BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH --- NGUYỄN THỊ XUÂN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VỀ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
1.1 Đại cương về đái tháo đường
1.1.1.Định nghĩa: Đái tháo đường là bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết do khiếm khuyết tiết insulin, hoạt động của insulin hoặc cả hai Tình trạng tăng đường huyết mạn tính của ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy đa cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim mạch
- ĐTĐ type 1 Tế bào β bị phá hủy, thường dẫn tới thiếu insulin hoàn toàn - ĐTĐ type
Bệnh tiểu đường tự miễn dịch (ĐTĐ tự miễn dịch) xảy ra khi các tế bào β của tuyến tụy bị phá hủy bởi chất trung gian miễn dịch, quá trình này có thể diễn ra nhanh hoặc chậm Phá hủy nhanh thường xuất hiện ở trẻ em, trong khi đó, dạng phá hủy chậm hơn thường gặp ở người lớn và được gọi là ĐTĐ tự miễn dịch tiềm tàng ở người lớn (LADA - latent autoimmune diabetes in adults).
- ĐTĐ type 1 vô căn, không thấy căn nguyên miễn dịch
ĐTĐ loại 2, thường được gọi là ĐTĐ không phụ thuộc insulin hoặc ĐTĐ ở người lớn, đặc trưng bởi tình trạng kháng insulin đi kèm với thiếu hụt insulin tương đối Trong phần lớn thời gian mắc bệnh, những người bị ĐTĐ type 2 không cần sử dụng insulin để duy trì sinh mạng Nguyên nhân chính xác của bệnh ĐTĐ type 2 vẫn chưa được làm rõ, gây thách thức trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh hiệu quả.
1.1.3 Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ type 2
Tình trạng kháng insulin thường xuất hiện ở hầu hết các đối tượng bị ĐTĐ type 2, gây ra tăng đường huyết do khả năng bài tiết insulin của tế bào β tuyến tụy không đáp ứng đủ nhu cầu chuyển hóa Trong thời kỳ đầu, cơ thể tăng cường insulin để bù trừ, nhưng sau đó các tế bào β dần suy giảm, dẫn đến thiếu hụt insulin rõ ràng và tiến triển của bệnh Quá trình này còn liên quan đến mất khả năng phóng thích insulin pha đầu và dạng tiết giao động, gây ra tình trạng kháng insulin kéo dài Tăng đường huyết và lượng acid béo tự do cao mạn tính góp phần gây tổn thương tế bào β, gọi là “ngộ độc glucose”, dẫn tới suy giảm chức năng tế bào đảo tụy Các thay đổi mô học trong tuyến tụy của bệnh nhân ĐTĐ type 2 lâu dài bao gồm tích tụ amyloid và giảm số lượng tế bào β sản xuất insulin Di truyền đóng vai trò khoảng 50% trong việc gây ra kháng insulin, trong khi yếu tố môi trường như béo phì (đặc biệt là béo bụng), tuổi cao và lười vận động có ảnh hưởng đáng kể.
1.1.4 Chẩn đoán Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ (theo Hiệp Hội Đái tháo đường
Chẩn đoán tiểu đường theo tiêu chuẩn của Mỹ - ADA dựa trên ít nhất một trong bốn tiêu chí: glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (7 mmol/L), hoặc glucose huyết sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp 75g glucose ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L), hoặc HbA1c ≥ 6,5% (được xác nhận bằng phương pháp chuẩn hóa quốc tế), hoặc có triệu chứng lâm sàng rõ ràng của tăng đường huyết hoặc cơn tăng đường cấp kèm mức glucose ≥ 200 mg/dL Chẩn đoán xác định khi có ít nhất hai kết quả phù hợp trong cùng một xét nghiệm.
1 mẫu máu xét nghiệm hoặc ở 2 thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b hoặc c; riêng tiêu chí d: chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất
Đo glucose huyết đói là xét nghiệm diễn ra khi bệnh nhân nhịn ăn ít nhất 8 giờ, không uống nước ngọt nhưng có thể uống nước lọc hoặc nước đun sôi để nguội Thời gian nhịn đói thường kéo dài qua đêm từ 8 đến 14 giờ để đảm bảo độ chính xác của kết quả xét nghiệm đường huyết.
Nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống cần tuân thủ hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới, bao gồm việc nhịn đói từ nửa đêm trước khi thực hiện để đảm bảo độ chính xác của kết quả Bệnh nhân uống 75g glucose hòa trong 250-300ml nước trong vòng 5 phút sau khi chuẩn bị đầy đủ chế độ ăn gồm 150-200g carbohydrate mỗi ngày trong 3 ngày trước đó, và không mắc các bệnh lý cấp tính cũng như không sử dụng thuốc làm tăng glucose huyết Mục đích của nghiệm pháp này là định lượng glucose huyết tĩnh mạch để chẩn đoán chính xác các vấn đề liên quan đến chuyển hóa glucose.
1.1.5 Các biến chứng của đái tháo đường Đái tháo đường không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính Người bệnh có thể tử vong do các biến chứng này Kể cả những người bệnh được kiểm soát tốt thì biến chứng của bệnh ĐTĐ là điều không thể tránh khỏi Nhưng có thể can thiệp để giảm mức độ các biến chứng và làm chậm quá trình xảy ra biến chứng ở người đái tháo đường
- Nhiễm toan ceton và hôn mê nhiễm toan ceton
- Hôn mê nhiễm toan acid lactic
- Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu
- Các bệnh nhiễm trùng cấp tính
+ Bệnh lý võng mạc ĐTĐ
+ Các biến chứng mắt ngoài võng mạc
- Thận: bệnh lý vi mạch thận gây xơ hóa cầu thận dẫn đến suy thận mạn
+ Bệnh lý đa dây thần kinh- bệnh lý thần kinh lan tỏa, bệnh lý thần kinh ổ + Bệnh lý thần kinh tự động
- Bệnh lý bàn chân ĐTĐ
- Rối loạn chức năng sinh dục
1.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng người bệnh ĐTĐ type 2
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể qua các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hóa sinh Đánh giá TTDD giúp xác định chính xác, toàn diện tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân, từ đó xây dựng kế hoạch chăm sóc dinh dưỡng phù hợp Quá trình này cũng là cơ sở để theo dõi hiệu quả các can thiệp dinh dưỡng và diễn biến bệnh trong quá trình điều trị Mặc dù không có kỹ thuật nào mang lại kết quả chính xác hoàn toàn cho mọi bệnh nhân, việc đánh giá giúp các bác sĩ chú ý hơn đến tình trạng dinh dưỡng và gợi ý các xét nghiệm cần thiết Phát hiện sớm tình trạng thiếu dinh dưỡng là yếu tố then chốt để xây dựng chiến lược hỗ trợ dinh dưỡng kịp thời, tránh tình trạng suy kiệt nặng hơn khi thực hiện các biện pháp can thiệp.
1.2.2 Các nội dung trong đánh giá TTDD của người bệnh
- Tiền sử: Dinh dưỡng, chế độ ăn, tiền sử về quá trình điều trị
- Tìm hiểu về khẩu phần dinh dưỡng
- Thăm khám lâm sàng để phát hiện các triệu chứng thiếu dinh dưỡng
- Đánh giá các chỉ số nhân trắc
- Tình trạng dự trữ năng lượng của cơ thể
- Các chỉ số về sinh hóa và thông tin về thói quen ăn uống
1.2.3 Một số phương pháp đánh giá TTDD người bệnh
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
- Các thăm khám thực thể/ dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng
Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu bao gồm hóa sinh trong dịch thể và các chất bài tiết như máu và nước tiểu giúp xác định mức bão hòa của chất dinh dưỡng trong cơ thể.
- Các kiểm nghiệm chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong Sử dụng các thống kê y tế để tìm hiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh và TTDD
Nhân trắc học dinh dưỡng nhằm đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng, giúp đánh giá mức độ suy dinh dưỡng và các dấu hiệu phát triển trong quá khứ Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, an toàn, phù hợp để điều tra trên quy mô lớn, với trang thiết bị rẻ tiền, dễ di chuyển Tuy nhiên, nhược điểm của nhân trắc học là không nhạy để phát hiện các biến đổi trong thời gian ngắn hoặc xác định chính xác các thiếu hụt dinh dưỡng riêng lẻ Các chỉ tiêu kích thước nhân trắc có thể được chia thành nhiều nhóm khác nhau để phục vụ mục đích đánh giá dinh dưỡng.
- Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng
- Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao
- Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ
Các số đo nhân trắc đóng vai trò quan trọng trong đánh giá tình trạng thể chất và sức khỏe, phản ánh cả tình trạng sức khỏe và khả năng hoạt động của người bệnh Chúng bao gồm các chỉ số như trọng lượng cơ thể, chiều cao, khối mỡ (vòng eo, BMI, bề dày lớp mỡ dưới da), khối cơ (vòng cánh tay), thành phần cơ thể và lượng nước trong cơ thể Các số đo này không chỉ đánh giá tình trạng hiện tại mà còn là các chỉ số dự báo khả năng hoạt động, sức khỏe lâu dài và sự sống còn của cá nhân Trong thực hành lâm sàng, việc sử dụng các số đo nhân trắc giúp xác định chính xác hơn về thể trạng và hướng điều trị phù hợp.
Bảng 1.1 Phân loại thừa cân và béo phì theo BMI
Phân loại IDF&WPRO BMI(kg/𝒎𝟐)
IDF & WPRO BMI là phương pháp phân loại dựa trên chỉ số BMI do Viện Nghiên cứu Đái tháo đường Thế giới (IDI) và Cơ quan Khu vực Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế Thế giới (WPRO) công bố năm 2004 để phù hợp với cộng đồng các nước châu Á Chỉ số BMI (Body Mass Index) là thước đo phổ biến để đánh giá tình trạng béo phì và thừa cân, giúp xác định nguy cơ sức khỏe dựa trên tỷ lệ cân nặng so với chiều cao Phương pháp phân loại này giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu có cái nhìn chính xác hơn về tỷ lệ béo phì trong các cộng đồng châu Á, từ đó đưa ra các chiến lược phòng ngừa và kiểm soát bệnh phù hợp.
BMI được dùng để đánh giá mức độ gầy hay béo của một người Chỉ số này do nhà bác học người Bỉ Adolphe Quetelet đưa ra năm 1832
Vòng eo, vòng mông (cm)53:
Vòng eo nguy cơ cao đối với nam ≥90 cm, nữ ≥80 cm,
Tỷ lệ vòng eo/vòng mông cao với nam là ≥0,9; nữ ≥0,8
* Đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào các xét nghiệm
- Glucose máu: Xét nghiệm giúp chẩn đoán xác bất thường chuyển hóa glucose máu: + Để chẩn đoán và kiểm soát bệnh ĐTĐ
+ Để chẩn đoán tình trạng hạ đường huyết
Để chẩn đoán và theo dõi các rối loạn chuyển hóa carbohydrate, bao gồm đái tháo đường thai kỳ, hạ đường huyết ở trẻ sơ sinh, hạ đường huyết vô căn và ung thư biểu mô tế bào đảo tụy, việc sử dụng các phương pháp xét nghiệm phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chính xác tình trạng sức khỏe.
HbA1c là chỉ số quan trọng để theo dõi sự kiểm soát đường huyết dài hạn ở người bệnh ĐTĐ, phản ánh hiệu quả điều trị và khả năng dự đoán các biến chứng vi mạch Hạ thấp nồng độ HbA1c xuống dưới 7% đã được chứng minh giúp giảm thiểu nguy cơ xuất hiện các biến chứng về thần kinh và vi mạch Theo Hội Đái tháo đường Mỹ (ADA), mục tiêu chung là duy trì HbA1c dưới 7%, trong khi đó các đối tượng đặc biệt nên cố gắng giữ HbA1c càng gần giá trị bình thường (< 6%) càng tốt mà không gây hạ đường huyết đáng kể Xét nghiệm HbA1c không thể thiếu trong quy trình dài hạn để theo dõi và chăm sóc người bệnh ĐTĐ, đặc biệt là những người có đường huyết khó kiểm soát.
* Đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào khám lâm sàng
Cơ sở thực tiễn
2.1 Tình hình nghiên cứu về ĐTĐ type II trên thế giới
Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type II gia tăng mạnh mẽ trên toàn cầu, gây ra những lo ngại nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo về tình trạng này, nhấn mạnh rằng bệnh tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tỷ lệ tử vong, tàn phế và gánh nặng kinh tế ngày càng lớn Sự gia tăng đột biến của ĐTĐ type II đòi hỏi các phương án phòng chống và điều trị hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực tới xã hội.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, năm 1994, chỉ có 110 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, nhưng đến năm 1995, con số này đã tăng lên 135 triệu người, chiếm khoảng 4% dân số toàn cầu Đến năm 2015, theo Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế (IDF), ước tính có khoảng 8,8% dân số thế giới sống chung với bệnh Đái tháo đường.
- 415 triệu người tuổi từ 20 - 79 mắc bệnh ĐTĐ dự báo vào năm 2040 số người mắc bệnh ĐTĐ 642 triệu
2.2 Tình hình nghiên cứu về ĐTĐ type II tại Việt Nam
2.2.1 Tỉ lệ mắc Đái tháo đường Ở Việt Nam thống kê ở một số bệnh viện lớn cho thấy ĐTĐ type II là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh nội tiết Nghiên cứu của Tô Văn Hải và Ngô Mai Xuân tại Bình Định [15] cũng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn nam, ở nhóm ít hoạt động thể lực cao hơn nhóm hoạt động thể lực nhiều Việt Nam không phải là nước có tỷ lệ người bệnh ĐTĐ cao nhất thế giới, nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát bệnh nhanh nhất thế giới Tuy nhiên nhận thức của cộng đồng về bệnh ĐTĐ, nhất là kiến thức phòng bệnh lại rất thấp Do nhận thức về bệnh tật thấp cũng như những hạn chế của mạng lưới y tế nên tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ không được phát hiện trong cộng đồng còn cao, chiếm 64,5% Vào thời điểm bệnh ĐTĐ được chẩn đoán 50% số người bệnh đã xuất hiện biến chứng, ĐTĐ thường được phát hiện muộn, nhất là ĐTĐ type 2 Thường khi phát hiện khoảng 20% người bệnh đã tổn thương thận, 8% có tổn thương võng mạc, 9% có tổn thương thần kinh và 50% đã có bệnh tim mạch Theo tác giả Nguyễn Văn Quynh (2003) Bệnh Viện Trung Ương Quân Đội 108, đã nghiên cứu các biến chứng và đặc điểm tổn thương thận ở người bệnh ĐTĐ type 2; qua nghiên cứu 218 người bệnh ĐTĐ type 2 nhận thấy: ĐTĐ type 2 thường có nhiều biến chứng phối hợp và tăng theo thời gian bị bệnh Sau 15 năm bị bệnh:100% có tổn thương tim mạch; 76,1% tổn thương mắt; 71,1% tổn thương thận Tổn thương thận tăng theo thời gian bị bệnh, biểu hiện sớm nhất là protein niệu Sau 15 năm có 100% tăng huyết áp và 93,3% suy thận trong đó có 26,7% suy thận độ VI Nguyễn Thị Ngọc Hân và cộng sự (2010) nghiên cứu 165 người bệnh ĐTĐ type 2 và nhận thấy rằng 62,4% số người bệnh chấp hành tốt việc điều trị, 65,5% số người bệnh kiểm soát tối ưu BMI, 40% về huyết áp, 32,1% về cholesterol, 33,3% về tryglycerid, 30,3% về glucose máu và 31,5% về HbA1C Tại Hà Nam số người bệnh ĐTĐ type II ngày một tăng nhưng nhiều người khi được phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, có nhiều biến chứng Năm 2015 theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, qua điều tra, tổ chức khám sàng lọc ĐTĐ type II cho hơn 8.000 người, tại 15 phường xã của thành phố Việt Trì, đã phát hiện 700 trường hợp ĐTĐ (chiếm 8,75%) và 1.200 trường hợp tiền ĐTĐ (chiếm gần 25%)
2.2.2 Kiến thức về dinh dưỡng của người bệnh Đái tháo đường
Theo nghiên cứu của Bùi Nam Trung, Đỗ Quang Tuyển, Trần Thị Thanh Hương tại Bệnh viện Lão khoa Trung Ương năm 2012, có tới 98% bệnh nhân hiểu rõ về việc lựa chọn thực phẩm để tăng cường chất xơ và giảm hấp thu glucose, trong đó rau là thực phẩm chính Tuy nhiên, kiến thức đúng về các loại thực phẩm cần tránh như dưa hấu chỉ đạt 17,6% và dứa là 21,5% Ngoài ra, nghiên cứu của Hà Thị Huyền cho thấy có đến 40,6% bệnh nhân đái tháo đường tuýp II tại bệnh viện tỉnh Kon Tum không rõ về chế độ ăn kiêng phù hợp, cho thấy mức độ hiểu biết còn hạn chế trong việc chăm sóc y tế và quản lý bệnh lý này.
Nghiên cứu của Đặng Thanh Nhàn và cộng sự cho thấy, kiến thức đúng về phòng bệnh ĐTĐ và chế độ ăn kiêng 50,4% [10] Nghiên cứu của Trần Văn Hải
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lành (2013) tại Hậu Giang cho thấy, trong số 162 người mắc ĐTĐ chưa có biến chứng, chỉ có 25,9% có kiến thức đúng về biến chứng của bệnh, trong khi phần lớn đến 74,1% vẫn chưa có kiến thức đầy đủ về các biến chứng liên quan đến ĐTĐ Kết quả tổng quát từ năm 2013 cho thấy chỉ khoảng 25,9% người dân có kiến thức chung về ĐTĐ, điều này phản ánh mức độ nhận thức còn hạn chế về căn bệnh này trong cộng đồng.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 440 người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Đông Anh năm 2020 cho thấy tỷ lệ người bệnh có tình trạng thừa cân là 15,7%, béo phì là 0,9% theo phân loại của WHO, trong khi theo phân loại của WPRO, tỷ lệ này lần lượt là 28,4% và 16,6% Chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình của nhóm nghiên cứu là 22,7 ± 2,6 kg/m2 Tỷ lệ kiểm soát glucose máu đạt các chỉ số về glucose đói, HbA1c, LDL-C, HDL-C, triglycerid, cholesterol máu lần lượt là 55,7%, 62,5%, 59,1%, 69,1%, 41,1% và 65,2% Một nghiên cứu khác trên 255 bệnh nhân ĐTĐ từ 20-70 tuổi tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy 62,0% có dinh dưỡng bình thường theo BMI, 33,3% mắc TCBP, và 4,7% thiếu năng lượng trường diễn Các yếu tố liên quan đến TCBP gồm nhóm tập thể dục không đạt khuyến nghị có nguy cơ thừa cân, béo phì cao gấp 2,46 lần (95% CI: 1,4-4,2), trong đó khẩu phần dư thừa năng lượng, tỷ lệ protein >20%, lipid >30% và cholesterol khẩu phần ≥300mg là các yếu tố nguy cơ chính gây thừa cân, béo phì.
MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYÊT
1 Giới thiệu sơ lược về Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam là bệnh viện hạng I tự chủ về tài chính, với quy mô 550 giường kế hoạch trên tổng số 665 giường thực kê Hiện tại, bệnh viện có đội ngũ nhân lực gồm 656 cán bộ viên chức, trong đó có 506 cán bộ biên chế và 142 cán bộ hợp đồng, đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cao Trong số các cán bộ này, có 98 người có trình độ sau đại học và 374 người có trình độ đại học, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và dịch vụ y tế tại địa phương.
Năm 2021, bệnh viện đã khám và điều trị cho 67.945 bệnh nhân nội trú và 169.507 bệnh nhân ngoại trú, trong đó hơn 2.000 bệnh nhân đái tháo đường tham gia khám và điều trị hàng tháng Tuy nhiên, do thiếu nhân lực và đông bệnh nhân đến khám, việc tư vấn về kiểm soát bệnh và phòng biến chứng chưa được đầy đủ Khu vực chờ khám hiện chưa có nhiều tranh ảnh, tài liệu về bệnh ĐTĐ và cách tự chăm sóc, chế độ dinh dưỡng Công tác truyền thông còn hạn chế, cán bộ y tế chưa được đào tạo chuyên sâu về tư vấn giáo dục sức khỏe và kỹ năng truyền thông, làm ảnh hưởng đến hiệu quả tư vấn cho người bệnh.
Toàn cảnh BVĐK tỉnh Hà Nam
2 Thực trạng kiến thức về chế độ dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type II điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam từ 01/05/2022 đến 30/06/ 2022
2.1 Đối tượng và phương pháp khảo sát
Người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường khám và điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh - BVĐK Hà Nam từ 01/05/2022 đến 30/06/2022
- Người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường khám và điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh - BVĐK Hà Nam từ 01/05/2022 đến 30/06/2022
- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên, tỉnh táo, minh mẫn, có khả năng giao tiếp
- Người bệnh đồng ý tham gia khảo sát
- Người bệnh chưa được chẩn đoán là tăng huyết áp
- Người bệnh hạn chế về nghe, nói, không đủ khả năng tỉnh táo, minh mẫn để hoàn thành khảo sát hoặc trả lời phỏng vấn của ĐTV
- Người bệnh không đồng ý tham gia khảo sát
* Thời gian và địa điểm khảo sát:
Khảo sát được tiến hành từ 01/05/2022 đến ngày 30/06/2022 tại khoa Khám bệnh - BVĐK tỉnh Hà Nam
Kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện tích lũy được sử dụng để chọn các người bệnh đái tháo đường khám và điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam Tất cả các bệnh nhân đủ điều kiện sẽ nhận phiếu phỏng vấn để tự điền thông tin; trong trường hợp người bệnh không hiểu nội dung câu hỏi, điều tra viên sẽ giải thích rõ ràng để đảm bảo dữ liệu chính xác và đầy đủ.
Trong quá trình khảo sát theo phương pháp thuận tiện tích lũy, chúng tôi đã thu thập dữ liệu từ 85 người bệnh đủ điều kiện tham gia nghiên cứu.
* Công cụ thu thập số liệu:
- Công cụ thu thập số liệu được xây dựng sẵn thành bộ câu hỏi khảo sát (xem chi tiết tại Phụ lục 1)
Trong quá trình thu thập số liệu, tất cả bệnh nhân được bác sĩ chẩn đoán mắc đái tháo đường đều nhận phiếu phỏng vấn Các bệnh nhân được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn nhằm đảm bảo đáp ứng mục tiêu nghiên cứu Phiếu phỏng vấn gồm nhiều phần khác nhau, giúp thu thập dữ liệu toàn diện về tình trạng và đặc điểm của người bệnh.
- Phần I: Một số thông tin chung của ĐTKS (gồm 5 câu hỏi)
- Phần II: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng (gồm 3 câu hỏi)
- Phần III: Đánh giá kiến thức và thói quen của người bệnh (gồm 15 câu hỏi)
- Phần IV: Đánh giá thái độ phục vụ của NVYT và nhu cầu cung cấp thông tin của người bệnh
Tổng số người được khảo sát là 85 người bệnh
* Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu khảo sát được xử lý trên phần mềm SPSS 20.0
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/05 đến ngày 30/05 năm 2022, cuộc khảo sát đã thu thập được dữ liệu từ 85 người đáp ứng đầy đủ các tiêu chí lựa chọn Kết quả khảo sát cho thấy những thông tin quan trọng liên quan đến đối tượng nghiên cứu, giúp hiểu rõ hơn về xu hướng và đặc điểm của nhóm người tham gia Các số liệu thu thập đều phản ánh chính xác tình hình thực tế, tạo nền tảng vững chắc để phân tích và đưa ra các kết luận phù hợp.
2.2.1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm giới, tuổi, dân tộc Đặc điểm
Theo kết quả bảng 2.2.1, phần lớn đối tượng nghiên cứu là phụ nữ, chiếm 57,6%, và đa số nằm ở độ tuổi trên 60 tuổi, chiếm 68,2% Trong số những người mắc bệnh, dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất với 95,2%, cho thấy nhóm nghiên cứu chủ yếu là người Kinh trung tuổi trở lên.
2.2.2: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tổng số
Theo bảng 2.2.2, đối tượng nghiên cứu chủ yếu có trình độ học vấn THCN (43,5%), Cao đẳng (29,5%) và Đại học (27%), phản ánh sự đa dạng về trình độ giáo dục trong mẫu khảo sát Trong số đó, nghề nghiệp hiện tại của các đối tượng chủ yếu là cán bộ hưu trí (56,4%), công chức, viên chức (21,1%), tiếp đến là công nhân (14,1%) và các đối tượng khác chiếm khoảng 8,2% Các số liệu này cung cấp cái nhìn rõ nét về đặc điểm nhân khẩu học của nhóm nghiên cứu, góp phần vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
2.2.3 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.2.3: Phân bố chỉ số BMI ở đối tượng nghiên cứu BMI