1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực phúc yên năm 2022

47 32 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022
Tác giả Nguyễn Xuân Diệu Linh
Người hướng dẫn TS. Mai Thị Lan Anh
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Điều dưỡng nội người lớn
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 736,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (0)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (12)
      • 1.1.1. Đại cương về tăng huyết áp (12)
      • 1.1.2. Các biện pháp dự phòng tăng huyết áp (17)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (19)
      • 1.2.1. Vai trò của dinh dưỡng với tăng huyết áp (0)
      • 1.2.2. Mối liên quan giữa một số chất dinh dưỡng với tăng huyết áp (0)
      • 1.2.3. Một số khảo sát về tăng huyết áp và tuân thủ chế độ dinh dưỡng ở người bệnh tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam (0)
  • Chương 2. LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ (0)
    • 2.1. Đặc điểm tình hình về Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên (27)
    • 2.2. Mô tả thực trạng tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022 (28)
      • 2.2.1. Phương pháp thực hiện (28)
      • 2.2.2. Kết quả (28)
      • 2.2.3. Ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân (34)
  • Chương 3. BÀN LUẬN (0)
    • 3.1. Thực trạng tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022 (35)
    • 3.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên (39)

Nội dung

Microsoft Word NGUYá»—N XUÇN DIểU LINH BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN XUÂN DIỆU LINH THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA[.]

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1.1.1 Đại cương về tăng huyết áp

Huyết áp (HA) là áp lực máu trong động mạch, đo lường áp lực máu trong hệ tuần hoàn Huyết áp tâm thu, còn gọi là áp lực tối đa, xảy ra khi tim co bóp và tống máu vào động mạch, trong khi huyết áp tâm trương, hay áp lực thấp nhất, xảy ra khi tim giãn ra và nghỉ ngơi Việc duy trì huyết áp ổn định là yếu tố quan trọng để đảm bảo sức khỏe tim mạch và phòng ngừa các bệnh liên quan.

Tăng huyết áp, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hội Tăng huyết áp quốc tế (ISH), là tình trạng huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên, đòi hỏi sự quan tâm và quản lý y tế để phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.

Theo Hội tim mạch học quốc gia Việt Nam, tăng huyết áp được phân loại như sau:

Bảng 1.1 Phân loại huyết áp

Khái niệm HA tâm thu HA tâm trương

THA tâm thu đơn độc  140 và < 90

Khoảng dưới 5% các trường hợp tăng huyết áp có nguyên nhân rõ ràng, gọi là tăng huyết áp thứ phát (tăng huyết áp triệu chứng) Việc xác định nguyên nhân cụ thể của tăng huyết áp thứ phát rất quan trọng để có hướng điều trị phù hợp, hiệu quả hơn Do đó, chẩn đoán chính xác nguyên nhân giúp cải thiện kết quả điều trị và kiểm soát huyết áp tốt hơn cho bệnh nhân.

Phần lớn (khoảng 95%) người bệnh THA là không rõ nguyên nhân (còn gọi là THA nguyên phát)

1.1.1.4 Các yếu tố nguy cơ

Các nhà khoa học đã xác định rằng có một số yếu tố nguy cơ liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh THA Theo Liên ủy ban quốc gia Hoa Kỳ, các yếu tố nguy cơ bao gồm các yếu tố như chế độ ăn không hợp lý, thói quen sinh hoạt không lành mạnh, béo phì, lối sống ít vận động và stress kéo dài Việc nhận biết và kiểm soát những yếu tố này là rất quan trọng để phòng ngừa và giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh THA hiệu quả.

* Nhóm yếu tố sẵn có (là yếu tố không thể thay đổi):

Tuổi có mối liên quan chặt chẽ với tăng huyết áp, đặc biệt là khi tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc bệnh càng tăng do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa Sự giảm tính đàn hồi và độ mềm mại của động mạch khiến huyết áp tâm thu tăng cao, dẫn đến hiện tượng THA tâm thu đơn thuần.

Trước tuổi 45, nam giới có nguy cơ cao hơn nữ giới mắc bệnh cao huyết áp, nhưng từ tuổi 65 trở đi, tỷ lệ này lại chuyển biến và ảnh hưởng nhiều hơn đến phụ nữ, có thể do quá trình mãn kinh ảnh hưởng đến hệ thống huyết áp.

Tăng huyết áp có thể ảnh hưởng đến bất kỳ ai, nhưng những khảo sát cho thấy người Mỹ gốc Phi có nguy cơ cao hơn về cả bệnh tăng huyết áp và tử vong do các biến chứng liên quan đến tăng huyết áp cao, so với người Mỹ da trắng.

Yếu tố di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bệnh tăng huyết áp, đặc biệt khi có tiền sử gia đình mắc bệnh, nhất là trong các thành viên trực hệ như bố mẹ, anh chị em ruột Khi một người trong gia đình mang gen liên quan, khả năng mắc THA của các thành viên khác sẽ cao hơn do khả năng di truyền gen Mặc dù yếu tố di truyền không thể hoàn toàn loại bỏ, nhưng hiểu rõ về bệnh giúp người dân tăng cường các thói quen sống lành mạnh và phòng ngừa các biến chứng của tăng huyết áp hiệu quả hơn.

* Nhóm yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được:

Chế độ ăn nhiều muối (trên 14g/ngày) đã được chứng minh qua nhiều khảo sát cho thấy làm tăng rõ rệt tần suất mắc bệnh cao huyết áp, trong khi giảm muối xuống dưới 1g/ngày giúp hạ huyết áp đáng kể Đặc biệt, nhiều người bệnh cao huyết áp nhẹ có thể kiểm soát bệnh hiệu quả chỉ bằng cách điều chỉnh chế độ ăn giảm muối Các nghiên cứu đã xác định rõ mối liên hệ giữa lượng muối tiêu thụ và huyết áp, góp phần trong việc xây dựng các khuyến nghị dinh dưỡng cho người mắc cao huyết áp.

Hút thuốc lá và thuốc lào chứa nhiều chất kích thích, đặc biệt là nicotine, gây kích thích hệ thần kinh giao cảm, làm co mạch và tăng huyết áp Việc hút thuốc nhiều có thể dẫn đến các cơn tăng huyết áp kịch phát, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch.

Uống nhiều rượu, bia trên 100ml/ngày liên tục trong 3 năm là yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp Ngoài ra, thói quen tiêu thụ rượu, bia quá mức còn làm giảm hiệu quả của các loại thuốc điều trị tăng huyết áp, ảnh hưởng đến quá trình kiểm soát bệnh lý này.

Ít hoạt động thể lực và lối sống tĩnh tại gây hại lớn cho hệ tim mạch, đặc biệt là nguyên nhân của 5-13% các trường hợp tăng huyết áp hiện nay Hoạt động thể lực đều đặn và phù hợp được coi là một liệu pháp hiện đại hiệu quả trong việc phòng ngừa cao huyết áp, nâng cao sức khỏe tim mạch.

Stress, hay căng thẳng và lo âu quá mức, đã được nhiều khảo sát chứng minh là làm tăng nhịp tim do tác động của các chất trung gian hóa học như Adrenalin và Noradrenalin Khi cơ thể gặp căng thẳng, các hormone này gây co thắt động mạch, dẫn đến tăng huyết áp, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch.

* Các bệnh lý liên quan chặt chẽ tới tăng huyết áp [9]:

Tiền tăng huyết áp là khái niệm mới nhằm mô tả giai đoạn chuyển tiếp giữa bình thường và cao huyết áp theo phân loại của Hoa Kỳ, trong đó những người bị tiền tăng huyết áp có nguy cơ cao phát triển bệnh tăng huyết áp hơn người bình thường Cân nặng có mối liên hệ mật thiết với bệnh tăng huyết áp, đặc biệt là thừa cân và béo phì, do chúng đều phản ánh tình trạng mất cân bằng năng lượng khi lượng năng lượng tiêu thụ vượt quá lượng tiêu hao trong thời gian dài Thừa cân, béo phì thường bắt nguồn từ việc tích lũy mỡ thừa do ăn quá nhiều và ít vận động Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành, người ta sử dụng chỉ số khối cơ thể (BMI), được tính bằng công thức: BMI = Trọng lượng cơ thể (kg) / (Chiều cao (m))^2, với các tiêu chuẩn để phân loại mức độ dinh dưỡng phù hợp.

Bảng 1.2 Tiêu chuẩn đánh giá thừa cân, béo phì của WHO (2006)

BMI Mức độ béo phì BMI Mức độ thừa cân

35,00 - 39,99 Béo phì độ II 25 Thừa cân

30,00 - 34,99 Béo phì độ I 18,50 - 24,99 Bình thường

25,00 - 29,99 Tiền béo phì < 18,5 Thiếu năng lượng trường diễn

Ở người mắc đái tháo đường, tỷ lệ mắc tăng huyết áp cao gấp đôi so với người không mắc bệnh, làm tăng nguy cơ biến chứng mạch máu lớn và nhỏ gấp đôi Khi kết hợp đái tháo đường và tăng huyết áp, nguy cơ tử vong cũng tăng gấp đôi so với người chỉ bị tăng huyết áp Khoảng 60% những người có đái tháo đường cũng có biểu hiện tăng huyết áp, đòi hỏi quản lý sức khỏe toàn diện để giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng THA trên thế giới

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2021, có khoảng 1,28 tỷ người trưởng thành mắc cao huyết áp, chủ yếu trong độ tuổi từ 30 đến 79 tuổi và sinh sống tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Dự báo đến năm 2025, số người mắc cao huyết áp sẽ tăng lên khoảng 1,56 tỷ Cao huyết áp là nguyên nhân chính gây tử vong, khiến 9 triệu người chết mỗi năm và chiếm 12,8% tổng số ca tử vong trên toàn cầu.

Năm 2020, tỷ lệ tăng huyết áp (THA) ở các nước đang phát triển đạt 31,5%, cao hơn so với 28,5% tại các nước phát triển Tại Hoa Kỳ, có đến 47% người trưởng thành mắc THA và hơn 670.000 ca tử vong liên quan đến tăng huyết áp mỗi năm Ngoài ra, tỷ lệ mắc THA ở nam giới là 50%, vượt xa so với nữ giới với tỷ lệ 44,3%, cho thấy sự khác biệt giới tính đáng kể về nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp.

Nghiên cứu năm 2013 về tỷ lệ cao huyết áp (THA) tại Đông Phi cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở khu vực nông thôn cao hơn đáng kể Trong đó, chỉ có khoảng 1/3 số người mắc bệnh được phát hiện, và trong số đó, chỉ có 1/6 những người phát hiện được điều trị Đặc biệt, chỉ có 1/6 trong số những người điều trị thành công kiểm soát huyết áp đầy đủ, phản ánh quy luật chặt chẽ giữa tỷ lệ phát hiện, điều trị và kiểm soát bệnh [12].

Nghiên cứu từ năm 2009 đến 2010 trên 25.196 người trưởng thành từ 18 -

Tỷ lệ tăng huyết áp (THA) theo nhóm tuổi tại 33 khu vực thành thị của Trung Quốc cho thấy rõ xu hướng gia tăng cùng với tuổi tác, từ 19,8% ở nam giới và 4,7% ở nữ giới trong độ tuổi 18-34, lên đến 56,5% và 60,4% ở nhóm tuổi 65-74 Điều này cho thấy tỷ lệ THA ngày càng tăng theo tuổi và có xu hướng trẻ hóa, đặt ra nhu cầu chú trọng phòng ngừa và kiểm soát huyết áp ở các nhóm tuổi trẻ hơn. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu bài viết của mình theo chuẩn SEO? [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/CIigxKWw?user_id=983577) có thể giúp bạn tạo ra các đoạn văn mạch lạc và tối ưu SEO từ những ý chính trong bài viết của bạn Với Article Generation, bạn có thể dễ dàng tạo ra các bài viết 2,000 từ, giúp bạn tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết đấy! Đặc biệt phù hợp để làm nổi bật các thông tin quan trọng như tỉ lệ tăng huyết áp theo độ tuổi ở Trung Quốc mà bạn vừa cung cấp.

1.2.2 Thực trạng THA tại Việt Nam

Năm 2008, kết quả điều tra của Viện Tim mạch Quốc gia trên 8 tỉnh ở cả

Tỷ lệ cao huyết áp ở người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên tại miền Bắc, Trung, Nam đạt mức 25,1% Tuy nhiên, phần lớn người mắc bệnh này còn chưa được điều trị phù hợp, khi tỷ lệ điều trị vẫn còn rất thấp Điều này cho thấy cần tăng cường nhận thức và chẩn đoán sớm để kiểm soát hiệu quả bệnh tăng huyết áp, góp phần giảm các biến chứng nguy hiểm liên quan đến bệnh này.

Theo số liệu từ Niên giám thống kê y tế qua các năm từ 2000 đến 2013, tỷ lệ mắc THA tăng rõ rệt, đạt 34,2%, trong khi tỷ lệ kiểm soát tốt bệnh chỉ đạt 11,0% Đặc biệt, năm 2010 ghi nhận số mắc THA cao nhất với 515,5 trên 100.000 dân, cho thấy xu hướng gia tăng các ca bệnh cao huyết áp trong cộng đồng.

Theo nghiên cứu của Lại Đức Trường (2011) ở Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành từ 25 - 64 tuổi là 17,8% [5]

Nghiên cứu của Đỗ Thị Phương Hà (2015) cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành thừa cân trong độ tuổi 25-64 năm 2005 là 25,2% Trong đó, tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở khu vực thành thị (26,9%) so với vùng nông thôn (25,0%).

Nghiên cứu của Trương Thị Thùy Dương (2016) tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp (THA) đạt 24,4% Trong đó, phân độ tăng huyết áp cho thấy tăng huyết áp độ I chiếm tỷ lệ cao nhất (16,9%), còn tăng huyết áp độ III có tỷ lệ thấp nhất (5,0%).

1.2.3 Vai trò của dinh dưỡng với tăng huyết áp

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây bệnh tim mạch, bao gồm bệnh mạch vành, đột quỵ, bệnh thận giai đoạn cuối và các bệnh về mạch máu ngoại biên Theo WHO, kiểm soát tăng huyết áp là yếu tố quan trọng giúp giảm tử vong sớm ở các nước đang phát triển Hội chứng chuyển hóa, gồm tăng huyết áp, béo phì, kháng insulin và rối loạn lipid máu, đặc biệt là tiền sử nguy cơ có hại đối với sức khỏe tim mạch Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rõ mối liên hệ giữa chế độ ăn uống không hợp lý và bệnh tăng huyết áp.

Yếu tố dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ tăng huyết áp và hỗ trợ quá trình điều trị sau khi chẩn đoán mắc bệnh THA Nhiều quốc gia đã chỉ định chế độ ăn uống hợp lý là biện pháp điều trị bổ sung bên cạnh việc sử dụng thuốc Người bệnh cần duy trì chế độ dinh dưỡng phù hợp để nâng cao hiệu quả điều trị và kiểm soát tốt huyết áp, góp phần phòng ngừa các biến chứng của thành viên này.

1.2.4 Mối liên quan giữa một số chất dinh dưỡng với tăng huyết áp [2]

1.2.4.1 Mối tương quan giữa kali và THA

Kể từ những năm 80, nhiều khảo sát toàn cầu đã xác nhận rằng chế độ ăn giàu kali có tác dụng giúp giảm huyết áp hiệu quả Tại Việt Nam, nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng cũng chứng minh rằng chế độ ăn ít natri, giàu kali mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc hạ huyết áp.

HA của kali liên quan đến tác dụng tăng thải natri qua đường niệu, giúp kiểm soát huyết áp hiệu quả Kali phân bố rộng rãi trong nhiều loại thực phẩm và lượng kali hấp thu hàng ngày thay đổi tùy theo nhóm thực phẩm, với một khẩu phần ăn trung bình cung cấp khoảng 2,5 - 3,0 g/ngày Việc duy trì lượng kali hợp lý trong chế độ ăn đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cân bằng điện giải và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

Nhóm rau quả như khoai tây, su hào, bí đao cung cấp hàm lượng kali cao, giúp hỗ trợ kiểm soát huyết áp tốt Ngoài ra, sữa, thịt, trứng, các sản phẩm ngũ cốc và một số loại rau khác cũng là nguồn thực phẩm giàu kali Việc lựa chọn các thực phẩm chứa lượng kali theo bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam và duy trì chế độ ăn giàu kali (khoảng 4-5 gram mỗi ngày) là phù hợp để kiểm soát huyết áp hiệu quả.

1.2.4.2 Mối tương quan giữa calci và THA

Nghiên cứu dịch tễ học ở các nước phương Tây đã làm nổi bật mối liên quan giữa lượng calci hấp thụ và bệnh tăng huyết áp (THA) Nước khoáng chứa hàm lượng calci cao có thể giúp phòng ngừa các bệnh tim mạch Thiếu hụt calci trong khẩu phần ăn đã được liên kết với tỷ lệ mắc THA cao hơn Nhiều nghiên cứu cho rằng chế độ ăn giàu calci (1000 - 1500 mg/ngày) có khả năng ngăn chặn tác động của chế độ ăn nhiều muối đối với huyết áp Ngoài ra, ăn nhiều calci giúp giảm huyết áp ở những người bị THA nhạy cảm với muối.

1.2.4.3 Mối tương quan giữa magnesi và THA

Các nghiên cứu sớm đã chỉ ra vai trò của magie trong kiểm soát huyết áp cao, khi các báo cáo cho biết nước cứng chứa nhiều calci và magie có liên quan đến tỷ lệ tử vong thấp do các bệnh tim mạch Các cuộc khảo sát cắt ngang và theo dõi dọc đều chứng minh rằng chế độ ăn giàu magie giúp giảm huyết áp động mạch một cách hiệu quả.

1.2.4.4 Vai trò của chất béo trong khẩu phần ăn với THA

LIÊN HỆ VỚI THỰC TẾ

Đặc điểm tình hình về Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên

Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên là bệnh viện đa khoa hạng I tuyến tỉnh thuộc Sở Y tế Vĩnh Phúc, có nhiệm vụ chính là khám, điều trị, chăm sóc sức khỏe cho người dân thành phố Phúc Yên, huyện Bình Xuyên, và các khu vực lân cận giáp các huyện của Hà Nội theo quy định pháp luật Bệnh viện còn chịu sự chỉ đạo chuyên môn của Sở Y tế Vĩnh Phúc, đồng thời đảm nhận nhiệm vụ đào tạo, chỉ đạo tuyến, khảo sát khoa học và thực tập cho sinh viên và học viên Ngoài ra, bệnh viện còn có trách nhiệm quản lý kinh tế y tế, đặc biệt trong thời kỳ chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, và cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu.

Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên hiện có quy mô 850 giường bệnh kế hoạch, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của cộng đồng Với hệ thống cơ cấu tổ chức gồm 42 khoa và phòng, bệnh viện được chia thành 26 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng và 8 phòng chức năng, đảm bảo phong phú dịch vụ y tế chất lượng cao.

Về nhân lực điều dưỡng: Bệnh viện có 818 cán bộ viên chức, người lao động Trong đó, có 470 điều dưỡng

Bệnh viện đang tích cực đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Tuy nhiên, lượng bệnh nhân đến khám và điều trị hàng ngày vẫn còn cao, gây áp lực lớn cho công tác chăm sóc và điều trị tại bệnh viện Trong quá trình phát triển và đào tạo nhân lực, bệnh viện gặp phải nhiều khó khăn trong việc đáp ứng kịp thời các yêu cầu chăm sóc bệnh nhân Việc triển khai hệ thống công nghệ thông tin toàn bộ đã nâng cao quản lý, nhưng đồng thời cũng tăng khối lượng công việc hành chính, khiến thời gian dành cho các hoạt động chuyên môn của điều dưỡng viên bị thu hẹp, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế.

Mô tả thực trạng tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022

áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022 2.2.1 Phương pháp thực hiện

- Đối tượng khảo sát: Những người bệnh THA đến khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện ĐKKV Phúc Yên

+ Tiêu chuẩn lựa chọn: Có khả năng giao tiếp đủ để trả lời phỏng vấn và đồng ý tham gia khảo sát

- Thời gian khảo sát: Từ 01/6/2022 đến hết 30/6/2022

- Số lượng người bệnh tham gia khảo sát: Lựa chọn ngẫu nhiên 200 người bệnh

Công cụ thu thập số liệu được phát triển dựa trên bộ câu hỏi phù hợp với chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp Bộ câu hỏi này dựa trên Hướng dẫn chế độ ăn cho người bệnh tăng huyết áp của Trung tâm dinh dưỡng Bệnh viện Bạch Mai, nhằm đảm bảo tính chính xác và phù hợp với các khuyến nghị dinh dưỡng chuẩn Việc sử dụng công cụ này giúp đánh giá chính xác lối sống và chế độ ăn uống của người bệnh, góp phần xây dựng các phương pháp can thiệp hiệu quả.

- Phương pháp thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp người bệnh

Phương pháp phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0, trong đó sử dụng phân tích mô tả để đánh giá thực trạng tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp, giúp cung cấp cái nhìn rõ nét về hành vi ăn uống và mức độ tuân thủ của bệnh nhân.

Biểu đồ 2.1 Giới tính của đối tượng khảo sát Nhận xét: Tỷ lệ nam giới là 57,5% cao hợn so với nữ giới là 42,5%

Biểu đồ 2.2 Phân loại nhóm tuổi của đối tượng khảo sát

Nhận xét: Phần lớn đối tượng khảo sát trên 60 tuổi (chiếm 49,0%), người bệnh từ 50 - 60 tuổi chiếm 32,5%; từ 40 – 50 tuổi chiếm 16,0%; còn lại là dưới 40 tuổi (chiếm 2,5%)

Biểu đồ 2.3 Nghề nghiệp của đối tượng khảo sát

Người bệnh tăng huyết áp chủ yếu là lao động tự do, chiếm tỷ lệ 31,0%, tiếp theo là cán bộ hưu trí với 12,5% Các nghề nghiệp khác như làm ruộng và công nhân viên chức lần lượt chiếm 16,0% và 12,5%, trong khi đó, các nghề nghiệp khác chiếm tỷ lệ 15,0%.

Biểu đồ 2.4 Trình độ học vấn của đối tượng khảo sát

Theo đánh giá, phần lớn người bệnh đều tốt nghiệp trung học phổ thông, chiếm tỷ lệ 47,5% Trong khi đó, tỷ lệ tốt nghiệp cao đẳng và đại học lần lượt là 25% và 22,5%, cho thấy trình độ học vấn của họ khá đa dạng Chỉ có 10% người bệnh đạt trình độ tiểu học, phản ánh mức độ học vấn thấp hơn trong nhóm này.

Bảng 2.1 Yếu tố gia đình của đối tượng khảo sát Yếu tổ gia đình Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Trong gia đình có người mắc THA

Nhận xét: Tỷ lệ trong gia đình người bệnh có người mắc THA tương đối cao (chiếm 43,5%)

Bảng 2.2 Thói quen sử dụng các chất kích thích của đối tượng khảo sát

Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Hút thuốc lá

- Tỷ lệ người bệnh có thói quen hút thuốc lá/thuốc lào chiếm 37,0%

- Phần lớn người bệnh không sử dụng rượu bia (68,0%) Tuy nhiên, có 12,5% hiếm khi và 11,0% thỉnh thoảng sử dụng và 8,5% người bệnh thường xuyên uống rượu, bia

Bảng 2.3 Chế độ ăn rau quả và dầu mỡ của đối tượng khảo sát

Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Sử dụng rau quả hàng ngày Ít (500g) lần lượt là 53,5% và 17,0 % Có 29,5 % ăn ít rau quả (dưới 400g)

- Phần lớn người bệnh THA sử dụng dầu thực vật để chế biến thức ăn (51,0%)

Có 37,5% sử dụng cả mỡ động vật và dầu thực vật Bên cạnh đó, có 11,5% người chỉ sử dụng mỡ động vật trong nấu ăn

Bảng 2.4 Thói quen ăn mặn của người bệnh tăng huyết áp

Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Ăn mặn Có 54 27,0

Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh THA có thói quen ăn mặn là 27,0%

Bảng 2.5 Thói quen ăn đồ ngọt của người bệnh tăng huyết áp

Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Ăn các loại đồ ngọt

Nhận xét: Tỷ lệ người bệnh THA thường xuyên sử dụng đồ ngọt như chè, bánh, kẹo… tương đối cao (chiếm 32,0%)

Bảng 2.6 Chế độ ăn chất đạm và chất béo của người bệnh tăng huyết áp

Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Ăn các loại thịt ít mỡ: thịt bò, thịt gà ta, thịt lợn nạc

Thường xuyên 52 26,0 Ăn các loại sữa tách bơ, sữa đậu nành, sữa chua

Thường xuyên 30 15,0 Ăn nội tạng động vật

Sử dụng các thực phẩm chế biến sẵn và đồ ăn nhanh

Theo khảo sát, tỷ lệ người bệnh THA thường xuyên ăn các loại thịt ít mỡ chưa cao, chỉ chiếm 26,0% Trong khi đó, có đến 52,0% người bệnh ăn thịt ít mỡ thỉnh thoảng và 17,0% hiếm khi sử dụng loại thực phẩm này Ngoài ra, có khoảng 5,0% người bệnh THA không ăn thịt ít mỡ nào.

- Có 15,0% người bệnh THA thường xuyên sử dụng các loại sữa tách bơ, sữa đậu nành, sữa chua Có 59,0% thỉnh thoảng và 20,0% hiếm khi ăn

- Phần lớn người bệnh THA thỉnh thoảng (51,0%) và hiếm khi (33,0%) ăn nội tạng động vật Có 6,0% người bệnh thường xuyên ăn loại thực phẩm này

Phần lớn người bệnh tăng huyết áp thỉnh thoảng (53,0%) hoặc hiếm khi (33,5%) sử dụng thực phẩm chế biến sẵn và đồ ăn nhanh, góp phần ảnh hưởng đến sức khỏe của họ Ngoài ra, có khoảng 3,0% người bệnh thường xuyên tiêu thụ loại thực phẩm này, đặt ra nguy cơ cao cho việc kiểm soát huyết áp không hiệu quả Việc hạn chế tiêu thụ thực phẩm chế biến sẵn đóng vai trò quan trọng trong quản lý bệnh tăng huyết áp và duy trì lối sống lành mạnh.

Bảng 2.7 Thói quen ăn trứng gà và đồ muối chua của người bệnh tăng huyết áp Chỉ số Số lượng (n) Tỷ lệ (%)

Tần suất ăn trứng gà

Hàng ngày 12 6,0 Ăn đồ muối chua như dưa muối, cà muối

- Phần lớn người bệnh THA sử dụng trứng gà 1-2 lần/tuần (chiếm 46,0%) và 3-4 lần/tuần (chiếm 33,0%) Có 6,0% người bệnh ăn trứng gà hàng ngày

- Có 17,5% người bệnh THA ăn đồ muối chua thường xuyên (17,5%), có 60,5% người bệnh thỉnh thoảng sử dụng loại thực phẩm này Còn lại hiếm khi ăn (15,5%) và không ăn (6,5%)

2.2.3 Ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân

- Nhiều cán bộ y tế có trình độ chuyên môn tốt, hiểu biết sâu về bệnh THA

- Nhân viên y tế nhiệt tình, tâm huyết, tích cực trong công tác chăm sóc, giáo dục, tư vấn chế độ dinh dưỡng cho người bệnh

- Bệnh viện đã thành lập khoa dinh dưỡng

Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên, khoa Dinh dưỡng đã được thành lập nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, hiện tại khoa chưa triển khai tư vấn và cung cấp chế độ ăn phù hợp cho bệnh nhân tăng huyết áp (THA), nhằm hỗ trợ kiểm soát bệnh hiệu quả Việc thiết lập chế độ ăn lý tưởng cho người bệnh THA vẫn còn đang được nghiên cứu và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu điều trị và nâng cao sức khỏe người bệnh.

- Chưa có phòng riêng để tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK)

- Tài liệu hướng dẫn về chế độ ăn cho người bệnh THA còn thiếu

- Trình độ chuyên môn của một số cán bộ y tế còn hạn chế chưa được đào tạo về tư vấn GDSK

Người bệnh chưa thực sự quan tâm và nhận thức rõ ràng về chế độ ăn uống phù hợp, đồng thời chưa hiểu tầm quan trọng của dinh dưỡng đúng cách trong quá trình điều trị bệnh tăng huyết áp Việc nâng cao nhận thức về chế độ ăn đúng không chỉ giúp kiểm soát tốt huyết áp mà còn góp phần giảm thiểu các biến chứng nguy hiểm Do đó, người bệnh cần chú trọng thực hiện chế độ ăn uống khoa học, phù hợp để đạt hiệu quả điều trị cao nhất.

Tại Bệnh viện ĐKKV Phúc Yên, thời gian tư vấn của nhân viên y tế dành cho bệnh nhân THA điều trị ngoại trú còn hạn chế do số lượng người khám tăng đột biến Nhân lực bác sĩ và điều dưỡng còn thiếu nhằm đáp ứng nhu cầu tư vấn dinh dưỡng, khiến công tác chăm sóc bệnh nhân bị ảnh hưởng Do đó, việc cung cấp hướng dẫn về chế độ ăn uống phù hợp cho người bệnh THA còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến quá trình điều trị hiệu quả.

* Nguyên nhân của những mặt hạn chế:

- Nhân lực cán bộ y tế trong khoa còn thiếu

- Trình độ chuyên môn của một số cán bộ y tế còn hạn chế, chưa được đào tạo về tư vấn GDSK

- Kinh phí đầu tư cho công tác GDSK nói chung và tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh THA nói riêng còn hạn chế

- Do người bệnh chưa thực sự quan tâm đến chế độ dinh dưỡng trong điều trị bệnh THA.

BÀN LUẬN

Thực trạng tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022

Biểu đồ 2.1 cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm 57,5% cao hơn so với nữ giới là 42,5%, phản ánh sự chênh lệch giới tính trong mẫu khảo sát Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, như của Lê Thị Huệ, xác nhận xu hướng tỷ lệ nam giới vượt nữ giới trong lĩnh vực này.

Năm 2016, khảo sát tại Hải Dương cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm 32,3% và nữ giới chiếm 67,7%, cao hơn so với kết quả của Trương Thị Thùy Dương tại Thái Nguyên Sự khác biệt này có thể do ảnh hưởng của cỡ mẫu và địa điểm khảo sát khác nhau.

Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn đối tượng trên 60 tuổi chiếm 49,0%, người từ 50-60 tuổi là 32,5%, trong khi nhóm tuổi 40-50 chiếm 16,0% và dưới 40 tuổi chỉ 2,5% Đây phù hợp với khảo sát của Lê Thị Huệ (2016) tại Hải Dương, với tỷ lệ bệnh THA cao nhất ở nhóm trên 60 tuổi (58,7%) Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ người bị THA tăng dần theo độ tuổi: cứ 20 người ở tuổi 35 thì có 1 người bị THA, ở tuổi 45 là 1/7 và trên 65 tuổi là 1/3 Tại các nước công nghiệp phát triển, THA gây tử vong chiếm gần 30% tổng số ca tử vong và tỷ lệ tử vong do THA càng cao khi tuổi tăng, đặc biệt ở nhóm cao tuổi [14].

Trong khảo sát về nghề nghiệp của người bệnh tăng huyết áp, chủ yếu là lao động tự do chiếm tỷ lệ 31,0%, tiếp theo là cán bộ hưu trí với 12,5% Người làm ruộng và công nhân viên chức lần lượt chiếm 16,0% và 12,5%, trong khi đó, các nghề nghiệp khác chiếm 15,0% Kết quả từ biểu đồ 2.4 cho thấy đa số người bệnh có trình độ học vấn trung học phổ thông (47,5%), tiếp đó là tốt nghiệp cao đẳng, đại học và trung học cơ sở lần lượt là 25% và 22,5%, còn lại chỉ có 10% tốt nghiệp tiểu học Đây phản ánh đặc thù nghề nghiệp và trình độ học vấn của người dân tại thành phố Phúc Yên và các huyện lân cận như Mê Linh, Bình Xuyên Với đối tượng chủ yếu là người cao tuổi, có nghề nghiệp tự do và trình độ trung bình, việc cung cấp giáo dục sức khỏe cần thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, dễ tiếp cận, ưu tiên sử dụng tranh ảnh minh họa để thay thế văn bản chữ viết.

Yếu tố gia đình có liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ người mắc bệnh tăng huyết áp (THA), với kết quả cho thấy 43,5% các thành viên trong gia đình người bệnh cũng mắc THA Nhiều nghiên cứu xác nhận rằng bệnh THA có thể có yếu tố di truyền, khiến con cái của người mắc bệnh có nguy cơ cao hơn [8], [9] Trong văn hóa phương Đông, đặc biệt tại Việt Nam, các gia đình nhiều thế hệ thường sống chung và sinh hoạt cùng nhau, dẫn đến khả năng các thành viên mắc cùng các bệnh mãn tính, đặc biệt là bệnh tim mạch và tăng huyết áp Do đó, trong quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh, nhân viên y tế cần chú trọng khai thác đặc điểm gia đình để cung cấp kiến thức và giáo dục sức khỏe phù hợp, khuyến khích sự tham gia của gia đình trong các chương trình phòng bệnh và quản lý tăng huyết áp.

Theo kết quả từ Bảng 2.2, có tới 37,0% người bệnh có thói quen hút thuốc lá hoặc thuốc lào, tỷ lệ này khá cao Thuốc lá, đặc biệt là thuốc lào chứa nicotine, kích thích hệ thần kinh giao cảm gây co mạch ngoại biên và dẫn đến tăng huyết áp, với mỗi điếu thuốc HATT có thể làm tăng huyết áp tâm thu lên tới 11mmHg và huyết áp tâm trương lên tới 9mmHg trong vòng 30 phút, nguy hiểm đặc biệt khi hút nhiều lần gây các cơn tăng huyết áp đột ngột Nicotine còn làm tăng nhịp tim, nhu cầu oxy của cơ tim và tạo ra các gốc tự do làm tăng độ kết dính của tiểu cầu, đồng thời giảm HDL-cholesterol, từ đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đặc biệt ở người bị cao huyết áp, mức nguy cơ cao hơn 50-60% so với người không hút thuốc Trong khi đó, phần lớn người bệnh (68,0%) không sử dụng rượu bia, mặc dù tỷ lệ này còn đáng kể.

Khoảng 8,5% người bệnh thường xuyên uống rượu, bia, đây là yếu tố nguy cơ chính gây tăng huyết áp (THA) Việc giảm hoặc tránh xa rượu bia đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh THA hiệu quả Người điều dưỡng cần thiết kế chương trình giáo dục sức khỏe rõ ràng về các nguy cơ liên quan đến rượu, bia và tác hại của thuốc lá, thuốc lào đối với bệnh nhân THA Đồng thời, chú trọng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cai thuốc lá, thuốc lào và hạn chế sử dụng các chất kích thích để hỗ trợ điều trị và kiểm soát huyết áp tốt hơn.

Kết quả từ Bảng 2.3 cho thấy phần lớn người bệnh cao huyết áp (THA) tiêu thụ rau quả ở mức độ trung bình, khoảng 400-500g mỗi ngày, chiếm tỷ lệ 53,5% Tuy nhiên, vẫn còn 29,5% người bệnh THA ăn ít rau quả, phản ánh tác động tiêu cực của chế độ ăn không lành mạnh Nghiên cứu của Lại Đức Trường (2011) tại Thái Nguyên cũng cho thấy chỉ có khoảng 29% nam giới và 22,4% nữ giới thực hiện theo khuyến cáo về lượng rau củ hàng ngày Các bằng chứng khoa học xác nhận rằng chế độ ăn ít rau quả hoặc thức ăn giàu năng lượng đều làm tăng nguy cơ béo phì và cao huyết áp Ngoài ra, phần lớn người bệnh (51,0%) sử dụng dầu thực vật để chế biến thức ăn, trong khi 37,5% sử dụng kết hợp mỡ động vật và dầu thực vật, còn 11,5% chỉ dùng mỡ động vật, điều này làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh béo phì, mỡ máu và cao huyết áp Nhân viên y tế, đặc biệt điều dưỡng, cần cung cấp hướng dẫn rõ ràng, sử dụng tranh ảnh minh họa để hướng dẫn người bệnh lựa chọn thực phẩm lành mạnh và tránh xa các thực phẩm không tốt cho người cao huyết áp.

Trong khảo sát của chúng tôi, tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp có thói quen ăn mặn là 27,0%, thấp hơn so với kết quả khảo sát của Lê Thị Huệ, cho thấy sự khác biệt trong thói quen ăn uống của nhóm bệnh nhân này.

Tỷ lệ ăn mặn tại Hải Dương năm 2016 là 34,8%, và sự chênh lệch này có thể phản ánh do mẫu khảo sát lớn hơn hoặc khác địa điểm khảo sát Ăn mặn là yếu tố góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp (THA) hoặc làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn, bởi muối gây tích nước trong cơ thể và làm tăng khối lượng tuần hoàn Mức muối ăn trên 6g mỗi ngày được coi là mức ăn mặn, liên quan mật thiết đến nguy cơ cao bệnh THA.

Khoảng 32,0% người bệnh tăng huyết áp thường xuyên tiêu thụ đồ ngọt như chè, bánh, kẹo, tương tự như kết quả khảo sát của Lê Thị Huệ (2016) tại Hải Dương với tỷ lệ 35,9% Ăn nhiều đường không chỉ làm tăng huyết áp tâm thu thêm 6,9 mmHg và huyết áp tâm trương thêm 5,6 mmHg mà còn chứa nhiều calo, dẫn đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp ba lần so với người bình thường khi tiêu thụ hóa đơn calo từ 25% Chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cho người bệnh tăng huyết áp cần tập trung vào việc làm rõ tác hại của các loại gia vị có hại, đặc biệt là việc tiêu thụ muối quá mức, vốn là nét đặc trưng trong ẩm thực Việt Nam với các món kho và dưa muối, nhằm giảm nguy cơ biến chứng của bệnh.

Khảo sát của chúng tôi cho thấy 26,0% người bệnh THA tiêu thụ các loại thịt ít mỡ như thịt bò, thịt gà ta và thịt lợn nạc, góp phần giảm nguy cơ mắc THA nhờ vào việc kiểm soát lượng mỡ trong chế độ ăn Tuy nhiên, người bệnh nên kiểm soát tiêu thụ thịt đỏ như thịt bò, vì tiêu thụ quá nhiều có thể làm tăng nguy cơ cao huyết áp Sữa tách béo, sữa đậu nành và sữa chua là những thực phẩm tốt cho người bệnh THA giúp ổn định huyết áp, với tỷ lệ người thường xuyên sử dụng chiếm 15,0% Đối tượng người cao tuổi cần nhận được hướng dẫn cụ thể về khối lượng thịt phù hợp hàng ngày để duy trì chế độ ăn lành mạnh Các loại nội tạng động vật và thực phẩm chế biến sẵn như đồ ăn nhanh ít được tiêu thụ, nhưng vẫn có khoảng 6,0% người thường xuyên ăn nội tạng và 3,0% ăn đồ ăn nhanh, các loại thực phẩm này chứa nhiều chất bảo quản, chất béo và natri, góp phần làm tăng huyết áp Các loại thịt chế biến như xúc xích, giăm bông và thịt xông khói là những thực phẩm cần hạn chế do chứa nhiều chất bảo quản hóa học và chất béo, có thể gây tăng huyết áp.

Kết quả bảng 2.7 cho thấy phần lớn người bệnh cao huyết áp (THA) tiêu thụ trứng gà với tần suất 1-2 lần mỗi tuần (chiếm 46,0%) và 3-4 lần mỗi tuần (chiếm 33,0%), trong khi chỉ có 6,0% người bệnh ăn trứng hàng ngày Trứng gà là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, và việc tiêu thụ trứng gà có kiểm soát như 1-2 lần/tuần không ảnh hưởng tiêu cực đến bệnh THA Tuy nhiên, người bệnh cao huyết áp được khuyến cáo hạn chế ăn nhiều trứng để duy trì sức khỏe tốt hơn.

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên

Để nâng cao tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp của người bệnh THA điều trị ngoại trú cần một số giải pháp sau:

+ Có phòng tuyên truyền riêng là nơi tư vấn và chia sẻ kinh nghiệm về tuân thủ dinh dưỡng trong điều trị cho người bệnh THA

+ Tăng cường tuyên truyền về tác dụng của dinh dưỡng hợp lí đúng theo khuyến cáo có tác dụng kiểm soát huyết áp

Chúng tôi tập trung xây dựng và thiết kế các chương trình giáo dục sức khỏe về bệnh tăng huyết áp, đảm bảo nội dung dễ hiểu và dễ tiếp cận cho người dân Các chương trình sử dụng tối đa tranh ảnh minh họa để thay thế cho văn bản chữ viết, giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thức một cách trực quan và sinh động Điều này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bệnh tăng huyết áp và thúc đẩy các hành động phòng ngừa hiệu quả.

Chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cho người bệnh tăng huyết áp cần tập trung vào việc làm rõ các yếu tố có hại, đặc biệt là thói quen ăn mặn, góp phần làm tăng nguy cơ biến chứng của bệnh Trong đó, ăn mặn được xác định là một đặc trưng văn hóa ẩm thực của người Việt Nam, gắn liền với các món kho và dưa muối, ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kiểm soát huyết áp Do đó, việc nâng cao nhận thức về tác động tiêu cực của các gia vị có hại này là yếu tố quan trọng trong các chương trình can thiệp nhằm giảm thiểu các biến chứng liên quan đến tăng huyết áp.

Chúng tôi thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn định kỳ dành cho điều dưỡng viên nhằm cập nhật kiến thức mới, giúp nâng cao hiệu quả trong việc tuân thủ điều trị Các khóa đào tạo đặc biệt chú trọng vào việc hướng dẫn chế độ dinh dưỡng phù hợp cho bệnh nhân bị tăng huyết áp (THA), từ đó đảm bảo chăm sóc toàn diện và nâng cao chất lượng điều trị Việc update kiến thức định kỳ không chỉ giúp điều dưỡng viên nắm bắt các phương pháp mới mà còn thúc đẩy tuân thủ chế độ dinh dưỡng chính xác, góp phần kiểm soát bệnh tốt hơn cho người bệnh.

- Đối với điều dưỡng và nhân viên y tế:

Trong quá trình chăm sóc người bệnh tăng huyết áp, nhân viên y tế cần khai thác đặc điểm gia đình để cung cấp kiến thức giáo dục sức khỏe phù hợp, nhằm nâng cao nhận thức và tự quản lý bệnh hiệu quả Việc hợp tác của gia đình là yếu tố quan trọng giúp hỗ trợ người bệnh trong việc duy trì lối sống lành mạnh, kiểm soát tốt huyết áp, và tăng khả năng thành công của các chương trình giáo dục sức khỏe.

Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế chương trình giáo dục sức khỏe cho người bệnh cao huyết áp (THA), nhấn mạnh rõ ràng về nguy cơ và tầm quan trọng của việc cai thuốc lá, thuốc lào, cũng như hạn chế sử dụng các chất kích thích trong quá trình điều trị và kiểm soát bệnh Việc giảm thiểu tiêu thụ các chất có hại giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm nguy cơ biến chứng của bệnh cao huyết áp Người bệnh cần nhận thức rõ về tác động tiêu cực của thuốc lá, thuốc lào và các chất kích thích đối với sức khỏe tim mạch, nhằm thúc đẩy họ thay đổi thói quen sinh hoạt theo hướng tích cực Điều dưỡng hướng đến việc cung cấp thông tin thực tế, phù hợp và khuyến khích người bệnh duy trì lối sống lành mạnh để kiểm soát tốt huyết áp, giảm thiểu rủi ro liên quan đến các yếu tố nguy cơ này.

Nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc trực tiếp cho người bệnh, đặc biệt là bệnh nhân tăng huyết áp (THA) Họ cần cung cấp hướng dẫn chi tiết về chế độ dinh dưỡng phù hợp, sử dụng tranh ảnh minh họa rõ ràng để giúp người bệnh dễ hiểu về các loại thực phẩm lành mạnh nên ăn, như rau xanh, trái cây tươi, và các loại thực phẩm giàu omega-3 Đồng thời, điều dưỡng cũng cần hướng dẫn người bệnh tránh xa các loại thực phẩm không tốt, bao gồm đồ ăn nhanh, thực phẩm chứa nhiều muối và đồ ngọt, để kiểm soát mức huyết áp hiệu quả Việc cung cấp những hướng dẫn này góp phần nâng cao nhận thức và giúp người bệnh kiểm soát tốt tình trạng sức khỏe của mình.

+ Nhân viên y tế đặc biệt là điều dưỡng cần tham gia đầy đủ các lớp tập huấn giáo dục sức khỏe của bệnh viện tổ chức

Để kiểm soát huyết áp hiệu quả, cần hạn chế tiêu thụ các thực phẩm chứa nhiều muối, đồ ăn chế biến sẵn, thức ăn nhanh, mỡ và nội tạng động vật Thay vào đó, hãy tăng cường chế độ ăn nhạt, sử dụng sữa tách béo, thịt nạc, rau quả tươi và dầu thực vật trong nấu ăn để duy trì huyết áp ổn định và hỗ trợ sức khỏe tim mạch.

+ Hạn chế sử dụng rượu, bia

+ Không hút thuốc lá/thuốc lào

+ Duy trì cân nặng hợp lý, cần giảm cân (nếu thừa cân) để làm giảm huyết áp, giảm các biến cố do bệnh lý tim mạch gây nên

+ Tăng cường tiếp cận các hình thức giáo dục sức khỏe để nâng cao hiểu biết về bệnh THA

- Đối với người nhà người bệnh:

Quan tâm và động viên người bệnh cao huyết áp (THA) thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh là yếu tố quan trọng trong quá trình kiểm soát bệnh Việc nhắc nhở người bệnh không tuân thủ chế độ dinh dưỡng cần thiết giúp duy trì huyết áp ổn định, hạn chế các biến chứng nguy hiểm của bệnh cao huyết áp.

+ Tăng cường tiếp cận các hình thức giáo dục sức khỏe để nâng cao hiểu biết về bệnh THA

1 Thực trạng tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên năm 2022

- Tỷ lệ nam giới là 57,5% cao hợn so với nữ giới là 42,5%

- Phần lớn đối tượng khảo sát trên 60 tuổi (chiếm 49,0%)

- Chủ yếu người bệnh tăng huyết áp là lao động tự do (31,0%); cán bộ hưu trí chiếm 12,5% Đa số người bệnh tốt nghiệp trung học phổ thông (chiếm 47,5%)

- Có 43,5% trong gia đình người bệnh có người mắc THA

- Tỷ lệ người bệnh có thói quen hút thuốc lá/thuốc lào chiếm 37,0% Có 8,5% người bệnh thường xuyên uống rượu, bia

Tỷ lệ người bệnh tăng huyết áp ăn ít rau quả (dưới 400g) vẫn còn tương đối cao, chiếm 29,5% Đa số bệnh nhân tăng huyết áp sử dụng dầu thực vật để chế biến thức ăn (51,0%), trong khi đó, một phần nhỏ khoảng 11,5% chỉ sử dụng mỡ động vật trong nấu ăn.

- Tỷ lệ người bệnh THA có thói quen ăn mặn là 27,0%, thường xuyên sử dụng đồ ngọt là 32,0%

Dữ liệu cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh cao huyết áp thường xuyên tiêu thụ thịt ít mỡ chỉ chiếm 26,0%, cho thấy còn nhiều người chưa chú trọng đến việc lựa chọn thực phẩm lành mạnh Trong khi đó, chỉ 15,0% người bệnh cao huyết áp thường xuyên sử dụng các loại sữa tách béo, sữa đậu nành và sữa chua, phản ánh việc chưa phổ biến thói quen ăn uống tốt để kiểm soát bệnh hiệu quả.

- Có 6,0% người bệnh thường xuyên ăn nội tạng động vật và 3,0% thường xuyên ăn các thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh

2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tuân thủ chế độ dinh dưỡng của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên

- Tăng cường đào tạo cho điều dưỡng về tư vấn điều trị cho người bệnh THA, đặc biệt là tuân thủ chế độ dinh dưỡng

- Tăng cường tuyên truyền về tác dụng của dinh dưỡng hợp lí đúng theo khuyến cáo có tác dụng kiểm soát huyết áp

- Chú trọng công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh THA điều trị ngoại trú tại bệnh viện

1 Bộ Y tế, Nhóm đối tác Y tế (2012), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, Bộ Y tế, Hà Nội

2 Bộ Y tế (2015), Hướng dẫn điều trị dinh dưỡng lâm sàng, Ban hành kèm theo Quyết định số 5517/QĐ-BYT ngày 25 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, tr.115 - 119, Nhà xuất bản Y học

3 Bộ Y tế (2006), Tài liệu hướng dẫn đào tạo cán bộ chăm sóc sức khoẻ ban đầu về phòng chống một số bệnh không lây nhiễm, Nhà xuất bản Y học, tr.6

4 Bộ Y tế (2012), Chiến lược quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015 - 2025

5 Lại Đức Trường (2011), “Nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Thái Nguyên,hiệu quả của nâng cao sức khỏe và dinh dưỡng hợp lý, 2011”, Luận án tiến sỹ y học, chuyên ngành Y tế Công cộng, viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương

6 Lê Thị Huệ (2016), “Thực trạng nhận thức về chế độ ăn uống và luyện tập thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2016”, Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp

7 Ngô Quý Châu và cs (2012), Bệnh học nội khoa, Nhà xuất bản Y học

8 Phạm Tử Dương (2007), Bệnh tăng huyết áp, Nhà xuất bản Y học, tr.17 - 47

Ngày đăng: 03/02/2023, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Lại Đức Trường (2011), “Nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Thái Nguyên,hiệu quả của nâng cao sức khỏe và dinh dưỡng hợp lý, 2011”, Luận án tiến sỹ y học, chuyên ngành Y tế Công cộng, viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ bệnh không lây nhiễm tại Thái Nguyên,hiệu quả của nâng cao sức khỏe và dinh dưỡng hợp lý, 2011
Tác giả: Lại Đức Trường
Năm: 2011
6. Lê Thị Huệ (2016), “Thực trạng nhận thức về chế độ ăn uống và luyện tập thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2016”, Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhận thức về chế độ ăn uống và luyện tập thể lực của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2016
Tác giả: Lê Thị Huệ
Năm: 2016
9. Trương Thùy Dương (2016), “Hiệu quả của mô hình truyền thông giáo dục dinh dưỡng nhằm cải thiện một số yếu tố nguy cơ tăng huyết áp tại cộng đồng”, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của mô hình truyền thông giáo dục dinh dưỡng nhằm cải thiện một số yếu tố nguy cơ tăng huyết áp tại cộng đồng
Tác giả: Trương Thùy Dương
Năm: 2016
10. Vũ Xuân Phú, Nguyễn Minh Phương (2012), “Thực trạng thực hành tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp của người bệnh 25 - 60 tuổi ở 4 phường thành phố Hà Nội”, Tạp chí Y học thực hành, 817 (4), tr. 104-108.* Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thực hành tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp của người bệnh 25 - 60 tuổi ở 4 phường thành phố Hà Nội
Tác giả: Vũ Xuân Phú, Nguyễn Minh Phương
Năm: 2012
12. Dewhurst MJ (2013), "The high prevalence of hypertension in rural dwelling Tanzanian older adults and the disparity between detection,  treatment and control: a rule of sixths?", J Hum Hypetens. 27, pp.374 - 380 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The high prevalence of hypertension in rural dwelling Tanzanian older adults and the disparity between detection,  treatment and control: a rule of sixths
Tác giả: Dewhurst MJ
Năm: 2013
12. Mathew R. Alexander el al (2019), “The global prevalence of hypertension” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The global prevalence of hypertension
Tác giả: Mathew R. Alexander el al
Năm: 2019
14. World Health Organization (2021), “Hypertension”, WHO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypertension
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2021
15. World Health Organization (2013), "A global brief on hypertension", WHO Sách, tạp chí
Tiêu đề: A global brief on hypertension
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2013
16. Yeon Hwan Park at el (2011), “The effects of an intergrated health education and exercise program in community-dwelling older aldults with hypertension: A randomized controlled trial”, Patient Education and Counseling, 82, pp.133 - 137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effects of an intergrated health education and exercise program in community-dwelling older aldults with hypertension: A randomized controlled trial
Tác giả: Yeon Hwan Park at el
Năm: 2011
1. Bộ Y tế, Nhóm đối tác Y tế (2012), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, Bộ Y tế, Hà Nội Khác
2. Bộ Y tế (2015), Hướng dẫn điều trị dinh dưỡng lâm sàng, Ban hành kèm theo Quyết định số 5517/QĐ-BYT ngày 25 tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, tr.115 - 119, Nhà xuất bản Y học Khác
3. Bộ Y tế (2006), Tài liệu hướng dẫn đào tạo cán bộ chăm sóc sức khoẻ ban đầu về phòng chống một số bệnh không lây nhiễm, Nhà xuất bản Y học, tr.6 Khác
4. Bộ Y tế (2012), Chiến lược quốc gia phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015 - 2025 Khác
7. Ngô Quý Châu và cs (2012), Bệnh học nội khoa, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr 169-184 Khác
8. Phạm Tử Dương (2007), Bệnh tăng huyết áp, Nhà xuất bản Y học, tr.17 - 47 Khác
11. Department of Economic and Social Affairs (2012), Population ageing and development 2012, United nations Khác
13. National Institutes of Health (2012), Who is at risk for high blood pressure Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w