia vào thị trường cũng như giảm thiếu được rủi
ro khi đầu tư Với lý do đó, bài nghiên cứu xem xét sự tác động của một số nhân tố vi
mô đến TSSL TTCK Việt Nam với tiêu đề: “Nhân tố ảnh hưởng đển tỷ suất sinh lợichứng khoán Mô hình định giá thích hợp cho thị trường chứng khoán Việt Nam”
Trang 10Tóm tắt:
Bài viết cho thấy TSSL của các chứng khoán trên sàn Hose trong giai đoạn 2009-2012
có mối quan hệ với nhân tố thị trường, phần bù quy mô, phần bù giá trị và xu hướng.Trong các yếu tố tác động đến TSSL thì nhân tố thị trường đóng vai trò mạnh hơn cả.Khi thêm 2 nhân tố quy mô và giá trị vào thì giá trị R2 hiệu chỉnh cao hơn cho thấy sựgiải thích của TSSL còn chịu ảnh hưởng của quy mô và giá trị Nhân tố quy mô công
ty có mối quan hệ ngược chiều với TSSL trong khi đó nhân tố giá trị lại có mối quan
hệ cùng chiều Tức là, trong cùng một nhóm B/M thì các công ty có quy mô nhỏ cóTSSL tốt hơn các công ty có quy mô lớn Sự cùng chiều của nhân tố giá trị thể hiện ởchỗ, trong cùng một nhóm quy mô, công ty nào có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thịtrường (B/M) cao hơn thì mang lại TSSL lớn hơn Các chứng khoán trong giai đoạnnày có thể hiện tính xu hướng nhưng cũng không đáng kể
1 Mục tiêu nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu trả lời các câu hỏi sau:
Các danh mục có định giá đúng các chứng khoán hay không
TSSL các chứng khoán với nhân tố thị trường có mối quan hệ như thế nào
Theo mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993) thì nhân tố quy mô và nhân
tố giá trị tương quan với TSSL chứng khoán như thể nào
Nhân tố xu hướng trong mô hình của Carhart ảnh hưởng thế nào đến TSSL cácchứng khoán
Trong ba mô hình định giá tài sản thì mô hình nào là phù hợp nhất để giải thíchcho TSSL của các chứng khoán trên sàn Hose trong giai đoạn 2009-2012
2 Giới thiệu:
Bài viết nghiên cứu xem thử ở thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là các chứngkhoán trên sàn Hose trong giai đoạn 2009-2012 có TSSL phụ thuộc vào những nhân
tố nào thông qua 3 mô hình định giá tài sản được nhiều tác giả sử dụng để kiểm chứng
ở nhiều thị trường chứng khoán khác nhau
Banz (1981) nghiên cứu thấy rằng các cổ phiếu có vốn hóa thị trường thấp hơn (các cổphiếu nhỏ) thường có xu hướng có TSSL trung bình cao hơn các cổ phiếu có vốn hóathị trường lớn (cổ phiếu lớn) Cũng có bằng chứng cho rằng các cổ phiếu giá trị, là các
Trang 11cổ phiếu có các tỷ lệ cơ bản như giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (B/M), thu nhậptrên giá (E/P) hoặc dòng tiền trên giá (C/P) cao có TSSL trung bình lớn hơn các cổphiếu tăng trưởng, là các cổ phiếu có các tỷ lệ cơ bản trên thấp (DeBondt và Thaler,1985; Fama- French , năm 1992; Lakonishok, Shleifer và Vishny, 1994) Jegadeesh vàTitman (1993) tìm thấy rằng TSSL chứng khoán ở Mỹ có thể hiện tính xu hướng (đàtăng trưởng), tức là các cổ phiếu có TSSL tốt thời kỳ trước đó thì có xu hướng tiếp tụctốt Phần bù giá trị (thể hiện TSSL của các cổ phiếu giá trị cao hơn cổ phiếu tăngtrưởng) và tính xu hướng cũng được tìm thấy trong TSSL chứng khoán quốc tế (Chan,Hamao, và Lakonishok, 1991; Fama và French, năm 1998; Rouwenhorst năm 1998;Griffin, Ji, và Martin, 2003; Asness, Moskowitz, và Pedersen, 2009; Chui, Titman, vàWei, 2010).
Để kiểm định tại thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả tiếp cận các mô hình hồiquy được nghiên cứu tại nhiều thị trường khác nhau Thứ nhất là mô hình định giá tàisản vốn thuần túy CAPM của Sharpe (1 964) Lintner (1 965) Tiếp đến là mô hình 3nhân tố của Fama- French (1993) và cuối cùng là mô hình 4 nhân tố của Carhart(1997)
3 Sơ lược thị trường chứng khoán Việt Nam
3.1 Tổng quan TTCK Việt Nam.
Ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán
và TTCK chính thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt Nam rađời Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịchChứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCK Việt Namthực ra đã do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/CP ngày28-11-1996
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thànhlập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vàohoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000 với 2 loại cổphiếu là REE và SAM Đến ngày 8/8/2007 TTGDCK TP.HCM được đổi thành
Sở giao dịch chứng khoán TP HCM Tính đến cuối tháng 3/2013, có 307 loại cổphiếu, 5 chứng chỉ quỹ và 39 trái phiếu được niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Trang 12Tổng khối lượng niêm yết là 23.157.211,12 ngàn chứng khoán với giá trị236.487.125,54 triệu đồng
TTGDCK Hà Nội đã chính thức chào đời vào ngày 8/3/2005 Khác vớiTTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao dịch chứng khoán của các công
ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (vớivốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng) Số lượng cổ phiếu hiện tại khoảng 400 mã cổphiếu
Bên cạnh 2 thị trường tập trung trên, TTCK Việt Nam còn một thị trường nữa làthị trường phi tập trung (OTC)
3.2 Các giai đoạn phát triển của TTCK Việt Nam
Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của TTCK
Từ năm 2000 cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái ảm đạm, loại trừ cơn sốtvào năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưngchỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đãmất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001 Trong 5 năm đầu tiên, dường nhưthị trường không thực sự thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng và cácdiễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnhhưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân
Ta có thể nhận định rõ được điều đó thông qua bảng số liệu sau:
2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so với năm 2004, huy
Trang 13động được 44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần1%.
Giai đoạn 2006: Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam.
Năm 2006 là năm phát triển “đột phá” của TTCK Việt Nam Với mức tăng trưởng đạttới 60% từ đầu đến giữa năm 2006, khối lượng vốn hóa tăng gấp 15 lần trong vòng 1năm, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng thu hút các nhà đầu tư trong vàngoài nước
Trong năm này, chỉ số Vn-Index tại sàn giao dịch TP Hồ Chí Minh (HoSE) đạt kỷ lục
ở mốc 809,86 điểm Tính chung, so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức tăngtrưởng tới 146% Tính đến phiên 29/12/2006, TTGDCK TP.HCM đã có sự góp mặtcủa 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêm yết theomệnh giá là trên 72 nghìn tỷ đồng
Tại trung tâm giao dịch Hà nội, chỉ số HNX-Index tăng từ 95 điểm vào cuối năm 2005lên 258 điểm, tăng 2.7 lần trong năm 2006 Số lượng công ty giao dịch trên sàn HàNội cũng tăng từ 6 cổ phiếu lên 87 cổ phiếu và 91 trái phiếu vào cuối năm với tổngmức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng
Xét riêng về mức vốn hoá cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức ViệtNam với 193 cổ phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tương đươngvới 13,8 tỷ USD
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bùng nổ của TTCK Việt Nam năm 2006 xuất phát từcác sự kiện kinh tế chính trị quan trọng Trong đó nguyên nhân có tác động sâu sắc vàlâu dài là sự kiện Việt Nam chính thức được gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 14(WTO) cũng như sự kiện tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC Cả hai sự kiệnnày đã và đang tiếp tục tạo được ấn tượng tốt đối với các nhà đầu tư nước ngoài và đó
là tín hiệu cho những làn sóng đầu tư trực tiếp và cả gián tiếp hứa hẹn sẽ đổ vào ViệtNam
Giai đoạn 2007: TTCK bùng nổ mạnh mẽ
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trườngphát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế Tínhcông khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường
VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm HNX-Index chạm mốc 459,36 điểm
Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch
có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao dịch đều có biên độ giao động mạnh Kếtthúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, với tổng khối lượng giaodịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tương đương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trườngđạt 224.000 tỷ đồng HNX-Index dừng ở mức 323,55 điểm với tổng khối lượng giaodịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương với tổng giá trị giaodịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng Như vậy sau 1 năm hoạt động VNIndex đạtđược mức tăng trưởng là 23,3%; HNX-Index tăng 33,2% so với mức điểm thiết lậpvào cuối năm 2006
Giai đoạn 2008: Cùng trong xu thế chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh.
Trang 15Những điểm nổi bật của thị trường: Index giảm điểm, thị giá các loại cổ phiếu sụtgiảm mạnh (nhiều mã CP rơi xuống dưới mệnh giá), tính thanh khoản kém, sự thoáivốn của khối ngoại, sự can thiệp của các cơ quan điều hành và sự ảm đạm trong tâm lýcác NĐT.
Khởi đầu năm tại mức điểm 921.07, VNIndex đã mất đi gần 60% giá trị và trở thànhmột trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửa đầu năm2008
Sau 103 phiên giao dịch, VNIndex giảm mất 550.52 điểm- tương đương 59,77% Bìnhquân trong mỗi phiên, toàn thị trường có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng,tương đương khoảng 482 tỷ đồng Giai đoạn từ tháng 6 tới đầu tháng 9, thị trườngphục hồi trong ngắn hạn, VNIndex và HNX-Index liên tiếp vượt qua các ngưỡng cảntâm lý quan trọng và thường xuyên có được những chuỗi tăng điểm kéo dài Đây cũng
là giai đoạn thị trường hoạt động sôi động nhất Sức cầu mạnh, kéo theo khối lượnggiao dịch và giá trị giao dịch thường xuyên ở mức cao VNIndex tăng được 168,55điểm, tương đương 45,52% Khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu CP&CCQ,tương đương 599,18 tỷ đồng/phiên Tuy nhiên, đến 3 tháng cuối năm, TTCK trở lại xuhướng giảm do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu Hòa cùng xu thế giảmđiểm của TTCK các nước, 02 chỉ số chứng khoán tại sàn HoSE và HNX liên tiếp giảmđiểm Trong 86 phiên giao dịch tại HoSE, 49 phiên VNIndex mất điểm Kết thúc giaiđoạn này, VNIndex giảm mất 239,52 điểm, tương đương 43,15%
Năm 2009
Trang 16Năm 2009, dù kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng là một năm đánh dấu bước phát triểnmạnh mẽ của TTCK Việt Nam Cả hai chỉ số VN-Index và HNX-Index đã phục hồimạnh trên 50% Số lượng công ty mới niêm yết tăng vọt, trong đó nhiều doanh nghiệplớn được niêm yết trên sàn Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chuyển đổithành sở giao dịch chứng khoán Thành lập thêm sàn UPCoM cho những công ty đạichúng đăng ký giao dịch Trên sàn HoSE, chỉ số VN-Index đã tăng 57% trong năm
2009, từ mức 315.62 điểm vào ngày 31/12/08 lên mức 494.77 điểm vào ngày31/12/09 So với mức đáy 235.5 điểm được thiết lập ngày 24/02, VN-Index đã tăng110%
Năm 2010-2012
Năm 2010: TTCK diễn biến khó khăn và hầu hết các cổ phiếu đều giảm giá Index đóng cửa 484,66 điểm, giảm 2%; HNX-Index đóng cửa 114,24 điểm, giảm32,3% so với đầu năm Nửa đầu năm 2010, thị trường dao động với biên độ hẹp,nguyên nhân chủ yếu là do tâm lý thận trọng của nhà đầu tư và sự khan hiếm của dòngtiền Trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 8 thị trường lao dốc với sự giảm điểm chạmmốc của hai chỉ số ở hai sàn chứng khoán Từ cuối tháng 8, nền kinh tế trở nên bất ổn,chính sách tiền tệ thay đổi đột ngột nhằm kiềm chế lạm phát cùng với cuộc đua lãisuất của các ngân hàng Tuy nhiên thị trường chứng khoán bắt đầu phục hồi từ cuốitháng 11 Hoạt động huy động vốn vẫn diễn ra mạnh mẽ Đây cũng là năm diễn ramạnh mẽ vấn đề thao túng, làm giá chứng khoán, hoạt động mua bán và sáp nhậpcũng tăng lên về số lượng và lần đầu tiên hành vi thao túng giá cổ phiếu bị truy tốhình sự
VN-Năm 2011: Một năm đầy sóng gió trên TTCK Việt Nam
Trong hai quý đầu của năm 2011, bất ổn từ phía kinh tế vĩ mô trong nước dần bộc lộ,đặc biệt là bắt đầu từ lúc tỷ giá điều chỉnh tăng thêm 9,3% và lạm phát tăng mạnhtrong tháng 2, thì cũng là lúc xu hướng giảm điểm chiếm ưu thế trên thị trường Bướcsang quý III, đây là quý có thể xem như khởi sắc nhất của thị trường chứng khoántrong năm 2011 với một đợt tăng điểm khá dài của thị trường chứng khoán kéo dàikhoảng 1 tháng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9 Mặc dù vậy trước khi quý III/2011khép lại, từ khoảng giữa tháng 9 trở đi, TTCK Việt Nam đã phải chịu tác động tiêucực từ cả yếu tố trong nước, như những vấn đề nảy sinh sau khi hạ lãi suất mà đặc biệt
Trang 17là vấn đề tỷ giá, lẫn yếu tố thế giới, như diễn biến xấu trong việc giải quyết vấn đề nợcông ở Châu Âu mà kéo theo đó là triển vọng yếu kém của nền kinh tế toàn cầu Kếtquả là từ cuối quý III đến hết quý IV/2011, thị trường chứng khoán cứ ảm đạm dầnqua từng phiên với xu hướng giảm điểm là chủ đạo, không có đợt hồi phục nào đủ dàiđược ghi nhận Chốt phiên ngày 30/12/2011, VN Index và HNX Index lần lượt đóngcửa ở 351,55 và 58,74 điểm, như vậy so với đầu năm 2011 sàn Hồ Chí Minh đã giảmmạnh 27,46% còn sàn Hà Nội thì lao dốc đến hơn 48% Không chỉ chịu áp lực giảm
về mặt điểm số, diễn biến giao dịch trên thị trường càng ngày càng theo hướng trầmlắng và ảm đạm hơn, thể hiện qua sự khô kiệt của tính thanh khoản, so với con số củanăm 2010 thì giá trị trung bình mỗi phiên giao dịch của mỗi sàn đều sụt giảm mạnhđến xấp xỉ 60%.
Năm 2012: Đây cũng là năm khá ấn tượng của TTCK Việt Nam 5 tháng đầu năm thịtrường bứt phá sau một khoảng dài giảm điểm của năm 2011, VN-Index tăng gần40%, HNX-Index tăng 44% Tuy nhiên, nửa cuối năm 2012 lại xảy ra nhiều sự kiệnkhiến TTCK trở nên đảo chiều Nợ xấu ngân hàng lúc này tăng cao, điều này khiếncác doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận dòng vốn vay mặc dù lãi suất giảm
mạnh Điều này khiến các hàng loạt doanh nghiệp điêu đứng, hoạt động bị ngưng trệ
do không có vốn, nhiều công ty chứng khoán thua lỗ Trong số các công ty chứngkhoán hoạt động thì có trên 50% bị lỗ Bên cạnh đó hàng loạt ông chủ ngân hàng bị
Trang 18bắt, bị điều tra khiến cổ phiếu các ngân hàng lớn giảm mạnh, niềm tin đối với TTCK
bị hoang mang Tất cả những nguyên nhân trên khiến cho HNX-Index giảm mức lịch
sử từ khi ra đời đến nay, chỉ còn 50,33 điểm, giảm 36%; VN- Index giảm 20%
4 Tổng quan tài liệu
Một số nghiên cứu trước đây nói về mô hình 3 nhân tố của Fama- French và mô hình
4 nhân tố của Carhart
Tests of the CAPM and Fama and French three-factor model - Nima Billou(2004):
Bài nghiên cứu này so sánh và kiểm tra tính hiệu quả của hai mô hình định giá tài sản
là mô hình định giá tài sản vốn của Sharpe (1 964) Lintner (1 965) và mô hình 3 nhân
tố của Fama- French 1993 của 12 ngành công nghiệp tại thị trường chứng khoán Mỹ.Tính hiệu quả được so sánh giữa các alpha, giá trị tuyết đối trung bình của các hệ sốchặn và thống kê F của 2 mô hình Ban đầu Billou so sánh tính hiệu quả trong khoảnghời gian nghiên cứu từ 7/1963 đến tháng 12/2003 Sau đó, nhằm khẳng định kết quảcủa mình ông mở rông thời kỳ quan sát ra từ tháng 7/1926 đến tháng 12/2003 Với cảhai khoảng thời gian trên thì kết quả R2 của mô hình 3 nhân tố của Fama- French đềucho giá trị lớn hơn R2 của mô hình CAPM Ông kết luận rằng mô hình 3 nhân tố củaFama- French phù hợp hơn để ngiải thích TSSL chứng khoán
Banz, R W., 1981 The relationship between return and market value of commonstocks Journal of Financial Economics 9, 3–18
Nghiên cứu này xem xét các mối quan hệ giữa tssl và giá trị thị trường của các cổphiếu phổ thông trên NYSE Bài viết tìm thấy rằng trung bình các công ty nhỏ hơn cótssl cao hơn các công ty lớn Hiệu ứng quy mô này đã tồn tại hơn bốn mươi năm Hiệuứng quy mô này không có mối quan hệ tuyến tính với giá trị thị trường, hiệu quả nàychỉ xảy ra đối với các công ty rất nhỏ trong khi có rất ít sự khác nhau trong tssl giữacác doanh nghiệp kích có quy mô trung bình và lớn
Fama and French Factors in Australia - Michael A O'Brien 2007
Bài nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của nhân tố quy mô và giá trị sổ sách trên giá thịtrường và khả năng giải thích của mô hình Fama- French đến TSSL chứng khoán Úc
Trang 19Trong bài này, tác giả nghiên cứu dữ liệu của 98% các doanh nghiệp niêm yết trên thịtrường chứng khoán Úc giai đoạn 1981 đến 2005.
Kết quả của tác giả cho thấy rằng sự giải thích mạnh hơn của mô hình Fama- French
so với mô hình CAPM, trong khi các bài nghiên cứu trước đó chưa tìm thấy sự khácbiệt này Tác giả tìm thấy mối quan hệ phi tuyến giữa TSSL và nhân tố quy mô, trongkhi đó mối quan hệ với nhân tố giá trị là quan hệ tuyến tính Kết quả chỉ ra rằng cómột lượng lớn phần bù giá trị ở Úc, khoảng thu nhập trung bình là 0.959% mỗi tháng,lớn hơn so với ở Mỹ là 0.462% mỗi tháng Ngược lại, nhân tố quy mô, SMB, có TSSLtrung bình hàng tháng là -0.486% Mức độ giải thích của mô hình Fama- French caohơn mô hình CAPM Tóm lại, bài nghiên cứu cho thấy mô hình Fama- French cungcấp một bước tiến xa hơn so với mô hình CAPM
Size and value premium in Pakistani equity market- Arshad Hassan vàMuhammad Tariq Javed, 2011
Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa phần bù quy mô, phần bù giá trị và tssl vốn
cổ phần trong thị trường vốn Pakistan trong thời kì 6/1998-6/2007 sử dụng giá cổphiếu hàng tháng bằng cách sử dụng mô hình 3 nhân tố của Fama- French Đây lànghiên cứu đầu tiên ở Pakistan khám phá mối quan hệ giữa các biến đã nêu bằng cách
sử dụng một mẫu lớn hơn 250 cổ phiếu niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi Phântích kết quả cho thấy quy mô và tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường có mối quan hệvới thị trường Nhân tố quy mô được tìm thấy có mối tương quan dương với TSSLcủa các danh mục với mức tin cậy 95% Nhân tố giá trị sổ sách trên giá trị thi trườngcũng có mối tương quan cùng chiều với TSSL chứng khoán ngoại trừ danh mục chứngkhoán có B/M thấp Các chứng khoán có B/M cao thể hiện TSSL cao hơn các chứngkhoán có B/M thấp Mô hình CAPM truyền thống cho rằng nhân tố thị trường là nhân
tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến TSSL các chứng khoán trong danh mục Tuy nhiên,khả năng giải thích của mô hình 3 nhân tố của Fama- French nhiều hơn mô hìnhCAPM, cụ thể trong bài này là, khả năng giải thích của mô hình của Fama- French từ63-82%, trong khi đó của mô hình CAPM là 24-66%
5 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Trang 20Nhằm kiểm định xem thử thị trường chứng khoán Việt Nam mà cụ thể trong là cácchứng khoán được niêm yết trên sàn Hose bài nghiên cứu này, nghiên cứu này tậptrung thực hiện các công việc sau:
i) Giới thiệu vài nét về các mô hình định giá tài sản và kết quả nghiên cứu của
các tác giả
ii) Các phương pháp nghiên cứu bao gồm: các biến trong mô hình, việc thu
thập dữ liệu và các phương pháp sử dụng đối với dữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng lý thuyết của mô hình định giá tài sản CAPM, mô hình 3 nhân tố củaFama- French và mô hình bốn nhân tố của Carhart để giải thích thị trường chứngkhoán Việt Nam
Mô hình định giá tài sản vốn CAPM
Sharpe(1964), Lintner(1965) và Black(1972) đã nghiên cứu và thể hiện mối tươngquan giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán vào thập niên 1960 Mô hìnhnày cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán
và beta chứng khoán qua phương trình
Trong mô hình trên, TSSL chứng khoán bằng TSSL tài sản phi rủi ro cộng với khoản
bù đắp rủi ro của chứng khoán Rủi ro của chứng khoán thể hiện thông qua hệ số β
Hệ số β càng cao thể hiện khả năng chứng khoán mang lại suất sinh lợi càng caonhưng cũng vì thế mà chứa đựng nhiều rủi ro hơn
Đây là mô hình cơ bản, tiền đề cho các mô hình sau
Mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993)
Fama- French (1993) đề xuất một mô hình gồm 3 nhân tố để thể hiện mối tương quantrong tỷ suất sinh lợi trung bình các chứng khoán của Mỹ với nhân tố quy mô và giátrị Nghiên cứu của hai ông cho thấy rằng ngoài nhân tố thị trường trong mô hìnhCAPM, nhân tố quy mô (ME) và nhân tố giá trị(BE/ME) có sức giải thích tốt TSSL
Trang 21trung bình của các chứng khoán trên thị trường chứng khoán Mỹ giai đoạn
1963-1990 Fama- French đã dùng hồi quy theo dãy số thời gian của Black, Jensen vàScholes (1972), với mô hình sau:
Ri(t)-RF(t)=αi + βi[RM(t)-RF(t)] + si*SMB(t) + hi*HML(t) + ei(t)Trong đó,
αi là hệ số chặn của mô hình
Ri(t) là TSSL của tài sản i trong tháng t,
RF(t) là lãi suất phi rủi ro,
RM(t): TSSL của thị trường,
SMB(t) (Small cap minus Big): phần bù quy mô SMB là bình quân TSSL hàng thángcủa danh mục cổ phiếu có vốn hóa thị trường nhỏ trừ cho danh mục cổ phiếu có vốnhóa thị trường lớn
HML(t) (High minus Low): phần bù giá trị HML là bình quân TSSL hàng tháng củadanh mục cổ phiếu có tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường (B/M) cao trừ cho danhmục cổ phiếu có B/M thấp
βi, si, hi là các biến phản ánh độ nhạy của các nhân tố βi còn được gọi là beta chứngkhoán 3 nhân tố (để phân biệt với chứng khoán trong mô hình CAPM)
α là hệ số chặn của mô hình
ei(t) là sai số ngẫu nhiên của mô hình
Kết quả của mô hình cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô và TSSL trungbình và mối tương quan cùng chiều mạnh hơn của B/M với TSSL trung bình hay nóicách khác là B/M giải thích TSSL chứng khoán mạnh mẽ hơn so với nhân tố quy mô.Với cùng 1 nhóm danh mục con B/M ( ngoại trừ nhóm danh mục có B/M thấp nhất),TSSL giảm khi quy mô tăng, điều này có nghĩa là hệ số của SMB dương Và với cùngmột nhóm danh mục con theo quy mô, TSSL trung bình có xu hướng tăng cùng vớiB/M, nghĩa là hệ số HML cũng dương
Fama- French giải thích hệ số của SMB dương là do những doanh nghiệp có quy mônhỏ thường mang nhiều rủi ro cao, hoạt động kém hiệu quả hơn, chi phí đại diệm caohơn, do đó nhà đầu tư đỏi hỏi một phần bù rủi ro cao hơn Và những công ty có B/Mcao thường rơi vào kiệt quệ tài chính nhiều hơn, gây rủi roc ho nhà đầu tư, do đó, nhàđầu tư cũng phải nhận được phần bù giá trị dương
Trang 22 Mô hình 4 nhân tố của Carhart
Từ mô hình 3 nhân tố của Fama- French, Carhart phát triển thành mô hình 4 nhân tốsau khi thêm vào mô hình nhân tố đà tăng trưởng (xu hướng) theo phương trình:
Ri(t)-RF(t)=αi + βi[RM(t)-RF(t)] + siSMB(t) + hiHML(t) + wiWML(t) + ei(t)Ngoài 3 nhân tố trong mô hình Fama- French, Carhart thêm vào mô hình nhân tố xuhướng (đà tăng trưởng), WML(t), đó là TSSL bình quân của những chứng khoán caogiá trừ đi những chứng khoán giảm giá trong một giai đoạn trước đó
Kết quả của Carhart cho rằng nhà đầu tư nên mua những chứng khoán đã có TSSL caotrong quá khứ và bán những chứng khoán có TSSL thấp
Cả 3 mô hình trên đều dùng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS để hồi quy đưa
ra kết quả Để kết quả có ý nghĩa thì sau khi hồi quy OLS xong ta phải kiểm định lạicác giả thuyết của các phương trình Các giả thuyết đó là: kiểm định phân phối chuẩn,kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu, kiểm định đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tưtương quan,….Các giả thuyết trên sẽ được kiểm định ở phần sau
5.2 Thu thập và xử lý dữ liệu
Thu thập dữ liệu
Dữ liệu cần cho cả ba mô hình là TSSL của các chứng khoán, TSSL của tài sản phi rủi
ro, TSSL thị trường, giá trị thị trường vốn chủ sỡ hữu, giá trị sổ sách vốn chủ sỡ hữu.Phạm vi của bài nghiên cứu gồm 81 cứng khoán được niêm yết trên Sàn giao dịchchứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Hose) Thời gian mẫu là tháng 7 năm 2009đến tháng 12 năm 2012 (2009-2012)
TSSL chứng khoán và TSSL thị trường
TSSL thị trường là được lấy là chỉ số Index Giá chứng khoán và chỉ số Index được lấy từ cơ sở dữ liệu hàng ngày trên trang www.cophi eu68.com và làgiá đóng cửa cuối tuần Giá này đã được so sánh với các nguồn khác và không thấy sựsai lệch nào
VN- TSSL tài sản phi rủi ro (Rf)
Lãi suất phi rủi ro trong bài nghiên cứu được lấy là lãi suất của trái phiếu chính phủ
kỳ hạn 5 năm do Kho bạc nhà nước phát hành, dữ liệu lấy trên trang web của Bộ tàichính Lãi suất này là lãi suất trúng thầu của các đợt phát hành trái phiếu do Kho bạc
Trang 23 Xử lý dữ liệu
TSSL chứng khoán và TSSL thị trường
Từ giá đóng cửa cuối tuần, ta tính TSSL tuần cho các chứng khoán Bài nghiên cứuchọn tuần để tính toán vì TTCK VN niêm yết chưa được bao lâu nên việc thu thập dữliệu theo tháng hay theo năm là không đủ Ở đây không chọn theo ngày vì sẽ bị ảnhhưởng bởi biên độ dao động Do đó, bài nghiên cứu chọn tính TSSL theo tuần Vớithời kỳ mẫu gần 4 năm, có tất cả 180 tuần vì có một số tuần không giao dịch do lễ, tết
Để thuận lợi cho việc tính toán, TSSL được tính ở đây bỏ qua việc tính cổ tức TSSLtuần các chứng khoán và TSSL thị trường được tính theo công thức sau:
TSSL tài sản phi rủi ro
Để đơn giản hóa việc tính toán, ta tính lãi suất phi rủi ro trung bình từng năm vì lãisuất này cũng không biến động nhiều trong thời gian lấy mẫu Lãi suất phi rủi ro trungbình hằng năm và được tính theo tuần thể hiện trong bảng sau:
Năm Lãi suất trung bình(%/năm) Lãi suất trung bình(%/tuần)
Trang 24Các nhân tố trong các mô hình 3 nhân tố của Fama- French và mô hình 4 nhân tố củaCarhart
Phần bù quy mô (SMB) và phần bù giá trị (HML)
Quy mô (giá trị thị trường-ME) công ty được tính bằng giá cổ phiếu đóng cửa nhânvới số cổ phiếu đang lưu hành ở ngày hiện tại Số cổ phiếu đang lưu hành đã trừ đi cổphần ưu đãi Giá trị sổ sách(BM) ở đây theo Fama- French(1993)là giá trị sổ sách củavốn chủ sỡ hữu cộng với thuế thu nhập hoãn lại trên Bảng cân đối kế toán trừ đi giá trị
sổ sách cổ phần ưu đãi Giá trị thị trường và giá trị sổ sách tính trên cổ phần thường vì
cổ phần ưu đãi không cho người nắm giữ quyền quản lý công ty Theo Fama- Frenchnăm 1993 các chứng khoán được sắp xếp theo quy mô và chia thành 2 nhóm theo tỷ lệ50%-50%, nếu quy mô công ty nào nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn hóa trung bình củatoàn thị trường thì được xếp vào nhóm quy mô nhỏ (Small) và ngược lại được xếp vàonhóm quy mô lớn (Big) Yếu tố B/M được sắp xếp tăng dần và chia thành 3 nhóm là
G (Growth), N (Neutral), và V (Value) tương ứng với tăng trưởng, trung bình và giátrị Điểm gãy để phân chia của nhân tố này là phân vị thứ 30 và phân vị thứ 70 Vớiviệc phân chia như vậy, các chứng khoán được phân thành 6 danh mục: SG, SN, SV,
BG, BN, BV Ví dụ, danh mục SG bao gồm những chứng khoán của công ty có quy
mô nhỏ và có tỷ lệ B/M thấp Vì giá cổ phiếu thay đổi hàng ngày nên dẫn đến giá trịthị trường của các công ty cũng thay đổi hàng ngày, tuy nhiên để tiết kiệm thời gian,tác giả phân loại chứng khoán theo quy mô và B/M mỗi 6 tháng, và cứ sau 6 tháng lạiphân loại lại Với mẫu quan sát trong thời kì 2009-2012 thì có 7 lần tái tạo các danhmục, kì tính toán đầu tiên là quý 4 năm 2009 TSSL tuần của các danh mục được tínhbằng tổng TSSL của mỗi chứng khoán nhân với tỷ trọng của chứng khoán trong danhmục theo quy mô
Nhân tố SMB được tính bằng TSSL bình quân của 3 danh mục có quy mô nhỏ trừ choTSSL bình quân của 3 danh mục quy mô lớn
SMB S G S N S V 3 G B B N 3 B V
Nhân tố HML được tính bằng TSSL bình quân của 2 danh mục có B/M cao trừ choTSSL bình quân của 2 danh mục có B/M thấp
HML S V BV2 S G BG2
Trang 25 Nhân tố xu hướng (đà tăng trưởng) - WML
Các điểm gãy của nhân tố xu hướng được xây dựng tương tự như nhân tố HML, lầnlượt là các phân vị 30 và 70 và chia thành 3 nhóm là L (Losers), N (Neutral), W(Winners) tương ứng với các nhóm chứng khoán có TSSL giảm giá, bình thường vàtăng giá của thời kỳ trước Nhân tố xu hướng cũng được tái tạo 6 tháng 1 lần Vì vậy,
để xây dựng được nhân tố xu hướng của kỳ đầu tiên (12/2009) thì ta phải thu thậpthêm giá chứng khoán của 1 kỳ trước đó Cách phân loại như sau, với TSSL của kìtrước (đầu năm 2009 đến quý 2 năm 2009), nếu chứng khoán nào tăng giá mạnh(thuộc nhóm phân vị 30) thì ta xếp vào nhóm W (Winners), ngược lại chứng khoánnào giảm giá mạnh hay tăng giá thấp hơn (thuộc nhóm phân vị 70) thì xếp vào nhóm
L (Losers) Tương tự như mô hình 3 nhân tố ta cũng có được 6 danh mục từ việc phânloại quy mô (50%-50%) và xu hướng như trên là SL, SNw, SW, BL, BNw, BW Nhân
tố WML được tính bằng trung bình của 2 danh mục tăng giá mạnh nhất trừ cho trungbình của 2 danh mục giảm giá
Kiểm định phân phối chuẩn các chuỗi TSSL chứng khoán
Dựa vào thống kê JB và giá trị p-value thì trong 81 chứng khoán quan sát thì có 73/81chứng khoán tuân theo quy luật phân phối chuẩn với mức ý nghĩa 5%, chỉ số VN-Index cũng có phân phối chuẩn với cùng mức ý nghĩa trên Do thời kỳ quan sát ngắnnên kết quả như trên là có thể chấp nhân được, ta xem các chứng khoán có phân phốichuẩn và tiến hành hồi quy các mô hình
Thống kê TSSL trung bình của các danh mục
(Phụ lục 2)
Trong thời kì 2009-2012, phần bù vốn cổ phần bình quân (Rm-Rf) (sự khác biệt giữaTSSL thị trường với TSSL trái phiếu chính phủ) thể hiện giá trị âm là -0,2036%
Trang 26Phần bù quy mô trong bài nghiên cứu có trung bình dương (0,001592), tức chứngkhoán có quy mô nhỏ thì có TSSL trung bình lớn hơn chứng khoán có quy mô lớn, kếtquả này giống với kết quả của Fama- French năm 1993 nghiên cứu tại thị trườngchứng khoán Hoa Kỳ Kết quả thể hiện rõ hơn trong bảng so sánh TSSL trung bìnhgiữa các danh mục Ta thấy TSSL trung bình giảm từ trên xuống dưới, tức TSSL giảmkhi quy mô tăng, giá trị TSSL trung bình của nhóm chứng khoán nhỏ nằm trongkhoảng từ (-0,05014; -0,000269) và của các chứng khoán lớn nằm thay đổi từ -0,005225 đến -0,004336.
Tuy nhiên, khi xét đến nhân tố giá trị, HML, thì mô hình lại cho ra kết quả ngược vớiFama- French 1993 Theo Fama- French, HML có giá trị trung bình dương, còn kếtquả trong bài nghiên cứu lại thể hiện một HML âm
TSSL trung bình của chuỗi WML có giá trị âm, ngược với kết quả của mô hìnhCarhart năm 1997 Trong một nghiên cứu của Fama- French 2010, nhóm tác giả nàynghiên cứu một mẫu gồm 4 khu vực là Nhật Bản, Bắc Mỹ, Châu Á Thái Bình Dương
và khu vực Châu Âu thì chỉ duy có Nhật Bản là không thể hiện rõ TSSL xu hướng.Chui, Titman và Wei (2010) cho rằng TSSL xu hướng mạnh mẽ hơn ở các nền vănhóa có chủ nghĩa cá nhân mạnh Và Chui, Titman, Wei cho rằng Nhật Bản nằm trongcác nước có xếp hạng chủ nghĩa cá nhân thấp Điều này cũng có thể giải thích với ViệtNam vì Nhật Bản và Việt Nam cùng nằm trong khu vực Châu Á
6.2 Kết quả hồi quy
6.2.1 Kiểm định với mô hình CAPM
6.2.1.1 Mô hình
(Phụ lục 3)
Ta lần lượt hồi quy theo phương trình CAPM cho 6 danh mục trong mô hình French nhằm so sánh kết quả
Fama-Phương trình hồi quy: Rit - Rf =αi + βi*(Rm – Rf) + ei (1)
Kiểm định tính dừng của dữ liệu
Một trong các giả thiết của mô hình hồi quy cổ điển là các biến độc lập là phi ngẫunhiên, có giá trị xác định Nếu ước lượng một mô hình với chuỗi thời gian trong đócác biến độc lập không dừng thì giả thiết của OLS bị vi phạm (Theo giáo trình Kinh
tế lượng của Hoàng Ngọc Nhậm, 2008 trường Đại học Kinh tế Tp HCM) Phương
Trang 27trình (1) là phương trình hồi quy OLS thông thường do đó các biến độc lập trong môhình phải có tính dừng Ta tiến hành bằng kiểm định tính dừng của biến độc lập, ở đây
là nhân tố thị trường, bằng phương pháp nghiệm đơn vị (Unit Root Test)
Dùng tiêu chuẩn kiểm định Dickey- Fuller (DF) trong eviews ta có kết quả sau
t-statistic prob-13.06364 0.000001% level -3.466994
5% level -2.87754410% -2.575381
(Phụ lục 4.1)Giá trị τ của thống kê DF là -13.06364 Khi τ lớn hơn τ0.01, τ0.05, τ0.1 thì giả thiết Ho bịbác bỏ, do đó ta kết luận chuỗi là chuỗi dừng và tiến hành hồi quy
6.2.1.2 Ước lượng mô hình
Dùng phương pháp bình phương bé nhất (OLS), hồi quy các danh mục theo phươngtrình (1) ta được kết quả sau:
Hệ số Beta của 6 danh mục đều dương cho thấy trong thời gian quan sát các chứngkhoán trên sàn Hose biến động cùng chiều với thị trường Với nhóm các cổ phiếu nhỏthì danh mục SV có β dương lớn nhất, và chỉ nhỏ hơn β của danh mục BN, cho thấyrằng các chứng khoán có quy mô nhỏ và có B/M thấp thì biến động mạnh mẽ hơn cả
Trang 286.2.1.3 Kiểm định giả thiết của OLS
Kiểm định giả thiết đối với α
Ta kiểm định giả thiết Ho: α=0, H1: α # 0 Để kiểm định giả thiết này, ta dùngthống kê tα/2(n-k) để kiểm định.Với mức ý nghĩa 5% và bậc tự do là n-k=180-2=178(n là số quan sát, k là số hệ số có trong phương trình) tính được tα/2(178) =2.260522
tα/2(178) đều lớn hơn giá trị tuyết đối t của các hệ số chặn, nên ta có cơ sở chấp nhậnHo: α của các mô hình đều bằng 0
Kiểm định giả thiết đối với β
Kiểm định giả thiết Ho:β=0, H1: β #0
Dùng phương pháp tương tự với kiểm định α
Bảng kết quả giá trị t của hệ số β và kết quả kiểm định
Phương sai không đổi là một trong những giả thiết của mô hình hồi quy Để kiểm địnhgiả thiết này, ta dùng kiểm định White đối với chuỗi phần dư
Giả thiết Ho: Phương sai của các phần dư là không đổi
Trang 29
Nếu Ho đúng thì nR2 có phân phối xấp xỉ với phân phối Chi- bình phương với k bậc
tự do, trong đó k là hệ số của mô hình ước lượng phần dư không kể hệ số chặn Nếu
nR2 vượt quá giá trị tới hạn (mức ý nghĩa α cho trước) thì giả thiết Ho bị bác bỏ, tức
mô hình hồi quy gốc có phương sai thay đổi Kết quả kiểm định White của 6 danhmục thể hiện ở bảng sau:
Ta dùng kiểm định Breusch- Godfrey để kiểm định sự tương quan giữa các phần dư.Với giả thiết Ho: không tồn tại tư tương quan giữa các phần dư So sánh nR2 với
2 ( p)để đưa ra kết luận Nếu nR2
> 2 ( p)thì bác bỏ Ho, ngược lại ta chấp nhận
Ho Hồi quy ta có bảng kết quả kirme định Breusch- Godfrey sau:
Dùng F-statistic để kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy với giả thiết Ho: R2=0.Bảng kết quả kiểm định R2
Trang 30Danh mục R2 Thống kê F Prob Chấp nhận hay bác bỏ
6.2.2 Kiểm định mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993)
6.2.2.1 Mô hình
Fama- French cho rằng ngoài nhân tố thị trường, TSSL chứng khoán chịu ảnh hưởngcủa nhân tố quy mô và nhân tố giá trị Do đó, hai ông đã thêm vào mô hình CAPM hainhân tố là SMB, đại diện cho quy mô chứng khoán và nhân tố HML, thể hiện cho tỷ
số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (B/M) với mô hình hồi quy sau:
Ri(t)-RF(t)=αi + βi[RM(t)-RF(t)] + si*SMB(t) + hi*HML(t) + ei(t) (2)
Kiểm định tính dừng của dữ liệu
Trước khi đi vào mô hình hồi quy, ta tiến hành kiểm định tính dừng của các biến độclập của mô hình Mô hình (2) gồm 3 biến độc lập là Rm – Rf, SMB, HML nhưng biến
Rm – Rf đã được kiểm định trước đó, nên bây giờ ta cần kiểm định tính dừng của SMB
Trang 31t-statistic prob-12.34196 0.000001% level -3.466994
5% level -2.87754410% -2.575381
(Phụ lục 5.1)Giá trị thống kê τ là -12.34196, trị tuyệt đối của τ đều lớn hơn τ0.01, τ0.05, τ0.1 nên ta kếtluận chuỗi SMB là chuỗi dừng
Kiểm định Unit Root Test của chuỗi HML
t-statistic prob-12.76754 0.000001% level -3.466994
5% level -2.87754410% -2.575381
(Phụ lục 5.1)Giá trị thống kê τ là -12.76754, trị tuyệt đối của τ đều lớn hơn τ0.01, τ0.05, τ0.1 nên chuỗiHML cũng là chuỗi dừng
6.2.2.2 Ước lượng mô hình
Ta tiến hành hồi quy các danh mục chứng khoán theo phương trình (2) thu được kếtquả sau:
Danh mục SG: Rt – Rf = 0.000359 + 0.791409*(Rm – Rf) + 0.329036*SMB(t) – 0.86030*HML(t)+ei
Danh mục SN: Rt – Rf = -0.001741 + 0.938704*(Rm – Rf) + 0.480190*SMB(t)+ 0.153997*HML(t)+ei
Danh mục SV: Rt – Rf = -0.002681 + 1.132346*(Rm – Rf) + 0.513297*SMB(t)+ 0.477261*HML(t)+ei
Danh mục BG: Rt – Rf = -0.002184 + 1.002009*(Rm – Rf) 0.651354*SMB(t) 0.542470*HML(t)+ei
- Danh mục BN: Rt – Rf = -0.002735 + 1.199379*(Rm – Rf) – 0.190507*SMB(t)+ 0.193457*HML(t)+ei
Danh mục BV: Rt – Rf = 0.000856 + 0.661071*(Rm – Rf) – 0.835615*SMB(t)+ 0.894240*HML(t) +ei
(Phụ lục 5.2)
Trang 32Giống với kết quả trong mô hình CAPM, hệ số chặn của các mô hình xấp xỉ giá trị 0
và cũng không có ý nghĩa thống kê Nên các chứng khoán khi được định giá bằng môhình 3 nhân tố của Fama- French cũng được định giá đúng (Xem bảng kết quả ýnghĩa thống kê ở bảng sau)
Hệ số β của 6 danh mục đều dương và có ý nghĩa thống kê, giống với kết quả của môhình CAPM Trong bài nghiên cứu này thì chỉ có danh mục BV là có hệ số β =0.661071, hơi xa giá trị 1, còn các danh mục khác đều xoay quanh giá trị 1 Kết quảnày khá giống như kết quả của Fama- French 1993 khi kiểm định ở thị trường chứngkhoán Hoa Kỳ, các hệ số của nhân tố thị trường đều dương và có kết quả xoay quanhgiá trị 1
Các hệ số đối với nhân tố phần bù quy mô SMB có sự khác biệt giữa các chứng khoán
có quy mô lớn (Big) và nhỏ (Small) Hệ số SMB đối với 3 danh mục nhóm chứngkhoán có quy mô nhỏ (SG,SN, SV) là dương nhưng đối với 3 danh mục các chứngkhoán có quy mô lớn (Big) thì lại âm Nghĩa là, trong cùng một nhóm B/M thì hệ sốcủa SMB giảm khi quy mô tăng Kết quả này giống với Fama- French 1993 khi haiông phân chia các chứng khoán theo 5 nhóm quy mô thì nhóm chứng khoán có quy
mô lớn nhất cũng mang hệ số SMB âm và đối với nhóm quy mô nhỏ nhất hệ số SMBcũng dương và lớn nhất Kết hợp điều này với kết quả TSSL trung bình của dãy SMB
là dương cho thấy TSSL chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009-2012 và nhân tốquy mô có mối quan hệ ngược chiều nhau
Đối với nhân tố HML, kết quả của các hệ số của HML cũng khá giống với French 1993 Hệ số HML âm ở 2 danh mục có B/M thấp đó là danh mục SG và BG,còn 4 danh mục còn lại, HML đều cho hệ số dương Theo Fama- French thì HML âm
Fama-ở 5 danh mục thuộc nhóm có B/M thấp, còn lại đều dương Kết quả cũng cho thấytrong cùng một nhóm quy mô thì hệ số của HML tăng từ trái sang phải, tương ứng với
tỷ lệ B/M Cụ thể hơn, trong cùng nhóm quy mô nhỏ thì hệ số HML lần lượt là:SG<SN<SV tương ứng với - 0.86030<0.153997<0.477261, hệ số của các danh mục
có quy mô lớn cũng vậy: BG<BN<BV, tương ứng - 0.542470<0.193457<0.894240.Nhưng kết quả thống kê HML thì lại cho ra giá trị trung bình âm Giải thích cho điềunày có thể là do trong giai đoạn lấy mẫu TSSL chứng khoán trên sàn Hose luôn trongtình trạng giảm điểm, chỉ có vài phiên tăng điểm nên các chứng khoán trong mẫu phần
Trang 33lớn có TSSL trung bình âm, điều đó làm có thể làm cho giá trị trung bình của HMLâm.
6.2.2.3 Kiểm định các giả thiết của OLS
Ta kiểm định giả thiết Ho: Hệ số hồi quy =0, H1: Hệ số hồi quy # 0 Để kiểm định giảthiết này, ta dùng thống kê tα/2(n-k) Với mức ý nghĩa 5% và bậc tự do là n-k=180-4=176 (n là số quan sát, k là số hệ số có trong phương trình) tính được tα/2(176)
=2.260741 Ta so sánh tα/2(176) với t của các hệ số để đưa ra kết luận
0.83250.00000.00000.0000
Chấp nhận Ho Bác bỏ HoBác bỏ Ho Chấp nhận Ho
0.27000.00000.00000.0000
Chấp nhận Ho Bác bỏ HoBác bỏ Ho Bác bỏ Ho
0.12930.00000.00000.0000
Chấp nhận HoBác bỏ HoBác bỏ HoBác bỏ Ho
0.22130.00000.00000.0000
Chấp nhận HoBác bỏ HoBác bỏ HoBác bỏ Ho
0.23740.00000.00000.0000
Chấp nhận Ho Bác bỏ Ho Chấp nhận Ho Bác bỏ Ho
0.65030.00000.00000.0000
Chấp nhận Ho Bác bỏ HoBác bỏ Ho Bác bỏ Ho
Trang 34Đối với hệ số α, cả 6 danh mục đều có giá trị thống kê t< tα/2(176) với mức ýnghĩa
0.05 nên ta Bác bỏ Ho bỏ giả thiết α=0 đối với 6 danh mục Mô hình đưa ra dự báođúng TSSL thị trường chứng khoán Việt Nam
Hệ số β của 6 danh mục đều khác 0 và có ý nghĩa thống kê thông qua giá trị t và value là rất nhỏ
p-Đối với hệ số s, nhân tố quy mô, thì có 5/6 danh mục chấp nhận giả thiết Ho là s khác
0 ở mức ý nghĩa 5%, tuy nhiên khi chọn mức ý nghĩa là 10% thì danh mục còn lạicũng cho kết quả tương tự 5 danh mục kia, hệ số s khác 0 Do đó, ta có thể kết luậnnhân tố quy mô là nhân tố có có liên quan đến TSSL thị trường chứng khoán, và phùhợp để đưa vào mô hình
Đối với nhân tố HML, hệ số h khác 0 đối với 5 trường hợp, đối với danh mục SG thì
ta chấp nhận giả thiết h bằng 0 Với mức ý nghĩa 10% thì hệ số h vẫn không thể Bác
bỏ Ho bỏ được giả thiết Ho Do đó, ta có thể kết luận nhân tố giá trị không thể giảithích cho TSSL chứng khoán đối với danh mục SG Để khẳng định điều này, ta dùngkiểm định Wald để xem thử biến HML có thật sự cần thiết đối với danh mục SG haykhông Ta được bảng kết quả sau:
F-statistic 2.730306 0.1002Chi-square 2.730306 0.0985
(Phụ lục 5.3)Kết quả thống kê F của kiểm đinh bằng 2.730306 <F5%(1,176)=3.894838, kết hợp vớip-value = 0.1002 là lớn nên ta chấp nhận giả thiết hệ số h bằng 0 Do đó, biến HMLkhông giải thích được trong mô hình của danh mục SG
Kiểm định phương sai thuần nhất của các phần dư (U i )
Dùng kiểm định White đối với chuỗi phần dư để xem thử phương sai của chuỗi cóthuần nhất hay không
Giả thiết Ho: Phương sai của các phần dư là không đổi
Nếu Ho đúng thì nR2 có phân phối xấp xỉ với phân phối Chi- bình phương với k bậc
tự do, trong đó k là hệ số của mô hình ước lượng phần dư không kể hệ số chặn Nếu
nR2 vượt quá giá trị tới hạn (mức ý nghĩa α cho trước) thì giả thiết Ho bị bác bỏ, tức
Trang 35 Kiểm định tự tương quan giữa các phần dư.
Ta dùng kiểm định Breusch- Godfrey để kiểm định sự tương quan giữa các phần dư.Với giả thiết Ho: không tồn tại tư tương quan giữa các phần dư So sánh nR2 với
2 ( p)để đưa ra kết luận Nếu nR2
> 2 ( p)thì bác bỏ Ho, ngược lại ta chấp nhận
Ho Hồi quy ta có bảng kết quả kirme định Breusch- Godfrey sau:
Các trường hợp phương sai thay đổi và tự tương quan sẽ được so sánh với mô hình 4nhân tố của Carhart để xem thử mô hình được chọn có chính xác không và sau đó sẽtìm cách khắc phục
Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến