Microsoft Word PHAÌ£M THIÌ£ LIĖN BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH PHẠM THỊ LIÊN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC BÀN CHÂN Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠ[.]
Cơ sở lý luận và thực tiễn
Cơ sở lý luận
1.1.1 Định nghĩa tự chăm sóc
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1983), tự chăm sóc được định nghĩa là các hoạt động cá nhân nhằm tăng cường sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, hạn chế dịch bệnh và phục hồi sức khỏe Đây là khái niệm quan trọng trong việc duy trì sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người.
Tự chăm sóc là hành động cá nhân chủ động khởi xướng và thực hiện các hoạt động nhằm duy trì sức khỏe, cuộc sống và hạnh phúc Quá trình này giúp mỗi người học hỏi, tự định hướng các hoạt động phù hợp với bản thân để nâng cao chất lượng cuộc sống Khi thực hiện hiệu quả, tự chăm sóc có tác động tích cực đến sức khỏe, sự thoải mái và hạnh phúc của cá nhân.
*Tự chăm sóc bàn chân ở người bệnh đái tháo đường
Tự chăm sóc trong đái tháo đường là quá trình phát triển kiến thức và nhận thức để sống chung với căn bệnh phức tạp này trong bối cảnh xã hội Việc chăm sóc hàng ngày do chính người bệnh hoặc người thân hỗ trợ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học các kỹ năng tự chăm sóc để kiểm soát đường huyết, ngăn ngừa biến chứng, hạn chế khuyết tật và phục hồi chức năng.
Hành vi tự chăm sóc bản thân ở người bệnh đái tháo đường bao gồm việc ăn uống lành mạnh, duy trì hoạt động thể chất đều đặn, theo dõi lượng đường trong máu, tuân thủ đúng liệu trình điều trị và thuốc uống Ngoài ra, kỹ năng giải quyết vấn đề tốt, phương pháp đối phó lành mạnh và giảm thiểu rủi ro đều có mối quan hệ tích cực với kiểm soát đường huyết hiệu quả, giúp giảm thiểu biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
- Chăm sóc bàn chân gồm:
Hàng ngày, hãy kiểm tra bàn chân kỹ lưỡng, bao gồm các kỹ chân và kẽ móng để phát hiện sớm các vết xước, chai sạn, vết rộp hoặc tổn thương Đồng thời, bạn cần kiểm tra xem da bàn chân có bị khô, nứt nẻ, đỏ, nóng hoặc căng khi sờ vào bất kỳ vùng nào để đảm bảo sức khỏe cho bàn chân luôn tốt.
Để duy trì sức khỏe bàn chân, hãy vệ sinh chân sạch sẽ hàng ngày bằng xà phòng nhẹ và nước ấm (37 độ C), sau đó lau khô nhẹ nhàng để tránh tổn thương da Ngoài ra, cắt móng tay, móng chân thường xuyên giúp ngăn ngừa các bệnh lý về móng và duy trì vệ sinh tốt cho bàn chân.
+ Bảo vệ bằng chân: thường xuyên sử dung giày, dép, tất để đi bảo vệ bàn chân và thay thường xuyên
Để phòng ngừa nhiễm trùng da sau khi bị trầy xước, cần rửa sạch vết thương bằng nước ấm và sát trùng kỹ lưỡng bằng dung dịch phù hợp, sau đó dùng gạc sạch để băng lại Trong trường hợp vết thương lâu lành hoặc có dấu hiệu nhiễm trùng, nên tìm đến cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời, đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra thuận lợi.
Người mắc bệnh đái tháo đường cần uống nhiều nước hơn để bù đắp lượng mất đi do triệu chứng tiểu nhiều, giúp hạn chế tình trạng mất nước và khô da Việc bổ sung đủ lượng nước hàng ngày không chỉ hỗ trợ duy trì cân bằng điện giải mà còn giúp kiểm soát tốt các triệu chứng của bệnh Uống đủ nước là bước quan trọng trong chế độ chăm sóc người bệnh đái tháo đường, giúp duy trì sức khỏe toàn diện.
Thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường được đánh giá qua bộ câu hỏi liên quan đến thực hành, đã được xây dựng và nghiên cứu tại Việt Nam Việc đánh giá dựa vào câu trả lời của người bệnh giúp xác định mức độ tự chăm sóc bàn chân, từ đó nâng cao nhận thức và kỹ năng phòng ngừa biến chứng Đây là bước quan trọng trong quản lý đái tháo đường nhằm giảm nguy cơ biến chứng bàn chân và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
1.1.2 Đại cương bệnh đái tháo đường
1.1.2.1.Định nghĩa: ĐTĐ là một nhóm các bệnh lý chuyển hoá đặc trưng do tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy yếu nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [8]
1.1.2.2.Phân loại và đặc điểm sinh lý
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là hội chứng rối loạn chuyển hóa và tăng đường huyết không thích hợp, do giảm bài tiết insulin hoặc sự kháng insulin kết hợp với bài tiết insulin không phù hợp để điều chỉnh Các chuyên gia quốc tế đã đề xuất thay đổi trong phân loại ĐTĐ, loại bỏ các thuật ngữ “ĐTĐ phụ thuộc insulin” và “ĐTĐ không phụ thuộc insulin” vì dựa chủ yếu trên phương diện dược lý, thay vào đó giữ nguyên nhóm “ĐTĐ Type 1 và Type 2” và sử dụng số Ả Rập để phân loại Năm 1999, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định phân loại bệnh đái tháo đường dựa theo phương pháp điều trị, giúp nâng cao độ chính xác và phù hợp trong chẩn đoán và quản lý bệnh.
1.1.2.3.Chẩn đoán bệnh đái tháo đường:
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Khi chẩn đoán đái tháo đường dựa trên glucose huyết tương lúc đói hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống, cần thực hiện ít nhất hai lần vào hai ngày khác nhau để đảm bảo chính xác Một số trường hợp có thể được chẩn đoán đái tháo đường nhưng lại có glucose huyết tương lúc đói bình thường, do đó cần ghi rõ phương pháp chẩn đoán đã sử dụng để xác định chính xác bệnh lý Phương pháp tăng glucose máu bằng đường uống là một trong các xét nghiệm quan trọng để đánh giá chức năng chuyển hóa glucose của cơ thể.
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hằng năm, hơn 1 triệu người bị cắt cụt chi dưới do biến chứng của bệnh ĐTĐ, trung bình mỗi 30 giây lại có một người bệnh ĐTĐ bị cắt cụt chi trên toàn thế giới Theo WHO và IDF, khoảng 70% các trường hợp cắt cụt chi liên quan đến bệnh ĐTĐ và có thể phòng ngừa bằng cách chăm sóc bàn chân phù hợp, kiểm soát tốt đường huyết và nâng cao nhận thức về sức khỏe Các biến chứng bàn chân do ĐTĐ gây ra khiến chi phí điều trị rất cao, gây gánh nặng cho hệ thống y tế; ví dụ, chi phí điều trị một vết loét chân là 8.000 USD, với nhiễm trùng là 17.000 USD, và đoạn chi lên tới 45.000 USD Nghiên cứu của Adarmouch và cộng sự (2017) cho thấy tư vấn giáo dục sức khỏe giúp nâng cao kiến thức tự chăm sóc bàn chân từ 5,7% lên 67,9% và thực hành tự chăm sóc từ 50,9% lên 88,6% Bên cạnh đó, Mohamed và cộng sự (2015) chỉ ra rằng việc tư vấn giáo dục giúp tăng số ngày người bệnh tự chăm sóc bàn chân từ trung bình 3,2 ngày lên 5,9 ngày chỉ sau một tháng Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa đúng và giáo dục người bệnh có thể giảm nguy cơ đoạn chi từ 49% đến 85%.
Trên thế giới, tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang tăng nhanh chóng theo thời gian Theo các số liệu toàn cầu, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường đã tăng từ 4,3% vào năm 1980 lên 9,0% vào năm 2020, cho thấy sự gia tăng đáng kể về số người bị ảnh hưởng bởi căn bệnh này.
Tỷ lệ mắc đái tháo đường (ĐTĐ) toàn cầu đã tăng đáng kể trong những thập kỷ gần đây, từ 108 triệu người năm 1980 lên đến 422 triệu người năm 2014 Năm 2000, số người mắc ĐTĐ là 171 triệu, tăng lên 194 triệu vào năm 2003 và 246 triệu vào năm 2006, dự báo sẽ đạt từ 380 đến 399 triệu vào năm 2025 Theo nghiên cứu của Shaw JE và cộng sự (2010), tỷ lệ ĐTĐ trên toàn thế giới hiện là 6,4% (khoảng 285 triệu người), dự kiến sẽ tăng lên 7,7% (gần 439 triệu người) vào năm 2030 Các dự báo cho thấy từ năm 2010 đến 2030, 69% người trưởng thành mắc ĐTĐ sẽ sống tại các nước đang phát triển, trong khi tỷ lệ này ở các nước phát triển là khoảng 20% Nghiên cứu của Jayawardena R và cộng sự (2012) về sự phổ biến của tiền đái tháo đường và ĐTĐ tại khu vực Nam Á trong vòng 30 năm cũng cho thấy tỷ lệ tiền ĐTĐ đang gia tăng đáng kể trong giai đoạn này.
Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc ĐTĐ tại các quốc gia Nam Á đã có xu hướng tăng mạnh, với Bangladesh từ 4,7% năm 2005 nâng lên 8,5% năm 2016, Ấn Độ từ 4,6% năm 2007 tăng lên 12,5%, Pakistan từ 3,0% năm 2002 đến 7,2%, Sri Lanka từ 10,3% năm 2006 lên 11,5%, trong khi Nepal giảm từ 19,5% xuống còn 9,5% vào năm 2007 Nghiên cứu đã kết luận rằng ĐTĐ là một đại dịch tại khu vực Nam Á, với tốc độ gia tăng nhanh trong ba thập niên qua Tính đến năm 2016, toàn thế giới có khoảng 422 triệu người mắc ĐTĐ, tăng từ 382 triệu người năm 2013 và 108 triệu người vào năm 1980, cho thấy xu hướng gia tăng đáng báo động của bệnh này trên toàn cầu.
Dân số toàn cầu đang chuyển dịch theo lứa tuổi, gây nên tỷ lệ mắc bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ) ở người lớn tăng gần gấp đôi so với năm 1980, đạt 4,7% ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 90% các trường hợp mắc bệnh, với tỷ lệ mắc ngang bằng ở nam và nữ, nhưng nam giới thường có tỷ lệ cao hơn do các yếu tố như béo phì, mỡ bụng, huyết áp cao, hút thuốc lá và tiêu thụ rượu Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), dự kiến sẽ có khoảng 1,5 triệu ca tử vong do ĐTĐ vào năm 2012, mặc dù thực tế có thể lên tới 2,2 triệu người chết mỗi năm, chủ yếu do các bệnh liên quan như cao huyết áp, bệnh tim mạch và biến chứng như suy thận Trong năm 2014, Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế (IDF) ước tính có đến 4,9 triệu ca tử vong toàn cầu liên quan đến bệnh ĐTĐ, chủ yếu xảy ra ở các nước phát triển và các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, nơi chịu trách nhiệm hơn 80% số ca tử vong từ ĐTĐ Tốc độ gia tăng của bệnh ĐTĐ type 2 đặc biệt nhanh ở châu Á và châu Phi, dự kiến mỗi người mắc bệnh sẽ sống đến năm 2030, chủ yếu do xu hướng đô thị hóa và thay đổi lối sống, bao gồm ít vận động, chế độ ăn giàu năng lượng và giàu chất béo bão hòa, góp phần vào sự gia tăng của bệnh trên toàn thế giới.
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Chi phí điều trị loét chân không đoạn chi tại Việt Nam trung bình khoảng 3.522.000 đồng Việt Nam mỗi người bệnh, trong khi đó cho các trường hợp loét chân và đoạn chi lên tới 6.228.000 đồng, phản ánh gánh nặng kinh tế lớn đối với người bệnh ĐTĐ có biến chứng chân Người bệnh ĐTĐ thường đến viện ở giai đoạn muộn, làm tăng chi phí và thời gian nằm viện trung bình thêm 2 tháng so với những người không có biến chứng chân Tỷ lệ người bệnh ĐTĐ bị đoạn chi do biến chứng chân là khoảng 40%, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình điều trị và giảm khả năng tập luyện của người bệnh Tuy nhiên, các biến chứng chân của người bệnh ĐTĐ có thể được hạn chế và phòng ngừa hiệu quả nếu họ nhận được đầy đủ thông tin và tư vấn chăm sóc bàn chân từ nhân viên y tế.
Nghiên cứu của Hồ Phương Thuý và Ngô Huy Hoàng năm 2018 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang cho thấy tư vấn giáo dục sức khoẻ đã nâng cao kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân cho người bệnh ĐTĐ type 2 sau 1 tháng can thiệp Cụ thể, điểm kiến thức tự chăm sóc bàn chân của bệnh nhân tăng từ 12,57 ± 3,75 lên 17,97 ± 1,72 trên tổng điểm 20, trong khi điểm thực hành tự chăm sóc tăng từ 12,71 ± 3,61 lên 18,11 ± 3,00 trên tổng điểm 21 Điều này cho thấy các chương trình tư vấn giáo dục sức khoẻ, đặc biệt liên quan đến kiến thức và thực hành tự chăm sóc bàn chân, là cực kỳ cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý bệnh ĐTĐ type 2.
Nghiên cứu của Vũ Nguyên Lam và cộng sự (2000) tại Thành phố Vinh cho thấy tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ là 5,64%, trong đó tỷ lệ mới mắc là 1,1% Tỷ lệ ĐTĐ cao nhất ở nhóm tuổi trên 60 tuổi với 10,4%, trong khi nhóm tuổi 30-59 tuổi là 4,2% Tỷ lệ ĐTĐ ở nam và nữ gần như không có sự chênh lệch, lần lượt là 5,63% và 5,64% Nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ RLDNG là 14,18% Các yếu tố nguy cơ cao của bệnh bao gồm béo phì và tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ.
Nghiên cứu của Mai Thế Trạch và cộng sự (2001) về tỷ lệ bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ) ở hơn 5.200 đối tượng tại nội thành TP Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc là 2,52% Kết quả này cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ ĐTĐ giữa nam và nữ (p > 0,05), nhằm cung cấp dữ liệu chính xác và cập nhật về tình hình bệnh ĐTĐ trong cộng đồng.
Nghiên cứu của Vũ Thị Mùi và Nguyễn Quang Chúy (2004) cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở nhóm tuổi 30–64 tại Yên Bái là 2,68%, trong đó béo phì là yếu tố nguy cơ chính Tại thành phố Việt Trì, Phú Thọ, Nguyễn Bá Đằng và cộng sự (2003) ghi nhận tỷ lệ ĐTĐ là 9,16% và RLDNG chiếm 21% Nghiên cứu của Tạ Văn Bình (2004) tại Hà Nội xác định tỷ lệ ĐTĐ là 5,7%, và suy giảm dung nạp glucose là 7,4%, đặc biệt đối tượng béo phì (BMI ≥ 23) và THA có liên quan chặt chẽ với bệnh ĐTĐ Tại Hà Nội, Nguyễn Huy Cường và cộng sự (2005) cho thấy tỷ lệ ĐTĐ là 2,42%, RLDNG là 2,2% Trong tỉnh Quảng Ngãi, Lê Quang Toàn và cộng sự (2014) phát hiện tỷ lệ mắc ĐTĐ là 5,5%, cao hơn ở nam (5,9%) so với nữ (5,1%), với 65,2% chưa được chẩn đoán, trong đó tiền ĐTĐ là 21,4%, tỷ lệ cao hơn ở nữ Tại Biên Hòa, Ngô Thanh Huyền và cộng sự (2013) báo cáo tỷ lệ ĐTĐ là 8,1%, cao hơn ở nữ (51,9%), tỷ lệ THA là 65,4%, và nhóm thừa cân, béo phì có tỷ lệ mắc cao hơn nhóm gầy Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Huyền (2015) trên 2402 người tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ ĐTĐ là 7,9%, chủ yếu trên 45 tuổi, tỷ lệ mắc đều nhau giữa nam và nữ, trong đó nhóm không lao động chân tay mắc bệnh thấp hơn nhóm tĩnh tại; các yếu tố như THA, rối loạn lipid máu, và chỉ số BMI ≥ 23 làm tăng nguy cơ mắc ĐTĐ đáng kể.
Mô tả vấn đề cần giải quyết
Giới thiệu về Trung tâm Y tế huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
Trung tâm Y tế huyện Nam Sách là đơn vị sự nghiệp y tế công lập, tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, trực thuộc Sở Y tế Trung tâm có tư cách pháp nhân, trụ sở chính đặt tại số 345 Trần Phú, Thị Trấn Nam Sách – Nam Sách – Hải Dương Ngoài ra, trung tâm có con dấu và tài khoản riêng được mở tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật, đảm bảo hoạt động hiệu quả và tuân thủ đầy đủ các quy định về pháp lý và tài chính.
Trung tâm Y tế huyện Nam Sách chịu sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp của Sở Y tế tỉnh Hải Dương về tổ chức, nhân lực, hoạt động, tài chính và cơ sở vật chất Ngoài ra, trung tâm còn nhận hướng dẫn về chuyên môn và nghiệp vụ từ các đơn vị y tế tuyến tỉnh, trung ương Đồng thời, Trung tâm Y tế huyện Nam Sách còn chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện theo quy định của pháp luật, đảm bảo hoạt động đúng quy chuẩn và pháp lý.
Trung tâm Y tế huyện Nam Sách thành lập từ năm 2006 theo Quyết định của UBND tỉnh Hải Dương, với chức năng chính là thực hiện các kỹ thuật phòng chống dịch bệnh, cung cấp dịch vụ y tế dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng Trung tâm còn đảm nhiệm công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình cùng nhiều dịch vụ y tế khác theo quy định của pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại địa phương.
Dù gặp nhiều khó khăn về nhân lực và trang thiết bị, cán bộ lãnh đạo và nhân viên trung tâm y tế vẫn nỗ lực duy trì hoạt động tích cực Năm 2007, trung tâm đã chủ động tham mưu với Ban chỉ đạo phòng chống dịch của huyện để kịp thời ngăn chặn dịch tả lớn, không để dịch lây lan hoặc gây tử vong Đến năm 2014, trung tâm chỉ đạo các trạm y tế xã, thị trấn phối hợp thành công chiến dịch tiêm vắc xin sởi - Rubella với tỷ lệ tiêm đạt 99,8%, trên 26 nghìn người được đảm bảo Nhờ công tác phòng chống dịch hiệu quả, các chỉ tiêu y tế đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, như tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm từ 18% năm 2006 xuống còn 11,5% năm 2015, tỷ lệ áp dụng biện pháp tránh thai hiện đại tăng từ 67% lên 75%, và tỷ lệ trẻ em tiêm chủng đạt 95-100% Năm 2016, trung tâm đề ra kế hoạch khám mắt cho gần 4.000 người, tư vấn phòng tránh lây nhiễm HIV cho 1.000 người, tổ chức gần 300 buổi truyền thông về sức khỏe sinh sản, chăm sóc người cao tuổi, an toàn thực phẩm, đồng thời vận động trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ đạt 100%.
Với những thành tích đạt được, trong 10 năm qua, đơn vị liên tục được Sở Y tế
UBND huyện đã được đánh giá là một trong những đơn vị hàng đầu của tỉnh, với nhiều thành tích nổi bật trong công tác lao động và phát triển Năm 2007, đơn vị đã vinh dự nhận danh hiệu tập thể lao động tiên tiến và được Sở Y tế tặng giấy khen, thể hiện sự cố gắng và đạt được thành tựu trong lĩnh vực y tế Đến năm 2012, UBND huyện tiếp tục được công nhận là tập thể lao động xuất sắc, nhận bằng khen từ Ủy ban Nhân dân tỉnh, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của địa phương Năm 2014, đơn vị này vẫn duy trì phong độ xuất sắc, khẳng định vai trò quan trọng trong sự phát triển của huyện.
Bộ Y tế đã tặng bằng khen cho nhiều cá nhân và tập thể xuất sắc trong công tác phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Các đơn vị tiêu biểu gồm Khoa kiểm soát dịch bệnh – HIV/AIDS, Khoa Y tế công cộng, trạm y tế xã Nam Hồng, Phú Điền, Thanh Quang, Nam Chính và An Bình đã nhiều năm liên tiếp nhận giấy khen từ Sở Y tế và Ủy ban nhân dân huyện Những thành tích này thể hiện sự nỗ lực và đóng góp tích cực của các đơn vị y tế trong việc đảm bảo sức khỏe cộng đồng tại địa phương.
2.2 Thực trạng kiến thức thực hành tự chăm sóc bàn chân ở người bệnh ĐTĐ tuyp2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Nam Sách –Hải Dương năm
Nghiên cứu mô tả cắt ngang Đối tượng nghiên cứu
Khảo sát toàn bộ người bệnh đái tháo đường tuyp 2 đang được quản lý tại Trung tâm Y tế huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương từ 6/2022 đến 7/2022 gồm 153 người bệnh
- Bệnh nhân có rối loạn tâm thần
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Đánh giá kiến thức chăm sóc bàn chân dựa theo hướng dẫn chăm sóc bàn chân của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ năm 2008
Đánh giá kiến thức thực hành về chăm sóc bàn chân ĐTĐ ở bệnh nhân được thực hiện qua phỏng vấn theo bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn, ghi nhận câu trả lời và chấm điểm từng câu với tổng điểm tối đa là 18 điểm Bảng 2 trình bày mức độ kiến thức chăm sóc bàn chân của người bệnh, giúp xác định khả năng tự chăm sóc chân của bệnh nhân và mức độ cần thiết của các hoạt động giáo dục sức khỏe Việc đánh giá này nhằm nâng cao nhận thức và kiến thức của bệnh nhân về chăm sóc bàn chân, góp phần phòng ngừa biến chứng tiểu đường liên quan đến bàn chân.
Mức độ Số điểm Tiêu chuẩn
Tốt >15 điểm Trả lời đúng > 15 câu hỏi
Trung bình 10-15 điểm Trả lời đúng ≤ 15 câu hỏi và ≥ 10 câu hỏi Kém