Dựa trên bộ mẫu là 42 doanh nghiệp phi tài chính huỷ niêm yết vì các nguyên nhân tài chính và 42 doanh nghiệp phi tài chính có quy mô tài sản tương đương trên cả 2 Sàn chứng khoán Hồ Chí
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
-
LIÊU MINH LÝ
ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG MÔ HÌNH DỰ BÁO PHÁ SẢN CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 201…
Giáo viên hướng dẫn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện và không sao chép dưới bất cứ hình thức nào, dưới sự hướng dẫn của cô PGS TS Hồ Thuỷ Tiên – Khoa Thuế Hải Quan – Trường ĐH Tài Chính – Marketing Các số liệu, kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nội dung khoa học của công trình này
Tp.HCM, Ngày… tháng… năm…
Tác giả
Liêu Minh Lý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tác giả thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đến cô PGS.TS Hồ Thuỷ Tiên, Phó trưởng khoa Thuế- Hải Quan, Trường ĐH Tài Chính- Marketing đã hướng dẫn tận tình và cho tác giả những lời khuyên xác đáng trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này Chúc cô luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong cuộc sống và công việc
Đồng thời tác giả gửi lời cám ơn chân thành Ban giám hiệu trường Đại học Tài Chính- Marketing và ban lãnh đạo khoa Đào tạo Sau Đại học đã tổ chức khoá học Thạc sỹ này để tạo điều kiện cho tác giả học tập, nâng cao trình độ và kỹ năng chuyên môn trong lĩnh vực Tài chính Ngân hàng
Bên cạnh đó, tác giả xin cám ơn ban lãnh đạo Khoa Tài Chính – Ngân hàng trường ĐH Tài Chính – Marketing cùng các thầy cô trong khoa đã tạo cơ hội cho tác giả được tham gia khoá học Thạc sỹ Tài Chính- Ngân Hàng và hỗ trợ trong công việc cũng như quá trình học tập đã giúp tác giả có điều kiện tốt nhất để hoàn thành khoá học này
Cuối cùng tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bạn bè và thầy cô luôn bên cạnh là nguồn động viên tinh thần rất lớn cho tác giả hoàn thành đề tài luận văn của mình
Liêu Minh Lý
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ VI DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VIII TÓM TẮT LUẬN VĂN IX
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 4
1.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Khung nghiên cứu 6
1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
1.8 Bố cục của nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2:TỔNG QUAN VỀ PHÁ SẢN VÀ CÁC MÔ HÌNH DỰ BÁO PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 9
2.1 Tổng quan về phá sản 9
2.1.1 Khái niệm phá sản 9
2.1.2 Các nguyên nhân dẫn đến phá sản doanh nghiệp 13
2.1.3 Các chỉ số phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp 21
2.1.4 Những tác động của phá sản 31
2.2 Tổng quan về các nghiên cứu dự báo phá sản trên thế giới 32
2.2.1 Sự cần thiết của dự báo phá sản 32
2.2.2 Các mô hình dự báo phá sản trên thế giới 33
2.3 Các nghiên cứu về dự báo phá sản trên thị trường Việt Nam 42
2.4 Lựa chọn mô hình 44
Trang 6CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
3.1.1 Giới thiệu phương pháp phân tích Hồi quy Binary Logistic 47
3.1.2 Các bước thực hiện 48
3.1.3 Phần mềm nghiên cứu 50
3.2 Biến nghiên cứu 51
3.2.1 Biến trong kiểm định mô hình O-Score 51
3.2.2 Biến đưa thêm vào mô hình dự báo 55
3.3 Các giả thiết nghiên cứu 57
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 57
3.4.1 Cỡ mẫu 57
3.4.2 Phương pháp chọn lọc mẫu 59
3.5 Các bước thực hiện nghiên cứu 60
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 62
4.1 Kiểm định khả năng dự báo phá sản của mô hình O- Score 62
4.1.1 Thực hiện kiểm định cho các biến trong mô hình o-score 62
4.1.2 Thống kê khả năng dự báo của mô hình O-Score 64
4.2 Chạy Stepwise 66
4.3 Thống kê mô tả các biến 67
4.3.1 Thống kê mô tả các công ty huỷ niêm yết 67
4.3.2 Thống kê mô tả các công ty tương đương 70
4.4 Các kiểm định thực hiện trong mô hình dự báo mới 73
4.4.1 Kiểm định mức ý nghĩa các biến 73
4.4.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 76
4.4.3 Đánh giá độ phù hợp của mô hình 77
4.5 Kết quả thống kê qua phương pháp phân tích Binary Logistic 78
4.5.1 Mức ý nghĩa của mô hình 78
4.5.2 Hàm dự báo và ngưỡng phá sản 79
4.5.3 Kết quả thống kê dự báo của mô hình 80
Trang 74.6 Kiểm định khả năng dự báo trên nhóm doanh nghiệp mới 83
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
5.1 Kết luận 86
5.1.1 Kết luận chung về mô hình 86
5.1.2 So sánh hai mô hình xây dựng và O-Score 89
5.2 Hạn chế của đề tài 94
5.3 Kiến nghị 95
5.3.1 Kiến nghị đối với việc sử dụng mô hình dự báo 95
5.3.2 Kiến nghị đối với các biến sử dụng trong mô hình 95
5.3.2 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý 97
5.4 Một số giải pháp 98
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1 Các biến trong mô hình Z-Score 34
Bảng 2.2 Các biến trong mô hình O-Score 38
Bảng 2.3 Các biến trong mô hình Fulmer 41
Bảng 3.1 Kỳ vọng dấu các biến trong mô hình O-Score 55
Bảng 3.2 Các biến trong xây dựng mô hình dự báo phá sản 56
Bảng 3.3 Thống kê các nghiên cứu có thực hiện chia mẫu kiểm định 59
Bảng 4.1: Variables in the Equation 62
Bảng 4.2: Model Summary 63
Bảng 4.3: Thống kê khả năng dự báo mô hình Ohlson 64
Bảng 4.4: Thống kê mô tả doanh nghiệp huỷ niêm yết trên TTCK 68
Bảng 4.5: Thống kê mô tả các doanh nghiệp không phá sản giai đoạn 2008- 2013 70
Bảng 4.6: So sánh thống kê mô tả nhóm doanh nghiệp huỷ niêm yết và doanh nghiệp tương đương 72
Bảng 4.7 Variables in the Equation 74
Bảng 4.8 Kiểm định đa cộng tuyến giữa các biến trong mô hình dự báo 76
Bảng 4.9 Hosmer and Lemeshow Test 77
Bảng 4.10: Kiểm định ý nghĩa mô hình 78
Bảng 4.11: Các biến trong mô hình ( Trích gọn bảng 4.8) 79
Bảng 4.12 Thống kê kết quả dự báo 1 năm trước phá sản 80
Bảng 4.13: Thống kê kết quả dự báo 2 năm trước phá sản 82
Bảng 4.14: Thống kê kết quả dự báo 3 năm trước phá sản 83
Bảng 4.15 Thống kê khả năng dự báo trên nhóm doanh nghiệp năm 2014 84
Trang 9Bảng 5.1: Số biến trong mô hình phân theo nhóm chỉ số tài chính 91 Bảng 5.2: Kỳ vọng dấu lý thuyết và thực tế 92
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Tăng trưởng GDP Việt Nam những năm gần đây 14 Biểu đồ 2.2 Thống kê số doanh nghiệp phá sản và thành lập mới giai đoạn 2010-2013 15 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu quy mô doanh nghiệp 2002- 2013 17 Biểu đồ 2.4 Tình hình sử dụng nợ của doanh nghiệp Việt Nam theo nhóm ngành 20
Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Khung Nghiên Cứu 6
Sơ đồ 3.1 Các bước thực hiện nghiên cứu……… 60
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GTTT VCSH Gía trị thị trường Vốn chủ sở hữu
Phương pháp phân tích biệt hoá đa nhân tố
Trang 11Việc kiểm định khả năng dự báo của mô hình O-Score trên thị trường Việt Nam cho thấy khả năng dự báo của mô hình này chưa cao, mức giải thích ý nghĩa của mô hình và khả năng giải thích của các biến không đáp ứng ý nghĩa thống kê
Do đó việc xây dựng một mô hình phù hợp hơn cho thị trường Việt Nam là hoàn toàn cần thiết Dựa trên bộ mẫu là 42 doanh nghiệp phi tài chính huỷ niêm yết vì các nguyên nhân tài chính và 42 doanh nghiệp phi tài chính có quy mô tài sản tương đương trên cả 2 Sàn chứng khoán Hồ Chí Minh và Hà Nội cùng với việc ứng dụng phương pháp hồi quy Binary Logistic tác giả đã xây dựng một mô hình
dự báo phá sản riêng cho thị trường Việt Nam gồm 5 biến có khả năng dự báo tổng thể là 83,3%
Từ mô hình xây dựng trên, tác giả đưa ra một số kiến nghị trong việc sử dụng mô hình cũng như cho thấy những biến số quan trọng là cơ sở cảnh báo sớm đối với tình hình sức khoẻ các doanh nghiệp
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong một nền kinh tế, song hành với việc hình thành và đi vào hoạt động ngày càng tăng trưởng của các doanh nghiệp không thể không kể đến việc các công ty không đáp ứng được những điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế dẫn đến phá sản Có thể hiểu phá sản là một trong những hiện tượng kinh tế xã hội hiển nhiên mà mọi nền kinh tề đều tồn tại trong quá trình chọn lọc ra những doanh nghiệp hoạt động thực sự hiệu quả Tuy nhiên, một khi tình trạng phá sản các doanh nghiệp tăng nhanh đột biến thì đó không chỉ dừng lại ở một hiện tượng kinh tế mà thật sự là một vấn đề đáng quan tâm bởi những hệ luỵ mà nó mang lại như gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, tác động lan truyền, mất niềm tin người dân ảnh hưởng đến sự ổn định bền vững của nền kinh tế
Đó cũng chính là thực trạng mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong thời gian qua Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu xét
từ năm 2010 đến nay số doanh nghiệp phá sản tăng ngày một nhanh chóng Theo ước tính của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI, tính đến 31/12/2011 số doanh nghiệp phá sản cả nước lên đến 77.548 doanh nghiệp Đặc biệt trong năm 2012, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động là 54.261 doanh nghiệp tính riêng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Và trong 9 tháng đầu năm
2013, cả nước có 6.742 doanh nghiệp hoàn thành thủ tục giải thể doanh nghiệp Đứng trước tình trạng hàng ngàn các doanh nghiệp phá sản cũng như hàng ngàn các doanh nghiệp khác đang đối mặt với nguy cơ phá sản thì việc tìm kiếm dấu hiệu chung về tình hình tài chính các doanh nghiệp phá sản là một cơ sở quan trọng để đưa ra cảnh báo sớm cho các doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh hướng đi cho doanh nghiệp mình Hơn nữa, một mô hình dự báo khả năng phá sản là công cụ hiệu quả cho các nhà đầu tư khi đưa ra các quyết định đầu tư, hỗ trợ cho cơ quan thẩm quyền một cơ sở để giám sát tốt tình hình các doanh nghiệp một cách kịp thời, có hiệu quả
Trang 13Trên thế giới các nhà kinh tế học đã đưa ra khá nhiều mô hình dự báo phá sản các doanh nghiệp như mô hình Z-score của Altman, mô hình O-score của Ohlson, mô hình KMV… Tuy nhiên ở Việt Nam các công trình nghiên cứu xây dựng một mô hình dự báo khả năng phá sản cho các doanh nghiệp nhìn chung còn rất nhiều hạn chế
Đứng trước những nhu cầu và tình hình thực tế đó đề tài “Xây dựng mô
hình dự báo khả năng phá sản cho các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được tôi lựa chọn nghiên cứu làm luận văn cao học
1.2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trên thế giới những nghiên cứu đầu tiên về phá sản và mô hình dự báo phá sản đã bắt đầu từ những năm 1960 Khởi đầu từ nghiên cứu của Beaver (1966) với kỹ thuật phân tích cá thể (univariate analysis) từ 30 tỷ số để tìm sự khác biệt giữa 79 doanh nghiệp phá sản và 79 doanh nghiệp hoạt động ổn định Việc lựa chọn các doanh nghiệp dựa trên đánh giá quy mô và ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp Bài nghiên cứu cho thấy được các chỉ số tài chính có thể hỗ trợ dự báo lên đến 5 năm trước phá sản Phân tích khả năng dự báo của từng chỉ số và cho thấy chỉ số dòng tiền/ tổng nợ là biến dự báo tốt nhất với độ chính xác đến 87% đối với một năm trước phá sản
Kế thừa ý tưởng của Beaver năm 1966 Altman 1968 đã bắt tay xây dựng
mô hình chỉ số Z- Score với phương pháp MDA cho phép đánh giá đồng thời tác động của nhiều nhân tố Nhờ đó mô hình Z-Score đã dự báo nguy cơ phá sản với
độ chính xác lên đến 96% đối với 1 năm trước phá sản Tiếp sau thành công trong mô hình dự báo của Altman hàng loạt các nghiên cứu cùng chủ đề được thực hiện cũng dựa trên kỹ thuật thống kê như nghiên cứu của Meyer & Pifer(1970), Deakin (1972), Libby (1975), Scott (1981), …
Bước sang thập niên 80, các nghiên cứu về mô hình phá sản được xây dựng dựa trên nhiều kỹ thuật phân tích đa dạng hơn trong đó có thể kể đến như kỹ thuật Logistic với mô hình Ohlson (1980), nghiên cứu của Martin (1977), Lo(1984), Zmijiwski (1984)… Sử dụng kỹ thuật Probit có nghiên cứu của
Trang 14Hanweck (1977), Gloubos & Grammatikos (1988)… Các phương pháp và kỹ thuật phân tích ngày một phát triển cùng với sự ra đời của ngày một nhiều mô hình hơn như mô hình KMV (Kealhofer Merton Vasicek Model) Mô hình KMV
là mô hình dự báo khoảng cách đến khi phá sản (DD) và xác suất phá sản (PD) dựa trên mô hình định giá quyền chọn của Black Scholes được Merton xây dựng năm 1974 Và nhiều các kỹ thuật hiện đại bắt đầu được sử dụng rộng rãi vào những năm 90 là kỹ thuật Neutral Network như nghiên cứu của Dawyer (1992), Agarwal (1993), Raghupathi, Schkade & Raju (1993),… Các phương pháp cây nhị phân (Binomial Logit), Algorithm…
Nhìn chung trải qua một thời kỳ dài cho đến nay việc xây dựng mô hình dự báo phá sản đã đạt được những bước tiến đáng kể Phong phú cả về các biến sử dụng lẫn phương pháp phân tích Tỷ lệ dự báo của các mô hình này ngày càng chính xác hơn Đặc biệt trong giai đoạn 1 năm trước phá sản có những nghiên cứu đạt tỷ lệ dự báo lên đến 99% Song các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nhiều ở các quốc gia phát triển như Mỹ, khu vực Châu Âu trên nhiều nhóm doanh nghiệp khác nhau như nhóm ngành công nghiệp, nhóm ngành dịch vụ…
Vì vậy khả năng dự báo của các mô hình này trên các quốc gia phát triển với cấu trúc nền kinh tế, hiệu quả và những đặc trưng riêng là hoàn toàn có thể thực hiện với độ chính xác cao Trong khi đó ở các nền kinh tế mới nổi thì các nghiên cứu chủ yếu tập trung theo hướng kiểm định khả năng dự báo của các mô hình đã được xây dựng trước đó và so sánh khả năng dự báo giữa các mô hình Khi đưa vào kiểm định ở những thị trường mới nổi thì các mô hình vẫn cho khả năng dự báo ở một mức độ chính xác nhất định Như nghiên cứu trên thị trường Tehran của Rasoulzadeh (2004) kiểm định mô hình Altman cho khả năng dự báo 92%; Nghiên cứu trên thị trường Châu Á của Pongsatat (2003) so sánh giữa 2 mô hình Ohlson và Altman cũng kết luận khả năng dự báo 70% đến 90% tuỳ thuộc vào số năm dự báo trước phá sản… Và nhiều bài nghiên cứu khác
Đối với tình hình nghiên cứu về mô hình dự báo phá sản ở Việt Nam chưa được quan tâm nhiều Một số nghiên cứu có mối liên hệ đối với dự báo phá sản là các nghiên cứu về hệ thống xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp nhằm mục đích
Trang 15đánh giá rủi ro vỡ nợ của doanh nghiệp và đưa ra quyết định cho vay Và một số
ít các bài báo có đề cập đến việc ứng dụng các mô hình trong một hay một vài trường hợp cụ thể Những nghiên cứu tiến hành thống kê khả năng dự báo trên một tập hợp công ty chưa được phổ biến Nhìn chung việc nghiên cứu đề tài này
ở Việt Nam còn nhiều hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau
Đầu tiên chính là sự thiếu minh bạch thông tin Dữ liệu thông tin tài chính của các doanh nghiệp chưa được công bố rộng rãi do đó việc nghiên cứu các doanh nghiệp này gặp rất nhiều khó khăn Dẫn đến việc tiếp cận các doanh nghiệp chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
Một trong những trở ngại khác không thể bỏ qua là đối với một nền kinh tế chưa hoàn thiện nhiều quy luật kinh tế không được phản ánh một cách xác thực
Do đó, việc nghiên cứu trên một nền kinh tế như nước ta đòi hỏi nghiên cứu cần nhận định đúng được các đặc trưng của nền kinh tế để thực hiện nghiên cứu một cách phù hợp
Thứ ba, việc nghiên cứu và xây dựng các mô hình này tuy có tính thực tế và hữu ích trong việc ứng dụng vào nền kinh tế nhưng vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức bởi tâm lý và kiến thức chuyên môn của các nhà đầu tư tham gia thị trường Phần lớn việc tham gia đầu tư hiện nay dựa trên theo thói quen, cảm tính
và bị tác động mạnh mẽ bởi tâm lý bầy đàn Trong khi những nhà đầu tư chuyên nghiệp với kiến thức bài bản không nhiều Vì vậy việc xây dựng các mô hình vẫn chủ yếu nằm trong mảng nghiên cứu học thuật và ứng dụng chủ yếu trong xếp hạng tín dụng doanh nghiệp
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính:
Kiểm định khả năng dự báo phá sản của mô hình O- Score trên thị trường Việt Nam
Trang 16 Ứng dụng mô hình O-Score trong dự báo phá sản trên thị trường Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu
- Mô hình O- Score có khả năng ứng dụng nhằm dự báo phá sản ở Việt Nam hay không?
1.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
- Các doanh nghiệp phi tài chính huỷ niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Các doanh nghiệp phi tài chính có quy mô tương đương và hoạt động trong cùng ngành nghề với các doanh nghiệp huỷ niêm yết
Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Bài nghiên cứu sử dụng bộ số liệu mẫu 1 năm và 2 năm và 3 năm trước khi phá sản của 42 doanh nghiệp phi tài chính huỷ niêm yết và 42 doanh nghiệp khoẻ mạnh Trong đó tập trung xem xét giai đoạn 2008 - 2013
- Về không gian: Bài nghiên cứu giới hạn ở các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX
1.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lấy mẫu sử dụng là phương pháp lấy mẫu phi xác suất Cụ thể đối với nhóm doanh nghiệp phá sản lấy mẫu các doanh nghiệp phi tài chính huỷ niêm yết vì các nguyên nhân tài chính theo Nghị Định 14/2007/NĐ-CP1 Đối với nhóm doanh nghiệp khoẻ mạnh, lấy mẫu các doanh nghiệp quy mô tài sản tương đương với các doanh nghiệp huỷ niêm yết theo cặp
- Phương pháp sử dụng trong xây dựng mô hình dự báo là phương pháp hồi quy nhị phân Binary Logistic
- Bên cạnh đó bài nghiên cứu sử dụng kết hợp giữa phân tích định tính và phân tích định lượng Cụ thể phân tích định lượng áp dụng trong thống kê mô tả các biến mô hình, xây dựng mô hình dự báo và trong quá trình kiểm định Phương pháp định tính được áp dụng trong quá trình đánh giá kết quả thống
1
Xem thêm mục 2.1.1Khái niệm phá sản và 3.4.2 Phương pháp chọn mẫu
Trang 17kê mô tả, phân tích mô hình dự báo, phân tích tổng hợp và so sánh giữa mô hình gốc và mô hình xây dựng…
1.6 Khung nghiên cứu
Sơ đồ 1.1 Khung Nghiên Cứu
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
ĐỀ XUẤT CÁC MÔ HÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
ĐẶT GIẢ THUYẾT CHO MÔ HÌNH
Trang 181.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Mô hình sau khi hoàn thành sẽ góp phần hình thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà đầu tư trước khi ra các quyết định đầu tư Tránh được những sai lầm trong việc đánh giá khả năng duy trì hoạt động của doanh nghiệp Nhờ đó việc ra quyết định đầu tư thực hiện nhanh chóng, dễ dàng và chính xác hơn Đối với bản thân doanh nghiệp mô hình dự báo khả năng phá sản là một công cụ hỗ trợ cho việc nhận diện, là dấu hiệu cảnh báo sớm để các doanh nghiệp kịp thời có những cải tổ đối với tình hình hoạt động của bản thân doanh nghiệp mình Từ đó tránh được những tổn thất cho nền kinh tế
Đối với cơ quan quản lý chỉ số khả năng dự báo phả sản có thể được sử dụng hỗ trợ xem xét đối với các doanh nghiệp rơi vào tình trạng có nguy cơ phá sản để kịp thời có biện pháp theo dõi tăng cường, xây dựng cơ chế giám sát hợp lý… Hơn nữa đề tài khi hoàn tất sẽ là cơ sở nền tảng cho những nghiên cứu xa hơn về mô hình dự báo phá sản
1.8 Bố cục của nghiên cứu
Đề tài kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Giới thiệu chung về lý do thực hiện đề tài, sơ lược chung về tình hình và điều kiện nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu Chương 1 góp phần đem lại cái nhìn tổng quan chung về bài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về phá sản và các mô hình dự báo phá sản doanh nghiệp
Chương 2 cung cấp những định nghĩa về phá sản cũng như cho thấy tác động phá sản gây ra cho nền kinh tế Chương này cũng đồng thời giới thiệu chi tiết về các
mô hình đã được xây dựng trước đây Sử dụng kết quả những nghiên cứu này làm nền tảng cho đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trang 19Chương 3 trình bày một cách chi tiết về phương pháp phân tích được sử dụng trong việc xây dựng mô hình dự báo phá sản Chương 3 cũng trình bày bộ mẫu
và các biến dùng trong nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Từ phương pháp nghiên cứu và các biến giới thiệu ở chương 3 Chương 4 trình bày các thống kê mô tả các biến đưa vào nghiên cứu để phản ánh đặc trưng của các biến trên thị trường Đồng thời chương 4 cũng trình bày kết quả các kiểm định và cho thấy mô hình dự báo phá sản phù hợp cho thị trường Việt Nam
Chương 5 Kết luận, kiến nghị
Chương 5 tổng kết lại những kết quả của nghiên cứu và đưa ra các kết luận về kết quả đạt được Dựa trên mô hình xây dựng đưa ra một số kiến nghị cho các cơ quan tổ chức có liên quan
Trang 20Ở Anh, các quy định về phá sản được đề cập trong Luật phá sản (Insolvency Act 1986) và hướng dẫn bổ sung trong Luật công ty - Interprise Act
2002 Trong đó, Luật chia thành 2 giai đoạn là giai đoạn đưa vào diện quản lý và giai đoạn tiến hành các thủ tục thanh lý Cụ thể một công ty được cho là mất khả năng trả nợ trong các trường hợp sau:
- Khi tổng khoản nợ đến hạn thanh toán vượt quá 750£ và bên chủ nợ yêu cầu công ty thanh toán các khoản nợ quá 3 tuần mà không nhận được phản hồi, sự đảm bảo hay xác nhận thoả đáng nào từ phía công ty
- Công ty cũng được coi là không có khả năng trả nợ khi có bằng chứng cho thấy tài sản hiện có của công ty nhỏ hơn giá trị nợ mà công ty đó phải thanh toán, điều này cũng còn tuỳ thuộc vào tình trạng của khoản nợ2
Ở Mỹ, một trong những quốc gia mà Luật phá sản có lịch sử lâu đời từ năm
1800 thì đề cập đến phá sản ở một góc độ rất chung Trong đó Luật phá sản Liên Bang quy định nhiều trường hợp đối với cá nhân, doanh nghiệp và đơn vị công
Và ứng với mỗi loại phá sản thì có hình thức giải quyết khác nhau Xét riêng uật phá sản của doanh nghiệp cơ bản chia thành 2 hình thức xử lý: loại thanh lý và loại tổ chức lại
2
Inslovency Act 1986, Part IV, Chapter VI, Grounds and effect of winding- up petition, Section 123
Trang 21Cụ thể trong chương 7: “Trường hợp các cá nhân và doanh nghiệp tiến hành thanh lý tài sản để trả các khoản nợ cho chủ nợ theo thứ tự ưu tiên các khoản nợ
có đảm bảo rồi đến các khoản nợ không đảm bảo
Cá nhân, doanh nghiệp tiến hành thủ tục này khi được đánh giá là không có khả năng đáp ứng các yêu cầu để tổ chức lại”.3
Trong khi đó ở chương 13 của luật này quy định về việc tổ chức lại áp dụng cho những đối tượng đáng tin cậy và thoả được các điều kiện như: Doanh nghiệp phải xây dựng được một kế hoạch trả nợ hợp lý, đồng thời thuyết phục được chủ
nợ về chính sách trả nợ Bên cạnh đó đối tượng được áp dụng hình thức này phải
có khoản nợ này không vượt quá một quy định tuỳ theo mỗi bang Và ứng vào các mức nợ mà quyết định kế hoạch trả nợ trong 3 năm hay 5 năm.4
Chính sự đa dạng trong khái niệm phá sản ở các quốc gia đã dẫn đến sự khác biệt trong việc lựa chọn đối tượng trong các nghiên cứu về mô hình dự báo phá sản tại các quốc gia cũng như ở các thời kỳ
Trong nghiên cứu của Beaver 1966 đưa ra đối tượng nghiên cứu phá sản của ông là khi doanh nghiệp xảy ra một trong các sự kiện như: Tuyên bố phá sản,
vỡ nợ trái phiếu, thâm hụt tài khoản thanh toán hay không có khả năng trả cổ tức
cổ phiếu ưu đãi
Trong nghiên cứu của Altman 1968 thì doanh nghiệp phá sản là những doanh nghiệp phá sản theo đúng quy định tại chương 10 Luật Phá sản của Mỹ năm 19385
Cụ thể trong chương này quy định trường hợp các doanh nghiệp tự nộp đơn xin phá sản hoặc có từ 3 đến 5 chủ nợ có tổng khoản nợ từ 5.000$ trở lên tiến hành nộp đơn yêu cầu thanh lý tài sản 6
Trích Federal Bankruptcy Code Chapter 11: Reorganization Under the Bankruptcy Code, Mục
Background, chapters 11 U.S.C § 1107(a).
Trang 22Trong nghiên cứu của Ohlson 1980 định nghĩa phá sản tương tự như nghiên cứu của Altman là những trường hợp được liệt kê trong chương 10, chương 11 và các doanh nghiệp đang trong tiến trình phá sản Mẫu dữ liệu của Ohlson giới hạn trong giai đoạn từ 1970 đến 1976 đối với những doanh nghiệp nào có cổ phiếu niêm yết hay giao dịch phi tập trung và thuộc nhóm ngành công nghiệp
Khái niệm phá sản theo Luật Phá sản 2004
Xét trên thị trường Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam tại điều
3, Luật Phá sản năm 2004 có quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả
năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.”
Theo hướng dẫn tại mục 2 Phần I Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản, thì doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
“- Có các khoản nợ đến hạn: Các khoản nợ đến hạn phải là các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần (chỉ tính phần không có bảo đảm);
đã rõ ràng; được các bên xác nhận, có đầy đủ các giấy tờ,tài liệu để chứng minh
và không có tranh chấp
- Chủ nợ đã có yêu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn, nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán Chủ nợ yêu cầu phải có căn cứ chứng minh là chủ nợ đã có yêu cầu, nhưng không được doanh nghiệp, hợp tác
xã thanh toán (như văn bản đòi nợ của chủ nợ, văn bản khất nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã…) Do vậy, đối với chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi: (1) Có khoản nợ đến hạn; (2) Chủ nợ đã yêu cầu; (3) Doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ không có khả năng thanh toán.”
Như vậy tuy có những điểm khác biệt nhất định, song nhìn chung thì các định nghĩa về phá sản cũng có sự tương cận nhất định chủ yếu tập trung vào khả năng thực hiện thanh toán các khoản nghĩa vụ của doanh nghiệp
Trang 23Tuy nhiên trong thực tế đối với việc áp dụng Luật Phá sản của Việt Nam cho thấy có rất ít doanh nghiệp tuyên bố phá sản dưới sự quản lý của luật này Vì vậy số lượng doanh nghiệp đưa vào quan sát theo đúng quy định luật Phá sản quá
ít cùng với những hạn chế trong thu thập số liệu không thể đáp ứng được yêu cầu
về cỡ mẫu trong phân tích Do đó trong bài viết này, khi đề cập đến phá sản và doanh nghiệp phá sản là tác giả muốn đề cập đến các doanh nghiệp bị huỷ niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam vì những nguyên nhân tài chính Cụ thể:
Theo điều số 14, Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007 quy định đối với doanh nghiệp bị huỷ niêm yết trong đó có các quy định riêng về huỷ niêm yết khi có các vấn đề về tài chính sau:
a Vốn điều lệ đã góp của tổ chức có cổ phiếu, trái phiếu niêm yết giảm xuống dưới 80 tỷ đồng (CK niêm yết tại SGDCK) hoặc dưới 10 tỷ đồng (CK niêm yết tại TTGDCK)
b Tài sản ròng của quỹ đầu tư giảm xuống dưới 50 tỷ đồng trong 12 tháng liên tục
c Vốn điều lệ đã góp của công ty đầu tư CK giảm xuống dưới 50 tỷ đồng
d Tổ chức niêm yết ngừng hoặc bị ngừng các hoạt động sản xuất - kinh doanh chính từ một năm trở lên
e Kết quả sản xuất - kinh doanh bị lỗ trong 3 năm liên tục và tổng số lũy kế vượt quá vốn chủ sở hữu trong báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất
f Tổ chức niêm yết chấm dứt sự tồn tại do sáp nhập, hợp nhất, chia, giải thể hoặc phá sản, quỹ đầu tư CK chấm dứt hoạt động
g Tổ chức niêm yết đề nghị hủy bỏ niêm yết
Trên cơ sở xem xét việc thực hiện nghiên cứu tại các quốc gia cho thấy việc
sử dụng định nghĩa phá sản là khá đa dạng Tuy nhiên trong bài nghiên cứu của luận văn này khái niệm phá sản dựa trên Nghị định 14/2007/ NĐ-CP Cụ thể hơn tập trung nghiên cứu nhóm doanh nghiệp phi tài chính huỷ niêm yết vì những
Trang 24nguyên nhân tài chính (Cụ thể là các doanh nghiệp thuộc một trong các mục a, d,
e, f, g nêu trên) Nguyên nhân tác giả bỏ đi điểm b và c vì hai điểm này áp dụng điều chỉnh cho công ty chứng khoán và quỹ đầu tư,vốn thuộc nhóm định chế tài chính do đó không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này
Như vậy khái niệm phá sản ở đây hoàn toàn không đồng nhất với khái niệm giải thể hay ngừng hoạt động, phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên việc lựa chọn nhóm doanh nghiệp huỷ niêm yết để nghiên cứu đã từng được sử dụng trong nghiên cứu của nhiều quốc gia như Ying Wang (2010), Jonas Mackevicius (2010) Hơn nữa, thực tế cũng cho thấy nhiều trường hợp các doanh nghiệp thuộc diện huỷ niêm yết cũng là những công ty có tình hình tài chính có vấn đề nghiêm trọng Cụ thể có những doanh nghiệp đã phá sản như trường hợp CTCP Dược Viễn Đông (DVD); doanh nghiệp giải thể như CTCP Cáp SG (CSG), CTCP in Diên Hồng (DHI) và nhiều công ty khác có lỗ vượt vốn điều lệ…
Có rất nhiều nguyên nhân có thể đẩy các doanh nghiệp vào phá sản Trong
đó có thể chia thành hai nhóm:
Là những nguyên nhân có nguồn gốc bên ngoài doanh nghiệp và bản thân doanh nghiệp khó có khả năng đoán định trước cũng như không thể điều tiết đối với các nguyên nhân này Một số nguyên nhân điển hình cụ thể như
Thứ nhất, khủng hoảng kinh tế: Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế thường
kèm theo nó là lạm phát, sức mua của nền kinh tế giảm, sự khan hiếm và thiếu hụt nguồn vốn… Những điều này làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đặc biệt khủng hoảng thông thường không diễn ra ở một quốc gia mà lan truyền giữa các quốc gia và điều này làm cho hậu quả của khủng hoảng kinh tế thường kéo dài trong nhiều năm Đó chính là lý do
vì sao khi kinh tế thế giới trải qua các cuộc khủng hoảng luôn kéo theo nó là sự phá sản của hàng loạt các doanh nghiệp Đó cũng chính là hiện trạng mà nền kinh
tế Việt Nam đối mặt trong thời gian qua
Trang 25Nguồn: Tradingeconomics.com
Biểu đồ 2.1 Tăng trưởng GDP Việt Nam những năm gần đây
Dựa trên biểu đồ 2.1 về tăng trưởng GDP xét từ giai đoạn 2005 đến 2013 ta
có thể dễ dàng thấy được tình hình tăng trưởng GDP ở Việt Nam từ 2009 trở lại đây là thấp nhất tính từ năm 2005 Cụ thể từ năm 2005 đến 2008, GPD tăng trưởng trung bình ở mức 7,89%, đặc biệt giai đoạn 2006 đến 2008 GPD tăng trưởng trên 8% mỗi năm Trong khi từ năm 2009 đến nay tăng trưởng GDP chỉ ở mức trung bình hơn 6% Điều đó cũng cho thấy tình hình khó khăn mà nền kinh
tế đang phải đối mặt
Tính riêng trong năm 2012, tốc độ tăng GDP cả năm 2012 chỉ đạt hơn 5,03% tức chỉ cao hơn so với tốc độ tăng trưởng 4,77% năm 1999 và thấp hơn cả tốc độ tăng năm 2009 Xét năm 2013 tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5,42% tức tăng nhẹ so với năm 2012 và dần có dấu hiệu phục hồi Tuy nhiên những bất ổn kinh
tế tích tụ qua nhiều năm đã buộc Việt Nam phải chuyển trọng tâm chính sách từ
ưu tiên tăng trưởng kinh tế sang ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát Tốc độ tăng GPD thấp, sức mua thị trường giảm và đối mặt với nguy cơ suy thoái là thách thức cho nền kinh tế
Trang 26tế đến tình hình tăng trưởng kinh tế và sức khoẻ của các doanh nghiệp
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và khả năng tồn tại của doanh nghiệp luôn có mối quan hệ mật thiết qua lại Khi tăng trưởng kinh tế chậm lại, sức mua giảm, thị trường thu hẹp dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh công ty sụt giảm, các doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ và thiếu hụt vốn Để có thể duy trì hoạt động các doanh nghiệp phải tiến hành cắt giảm chi phí hoặc thu nhỏ quy mô Việc cắt giảm chi phí, nhân công tạo ra vòng xoáy cắt giảm tiêu dùng từ đó tác
Trang 27động ngược lên tình hình kinh tế càng làm cho cầu hàng hoá và sức mua giảm mạnh và tăng trưởng càng chựng lại Hơn nữa tốc độ tăng trưởng GDP còn là chỉ tiêu phản ánh thực tại nền kinh tế bao hàm nhiều yếu tố vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng Do đó tốc độ tăng trưởng GDP cũng là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến khả năng phát triển hay phá sản của các doanh nghiệp
Thứ hai, Những thay đổi trong chính sách: Một trong những nguyên nhân
khác cũng gây ra rủi ro phá sản cho các doanh nghiệp là sự thay đổi một cách đột ngột của các yếu tố thuộc về chính sách Trong hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp chịu sự chi phối mạnh mẽ của yếu tố chính sách Do đó chỉ sự
ra đời của một chính sách mới cũng có thể ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp Một trong những chính sách có tác động mạnh mẽ phải kể đến là chính sách thuế, chính sách thắt chặt tín dụng, chính sách về lãi suất Bên cạnh tác động trực tiếp, chính sách cũng đồng thời gây ra những tác động gián tiếp thông qua việc tác động vào các chủ thể khác trong nền kinh tế
Thứ ba, Những cú sốc thông tin: Trong thời đại bùng nổ thông tin các
doanh nghiệp còn đứng trước rủi ro là làm sao để giữ vững được uy tín cũng như kịp thời xử lý đối với các thông tin đối với sản phẩm, uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp mình Có rất nhiều doanh nghiệp đã rơi vào tình trạng phá sản hoặc
sự tẩy chay của thị trường khi xuất hiện những thông tin bất lợi Từng thấy trên thị trường Việt Nam như sự sụt giảm và gần như biến mất của sản phẩm thạch rau câu của Tropical khi có thông tin sản phẩm có chất gây ung thư, sản phẩm Vedan sau những bê bối chất thải trên sông Thị Vải…
Bên cạnh những nguyên nhân mang tính khách quan là nhóm có nguồn gốc xuất phát từ bản thân các vấn đề nội tại của doanh nghiệp Có thể kể đến một vài nguyên nhân như:
Một là, Quy mô vốn nhỏ và mỏng: Quy mô vốn là một trong những yếu tố
có ảnh hưởng rất lớn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Một khi quy mô vốn quá nhỏ Các doanh nghiệp dễ dàng bị chi phối hoạt động bởi các doanh
Trang 28nghiệp có quy mô lớn và có vị thế trong ngành Quy mô vốn nhỏ cũng đồng nghĩa các doanh nghiệp thiếu điều kiện để đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại Điều này làm cho các doanh nghiệp khó cạnh tranh so với các doanh nghiệp lớn và dễ dàng bị thâu tóm, đánh mất thị phần và dần biến mất khỏi thị trường Theo báo cáo VCCI về thống kê doanh nghiệp cho thấy từ năm 2002 đến năm 2013 quy mô vốn của các doanh nghiệp có nhiều chuyển biến Trong đó là
sự sụt giảm nhóm doanh nghiệp quy mô vừa và lớn đồng thời là sự bành trướng của nhóm các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ từ chiếm từ 90% năm 2002 lên 95,8% năm 2013 trong đó có tới 2/3 doanh nghiệp siêu nhỏ với số lao động dưới
10 người Đây có thể gọi là sự bước lùi trong quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam Trong khi xu hướng chung của phát triển kinh tế là sự gia tăng về mặt quy
mô của các doanh nghiệp thì nền kinh tế Việt Nam lại đi theo một xu hướng ngược lại Một nguy hại của việc có quy mô vốn cũng như quy mô hoạt động quá
bé là các sự yếu kém trong năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp nước ngoài khi mở cửa thị trường Hơn nữa, đây là trở ngại lớn để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận với việc huy động vốn trên thị trường vốn thế giới
Nguồn: báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2012, 2013 - VCCI
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu quy mô doanh nghiệp 2002- 2013
Trang 29Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ có số lượng tăng đều và ổn định qua các năm từ 53,10% năm 2002 lên tỷ trọng 66,8% năm 2011 Sự gia tăng đều đặn của nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ ngoài việc các doanh nghiệp thành lập mới thì có một phần lớn là sự thu hẹp từ các nhóm doanh nghiệp còn lại
Nhóm doanh nghiệp nhỏ chiếm tỷ lệ dao động từ khoảng 29% đến 35% tổng số Tuy nhiên đang có khuynh hướng giảm dần Cụ thể từ 36,9% của năm
2005 xuống còn 33,4% năm 2008 và còn 29% năm 2013
Cũng phải nói thêm rằng, doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ dù luôn chiếm đa số trong nền kinh tế song tỷ lệ đóng góp của khu vực này cũng rất nhỏ Năm 2011,
tỷ trọng lao động trong các doanh nghiệp nhỏ là 10,1% trong khi các doanh nghiệp lớn thu hút được hơn 52% lao động, dù chỉ nhóm doanh nghiệp này chỉ chiếm có 2,4% trong tổng số doanh nghiệp Với góc độ này, cộng thêm tính thiếu chuyên nghiệp, chuyển dịch lớn của doanh nghiệp nhỏ, sự phát triển của nền kinh
tế sẽ trở nên rất bấp bênh nếu phụ thuộc vào số đông các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ
Doanh nghiệp vừa và lớn đi theo khuynh hướng ngược lại giảm dần qua các năm Cụ thể trong đó doanh nghiệp lớn đã giảm từ 6,5% năm 2002 chỉ còn 2,4% năm 2011 Đây là điều đáng lưu ý Trong đó có tới 13,5% doanh nghiệp quy mô lớn chuyển xuống quy mô vừa, 17,53% chuyển xuống quy mô nhỏ và 2,38% chuyển xuống quy mô siêu nhỏ7
Nhóm doanh nghiệp vừa vốn là nhóm doanh nghiệp tập trung được nhiều
sự quan tâm vì nó là sự chuyển tiếp giữa nhỏ và lớn Có năng lực cạnh tranh tốt hơn so với các nhóm doanh nghiệp nhỏ và có khả năng linh hoạt hơn khi chuyển đổi so với doanh nghiệp lớn Tuy nhiên nhóm này cũng đã giảm từ 3,5% xuống còn 2,1% năm 2011 Trong đó theo phân tích của VCCI, có tới 38,78% doanh nghiệp vừa đã chuyển thành doanh nghiệp nhỏ, thậm chí có tới 5,1% bé lại thành siêu nhỏ8
7Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2012 - VCCI
8Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2012 - VCCI
Trang 30Gắn liền với thực trạng “teo tóp” về quy mô doanh nghiệp, theo số liệu VCCI công bố, tính đến năm 2013 trong khi cả nước có hơn 621.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thì chỉ còn 356.000 doanh nghiệp đang hoạt động Trong số khoảng 100.000 doanh nghiệp phá sản và ngừng hoạt động thì tỷ lệ rơi vào doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khá nhiều Rõ ràng việc các doanh nghiệp thu hẹp quy mô chính là bước đầu dẫn đến giải thể, phá sản Và quy mô doanh nghiệp quá nhỏ cũng là một trong những yếu tố gia tăng nguy cơ phá sản cho
doanh nghiệp
Hai là, Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp: Một trong những nguyên nhân
phá sản doanh nghiệp là sự thiếu cân bằng trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Đặc biệt đối với các doanh nghiệp sử dụng quá nhiều nợ thì nguy cơ vỡ
nợ càng cao Trong đó phải đề cập đến hiện tượng ở khá nhiều các doanh nghiệp
ở Việt Nam nói riêng và ở các quốc gia có thị trường vốn chưa phát triển chính là việc các doanh nghiệp này chủ yếu sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho cơ cấu vốn Điều này xuất phát từ thị trường nợ chưa phát triển hoàn chỉnh, các doanh nghiệp chủ yếu chỉ có thể huy động vốn vay từ ngân hàng, với nhiều đều khoản hạn chế ngặt nghèo, lãi suất cao gây ra những ảnh hưởng đến khả năng huy động
nguồn vay dài hạn Đến lượt việc sử dụng các nguồn vay ngắn hạn này làm thiếu
đi tính ổn định trong khả năng sử dụng nguồn vốn và đây là nguồn gốc đẩy các
doanh nghiệp vào khó khăn
Tình hình sử dụng nợ của doanh nghiệp được thể hiện trong biểu đồ 2.4
Trang 31Nguồn: báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2012 - VCCI
Biểu đồ 2.4 Tình hình sử dụng nợ của doanh nghiệp Việt Nam
theo nhóm ngành
Dựa vào biểu đồ ta có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nợ và sự phụ thuộc này ngày càng có khuynh hướng tăng Cụ thể dao động từ mức 2 đến 2,5 toàn thị trường Hay cụ thể hơn các doanh nghiệp Việt Nam cứ tài trợ 1 đồng bằng vốn chủ sở hữu thì sử dụng từ 2 đến 2,5 đồng vay Đây là rủi ro có thực mà các doanh nghiệp phải đối mặt và phản ánh tính thiếu bền vững trong quá trình phát triển của các doanh nghiệp Đặc biệt là những giai đoạn kinh tế có nhiều biến động như hiện nay Xét đến thời điểm 2011 nhóm ngành có tỷ lệ tài trợ bằng nợ thấp nhất là ngành sản xuất đồ uống với mức 1,7- 1,8 Trong khi ở thời điểm 2005 ngành nghề sử dụng nợ thấp là ngành giới thiệu
và xúc tiến thương mại
Nhóm chế biến thuỷ sản và bán lẻ thực phẩm đồ uống là nhóm có tỷ lệ sử dụng nợ lớn Điều này xuất phát từ đặc trưng của nhóm ngành này Cụ thể như nhóm chế biến thuỷ sản cần nhu cầu vốn lưu động lớn để sản xuất và xuất khẩu Sau khi đã hoàn thành giao sản phẩm mới nhận được doanh thu Còn lĩnh vực bán lẻ thực phẩm thì quan hệ gối đầu diễn ra khá phổ biến Trong đó không có
Trang 32ngành nghề nào có tỷ lệ này 1 Với việc tài trợ bằng nợ đều lớn gấp nhiều lần
so với vốn chủ sở hữu doanh nghiệp đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp phụ thuộc quá lớn vào nợ Điều này giải thích vì sao khi thị trường tín dụng bị thắt chặt thì các doanh nghiệp bị tác động nặng nề và teo tóp Hơn nữa, việc phụ thuộc vào nguồn vay nợ khiến cho các doanh nghiệp dễ bị tổn thương khi xảy ra các biến động kinh tế như lạm phát, khủng hoảng… Trong khi các doanh nghiệp lại chủ yếu có quy mô nhỏ và siêu nhỏ như hiện nay
Ba là, yếu kém trong quản lý và sử dụng nguồn lực: Một trong những
nguyên nhân được sự chú ý của nhiều nhà quản trị doanh nghiệp là việc phá sản xuất phát từ sự yếu kém trong quản lý và sử dụng nguồn lực Trong hoạt động quản trị của một doanh nghiệp yếu tố tối quan trọng là quản lý, điều phối và sử dụng lượng tiền sao cho hợp lý Chỉ một quyết định sai lầm trong nguồn vốn cũng có thể dẫn đến việc thiếu hụt thanh khoản của các doanh nghiệp và dẫn đến phá sản Sự yếu kém trong quản lý có thể xuất phát từ năng lực quản lý của nhà quản trị cũng có thể từ sự bất hợp lý trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Mặc
dù trong thời gian qua các doanh nghiệp Việt Nam không ngừng nỗ lực nâng cao năng lực quản lý song so với nhiều quốc gia Việt Nam vẫn là một quốc gia non trẻ, trình độ quản lý còn nhiều hạn chế Chủ yếu vẫn giới hạn trong quản lý ở các quy mô nhỏ hẹp
Bốn là, Đầu tư dàn trải: Một trong những nguyên nhân đem đến cái chết
của nhiều doanh nghiệp là do việc đầu tư quá dàn trải trên nhiều lĩnh vực trong khi năng lực quản trị yếu kém đã gây ra lãng phí nguồn lực, nhiều mảng đầu tư thua lỗ Đặc biệt trong giai đoạn chứng khoán bùng nổ các doanh nghiệp đua nhau đầu tư vào chứng khoán mà lơ là hoạt động kinh doanh chính đến khi chứng khoán đi xuống các doanh nghiệp đối mặt với nguy cơ mất tính thanh khoản nghiêm trọng là bệnh chung của không ít doanh nghiệp
2.1.3 Các chỉ số phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp
Một doanh nghiệp trước khi lâm vào tình trạng phá sản hầu hết đều có những vấn đề trong tình hình tài chính, sự mất cân đối trong cơ cấu các vấn đề về
Trang 33thanh khoản hay khả năng sinh lời… Chính vì lẽ đó các chỉ số tài chính là một trong những thước đo quan trọng phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp
và cũng là một trong những cơ sở nền tảng cho việc dự báo những rủi ro trong tương lai Nhóm các chỉ tiêu tài chính cơ bản chia thành 5 nhóm: Nhóm khả năng thanh khoản, nhóm cơ cấu tài chính, nhóm khả năng hoạt động, nhóm khả năng sinh lời và nhóm chỉ số thị trường Mỗi nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp ở các khía cạnh khác nhau
a Nhóm khả năng thanh khoản
Nhóm khả năng thanh khoản phản ánh tình hình khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và đến hạn của doanh nghiệp Được đại diện bởi các chỉ tiêu sau:
Khả năng thanh khoản hiện thời
Khả năng thanh toán hiện thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp dựa trên toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Công thức
có dạng như sau:
Trong đó:
Nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động chủ yếu trong những lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ thường có tỷ lệ tài sản ngắn hạn chiếm
Trang 34tỷ trọng lớn trong tổng tài sản do đó nhìn chung khả năng thanh toán hiện thời thường có giá trị khá cao
Khả năng thanh khoản nhanh
Trong khi khả năng thanh toán hiện thời đánh giá dựa trên toàn bộ tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp thì khả năng thanh toán nhanh loại trừ hàng tồn kho vốn được đánh giá là có tính thanh khoản kém Công thức có dạng như sau:
Trong đó:
- EBIT: Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
- I: Lãi vay
Khả năng thanh toán lãi vay là chỉ tiêu đánh giá năng lực thanh toán các khoản lãi vay dựa trên Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Khi chỉ tiêu này bằng 1 cho thấy khoản lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa đủ để thanh toán các khoản lãi vay chưa tính đến thanh toán các khoản nợ gốc và các nghĩa vụ tài chính phát sinh khác Do đó ngưỡng 1 là dấu hiệu cảnh báo doanh nghiệp về những khó khăn doanh nghiệp có thể phải đối mặt Chỉ tiêu khả năng thanh toán lãi vay càng cao thì cho thấy doanh nghiệp càng có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của mình
Bên cạnh những chỉ tiêu cơ bản có những chỉ tiêu khác cũng phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp như khả năng thanh toán bằng tiền, các tỷ số giữa dòng tiền so với nghĩa vụ nợ phát sinh, các tỷ số giữa vốn luân chuyển so với tài sản của doanh nghiệp…
Trang 35b Nhóm cơ cấu tài chính
Nhóm chỉ tiêu cơ cấu tài chính nhằm phản ánh sự phân phối các nguồn lực của doanh nghiệp Cơ cấu tài chính chịu tác động khá lớn bởi đặc điểm ngành và hoạt động sản xuất kinh doanh
Hệ số nợ:
Trong đó:
- NPT: Nợ phải trả
- TTS: Tổng tài sản
Chỉ số này cho biết tỷ lệ nợ chiếm bao nhiêu trên tổng tài sản của doanh nghiệp Ngưỡng thông thường cho tỷ lệ là 50% so với tổng tài sản của doanh nghiệp Hay nợ phải trả bằng vốn chủ sở hữu Đối với các lĩnh vực kinh doanh khác nhau sẽ có hệ số nợ khác nhau Song rõ ràng hệ số nợ càng lớn thì rủi ro của doanh nghiệp càng gia tăng Đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam do những khó khăn trong vấn đề tiếp cận thị trường vốn dài hạn cũng như vấn đề chi phí các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng nợ ngắn hạn Điều này có thể tạo ra các áp lực chi trả cao đối với doanh nghiệp Việt Nam trong ngắn hạn Tuy nhiên điều đó tuỳ thuộc vào tính chất của các khoản vay ngắn hạn đến từ các khoản vay ngân hàng hay từ các khoản chiếm dụng vốn
Tỷ lệ tự tài trợ
Trong đó: VCSH: Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu khả năng tự tài trợ cho biết doanh nghiệp sử dụng bao nhiêu vốn chủ sở hữu để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp Tỷ lệ tự tài trợ càng cao thì khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp càng tốt Tuy nhiên một tỷ lệ tự tài trợ quá cao lại không tận dụng được các ưu thế từ đòn bẩy tài chính do đó tỷ
lệ tự tài trợ thường được chấp nhận ở mức khoảng 50% so với tổng tài sản Tuy
Trang 36nhiên trong một số ngành nghề đặc thù tỷ lệ vốn chủ sở hữu có thể chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu
Trong đó:
- NPT: Nợ phải trả
- VCSH: Vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu đánh giá tỷ lệ giữa tài trợ bằng nợ và tài trợ bằng vốn chủ sở hữu Tỷ số thường được đánh giá ở ngưỡng bằng 1 Khi đó tỷ lệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu là ngang nhau Khi chỉ tiêu này > 1 cho thấy
nợ chiếm tỷ trọng lớn hơn vốn chủ sở hữu Điều này cho thấy rủi ro của doanh nghiệp cao do khi các nghĩa vụ phát sinh xảy ra vốn chủ sở hữu không đủ để thực thi các nghĩa vụ Nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam có cơ cấu nợ chiếm tỷ trọng lớn so với nợ
Bên cạnh những chỉ tiêu cơ bản trên, có những chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính khác như tỷ lệ các loại nợ so với tổng nợ, tổng tài sản Ngoài ra trong một
số trường hợp người ta có thể tính toán cơ cấu tài chính dựa trên giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu
c Nhóm hiệu quả hoạt động
Trong khi những chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản hay cơ cấu tài chính cho thấy cách thức phân phối các nguồn lực của doanh nghiệp thì nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động cho thấy khả năng sử dụng đồng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra doanh thu, hiệu quả trong việc quay vòng vốn và thu hồi các khoản phải thu…
Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Là chỉ tiêu đánh giá khả năng sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của doanh nghiệp Hay khả năng tạo ra doanh thu từ toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện dưới dạng công thức:
Trang 37
Trong đó:
- DTT: Doanh thu thuần
- : Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu vòng quay vốn kinh doanh cho thấy trong một kỳ phân tích vốn kinh doanh quay bao nhiêu vòng Chỉ tiêu này cũng được hiểu 1 đồng vốn kinh doanh trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh càng lớn thì cho thấy doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả và rủi ro phá sản được giảm thiểu
- DTT: Doanh thu thuần
- : Hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Vòng quay hàng tồn kho càng lớn cho thấy trong kỳ hàng tồn kho quay được càng nhiều vòng và hiệu quả sử dụng hàng tồn kho càng cao Vòng quay hàng tồn kho phụ thuộc vào đặc điểm lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh Trong một số lĩnh vực sản xuất đòi hỏi việc lưu kho nhiều hàng hoá hay giá trị hàng tồn kho lớn cũng có ảnh hưởng làm giảm đi vòng quay hàng tồn kho, trong khi ở một số lĩnh vực kinh doanh khác như lĩnh vực dịch vụ giá trị hàng tồn kho rất nhỏ do đó tạo ra vòng quay hàng tồn kho lớn Song nhìn chung vòng quay hàng tồn kho càng lớn thì càng tốt
Trang 38 Vòng quay khoản phải thu
Trong khi hầu hết các chỉ tiêu vòng quay đều nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thì vòng quay khoản phải thu đánh giá khả năng thu hồi các khoản bị chiếm dụng của doanh nghiệp được thể hiện qua công thức:
Trong đó:
- VQKPT: Vòng quay khoản phải thu
- : Doanh thu bán chịu trong kỳ
- : Khoản phải thu bình quân trong kỳ
Vòng quay khoản phải thu cho biết khả năng thu hồi vốn nhanh hay chậm trong quá trình thanh toán Một điểm lưu ý khi tính toán chỉ tiêu này phải sử dụng doanh thu bán chịu trong kỳ để tính toán, tuy nhiên trong một số trường hợp không đủ dữ liệu về doanh thu bán chịu ta có thể sử dụng doanh thu thuần để thay thế
Ngoài các chỉ tiêu cơ bản trên hiệu quả sử dụng vốn còn được thể hiện trên nhiều chỉ tiêu như vòng quay vốn chủ sở hữu, tỷ lệ giữa doanh thu và dòng tiền,
tỷ lệ giữa lợi nhuận giữ lại và doanh thu…
Nhìn chung đối với nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động không có một ngưỡng chung nào phản ánh tình trạng an toàn hay rủi ro của doanh nghiệp Bởi lẽ với từng lĩnh vực kinh doanh khác nhau sẽ có giá trị trung bình phù hợp cho ngành nghề đó Ngoài ra hiệu quả hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc vào hiệu suất chung của toàn nền kinh tế và nhiều yếu tố kinh tế xã hội khác Đối với nhóm hiệu quả hoạt động đạt giá trị càng lớn thì cho thấy doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và an toàn
Trang 39d Nhóm chỉ tiêu tỷ suất sinh lời
Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời là một trong những thước đo quan trọng phản ánh khả năng làm ra lợi nhuận của doanh nghiệp Thông thường được đại diện bởi 3 chỉ tiêu cơ bản ROA, ROS, ROE
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản là chỉ tiêu phổ biến để phản ánh sức khoẻ của doanh nghiệp Công thức như sau:
Trong đó:
- ROA: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
- LNST: Lợi nhuận sau thuế
- TTS: Tổng tài sản
ROA cho biết mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này bị chi phối lớn bởi quy mô của doanh nghiệp Doanh nghiệp có quy mô càng lớn càng tạo ra áp lực sinh lời cho doanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận tính trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu Công thức có dạng:
Trong đó:
- ROE: tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
- LNST: Lợi nhuận sau thuế
Trang 40toán theo các phương pháp khác thì ROE còn được xem như chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Lợi nhuận ròng biên (ROS)
Trong khi các chỉ tiêu khác đánh giá khả năng sinh lời trên đồng vốn thì lợi nhuận ròng biên đánh giá khả năng sinh lời trên doanh thu Có công thức như sau:
Trong đó:
- ROS: Lợi nhuận ròng biên
- LNST: Lợi nhuận sau thuế
- DTT : Doanh thu thuần
ROS cho biết cứ 1 đồng doanh thu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Bên cạnh phản ánh khả năng sinh lời của doanh nghiệp, lợi nhuận ròng biên còn là một tiêu thức phản ánh khả năng quản lý chi phí của doanh nghiệp
Cũng tương tự với nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động, tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp có giá trị càng lớn thì càng tốt Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này mang giá trị <0 thì cho thấy doanh nghiệp đang kinh doanh thua lỗ và đang đối mặt với các vấn đề tài chính Nếu tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp <0 liên tục trong nhiều năm là một trong những cơ sở dự báo phá sản cho doanh nghiệp đó Bên cạnh những chỉ tiêu cơ bản trên, khả năng sinh lời còn có thể được tính toán trên nhiều chỉ tiêu khác như khả năng sinh lời trên nợ phải trả, trên tài sản
cố định, trên giá trị thị trường vốn chủ sở hữu… Ngoài việc sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế để phản ánh khả năng sinh lời người ta còn có thể sử dụng lợi nhuận trước thuế hay EBIT để đánh giá
e Nhóm chỉ số giá thị trường
Nhóm chỉ số giá trị trường là nhóm chỉ số thu hút nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư đối với nhóm doanh nghiệp niêm yết Nhóm chỉ số giá thị trường phản ánh những kỳ vọng của thị trường đối với doanh nghiệp là cơ sở cho thấy đánh giá bên ngoài đối với bản thân doanh nghiệp đó