1 Câu 1 Đọc hai đoạn thơ sau Làm ơn há dễ trông người trả ơn Nay đà rõ đặng nguồn cơn, Nào ai tính thiệt so hơn làm gì Nhớ câu kiến nghĩa bất vi, Làm người thế ấy cũng phi anh hùng [ ]Ngư rằng Lòng lã[.]
Trang 1
Câu 1 Đọc hai đoạn thơ sau:
- Làm ơn há dễ trông người trả ơn Nay đà rõ đặng nguồn cơn, Nào ai tính thiệt so hơn làm gì
Nhớ câu kiến nghĩa bất vi, Làm người thế ấy cũng phi anh hùng
- […]Ngư rằng: Lòng lão chẳng mơ, Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?
Nước trong rửa ruột sạch trơn, Một câu danh lợi chi sờn lòng đây
a (NB) Hai đoạn thơ trên được trích trong tác phẩm nào? Của ai?
b (NB) Giới thiệu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả
c (TH) Lời nói trong hai đoạn trích trên là của những nhân vật nào? Hãy phân tích những nét chung và riêng trong quan điểm và lối sống của họ Quan điểm ấy có phải cũng là quan điểm sống của tác giả?
Câu 2 (VDC) Những cảm xúc và suy nghĩ của em về nhân vật Thúy Kiều qua văn bản “Kiều ở lầu Ngưng
Bích” (Trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, Ngữ Văn 9, tập 1)
ĐỀ ÔN TẬP HKI - ĐỀ SỐ 1 MÔN: NGỮ VĂN 9
Thời gian làm bài: 90 phút
THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN TUYENSINH247.COM
✓ Kiểm tra kiến thức, kĩ năng làm bài nghị luận văn học: Kiều ở lầu Ngưng Bích
✓ Kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh trong học kì I qua văn bản Lục Vân Tiên
MỤC TIÊU
Trang 2HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN TUYENSINH247.COM Câu 1
a
Phương pháp: căn cứ bài Lục Vân Tiên
Cách giải:
Hai đoạn thơ trên được rút từ truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu
b
Phương pháp: căn cứ bài Lục Vân Tiên
Cách giải:
Cần nêu được những nét chính sau:
- Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tục gọi là Đồ Chiểu, sinh tại Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), quê cha ở Thừa Thiên – Huế
- Chuẩn bị bước vào kì thi Hội ở Huế (1849), được tin mẹ mất, ông trở về Gia Định chịu tang Bất hạnh chồng chất đổ ập xuống cuộc đời, ông bị mù cả hai mắt khi tuổi đời mới hai mươi sáu Đường công danh nghẽn lối, tình yêu bội ước, đất nước loạn li, nhưng Nguyễn Đình Chiểu quyết không gục ngã trước số phận Ông vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu, cống hiến trọn đời cho dân cho nước
- Cuộc đời Đồ Chiểu là tấm gương sáng về nghị lực sống và cống hiến cho đời: một thầy giáo mẫu mực, một thầy thuốc y đức, một nhà văn yêu nước chống ngoại xâm Thơ văn của ông là lá cờ đầu trong phong trào yêu nước kháng Pháp cuối thế kỉ XIX Cuộc đời – thơ văn của ông mãi là ngôi sao sáng trên bầu trời văn nghệ Việt Nam
c
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
- Lời nói trong hai đoạn trích trên là của Lục Vân Tiên và ngư ông Lời nói hay cũng chính là quan điểm sống
của họ Những tư tưởng lớn gặp nhau, họ đều có chung một suy nghĩ và hành động: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn” (Lục Vân Tiên), “Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn” (ngư ông) Nét đẹp của ngư ông gặp gỡ
nét đẹp của Vân Tiên Họ dốc lòng làm việc nhân nghĩa không phải để chờ trả ơn, mà coi đó là bổn phận, là
lẽ sống đẹp của người giúp đỡ hành đạo
- Tuy nhiên, trong mỗi nhân vật vẫn có nét đẹp riêng, Vân Tiên tuổi còn trẻ nên hăm hở bước vào đời với lí
tưởng của người anh hùng trượng nghĩa: “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”
Còn ngư ông, tuổi tác đã già, làm việc nhân nghĩa và sống trong sạch, không màng danh lợi Thích sống cuộc đời tự do, đạm bạc, hòa mình vào thiên nhiên với đầm, chích, gió, trăng, ngày ngày ngao du cùng sông nước như một ẩn sĩ
Trang 3- Quan điểm, lối sống ấy cũng chính là ước mơ, khát vọng sống của Nguyễn Đình Chiểu Trẻ thì đội trời đạp đất, cứu khốn phò nguy, giúp đời hành đạo; khi về già được sống một cuộc đời đạm bạc, an lành, trong sạch, làm được nhiều việc nhân đức, coi thường vinh hoa phú quý
Câu 2
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học
Cách giải:
Yêu cầu hình thức:
- Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản
- Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
Yêu cầu nội dung:
1 Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và nhân vật Thúy Kiều, xuất xứ nội dung đoạn trích
2 Thân bài:
* Ở lầu Ngưng Bích, Kiều phải sống trong một hoàn cảnh éo le, cô đơn tội nghiệp
- Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, bị Tú Bà ép tiếp khách làng chơi, Thúy Kiều đau đớn, tủi nhục tìm đến cái
chết Tú Bà sợ mất “cả vốn lẫn lời”, vội khuyên can, hứa hẹn gả nàng cho một người tử tế Mụ đưa Kiều ra
sống ở lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng, tìm mưu thâm độc buộc nàng tiếp khách
- Ở lầu Ngưng Bích, Kiều sống trơ trọi giữa không gian mênh mông hoang vắng, sớm làm bạn với trời mây,
đêm làm bạn với ngọn đèn, thui thủi một mình một bóng “bốn bề… dặm kia…” Nàng đã rơi vào hoàn cảnh
cô đơn tuyệt đối
* Nỗi nhớ người yêu và tấm lòng thủy chung, trong sáng của Kiều
- Vượt lên trên những nỗi đau riêng, nàng nhớ đến Kim Trọng với nỗi nhớ thương day dứt
- Kiều xót xa khi nghĩ giờ này chắc Kim Trọng vẫn đang mong chờ tin tức của nàng, đâu biết rằng nàng đang phải bán mình vào hang hùm miệng rắn, một mình bơ vơ nơi góc bể chân trời Nàng nhớ về Kim Trọng với tâm trạng đau đớn xót xa
- Gặp gia biến, Kiều phải bán mình chuộc cha rồi bị đọa đầy vào nơi sóng gió Nhưng tận đáy lòng, nàng luôn
tự giày vò mình đã không giữ được tình yêu chung thủy -> bằng chứng hùng hồn nhất cho tấm lòng thủy chung trong trắng của Kiều
* Nỗi thương cha nhớ mẹ và tấm lòng hiếu thảo, nhân hậu
- Bị đọa đầy cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng trong lòng Kiều lúc nào cũng rưng rưng nỗi thương cha nhớ mẹ: nàng thương cha mẹ khi sáng khi chiều tựa cửa ngóng tin con, trông mong sự đỡ đần Nàng xót xa lúc
cha mẹ tuổi già sức yếu mà nàng không được tự tay chăm sóc Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển cố “sân Lai”, “gốc tử” đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều Nàng tưởng tượng cảnh đổi
Trang 4thay nơi quê nhà, cha mẹ ngày một thêm yếu Kiều nhớ đến cha mẹ và ân hận mình đã phụ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ
-> Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất, nhưng nàng đã quên cảnh ngộ bản thân để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ Kiều không chỉ là một cô gái có tình yêu chung thủy, tâm hồn trong sáng mà còn là một người con hiếu thảo, một con người có tấm lòng nhân hậu, vị tha đáng trọng
* Nỗi tự thương mình và dự cảm về tương lai bất hạnh
- Với ngòi bút hết sức tinh tế, Nguyễn Du diễn tả chính xác tâm trạng của Thúy Kiều: mỗi biểu hiện của cảnh chiều tà (cánh buồm thấp thoáng, hoa trôi man mác đến nội cỏ rầu rầu, tiếng sóng ầm ầm) đều thể hiện tâm trạng và cảnh ngộ của Kiều: sự cô đơn, thân phận lênh đênh vô định, nỗi buồn tha hương, lòng thương nhớ người yêu, cha mẹ và cả sự bàng hoàng lo sợ… Tất cả khung cảnh ấy như báo trước dông bão của số phận sẽ
xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều
* Đặc sắc nghệ thuật:
- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
- Điệp ngữ “buồn trông” tạo âm hưởng trầm buồn đã trở thành điệp khúc của đoạn thơ cuối và cũng là điệp
khúc của tâm trạng
* Liên hệ mở rộng
- Những cảm xúc và suy nghĩ riêng của em về nhân vật Thúy Kiều qua các đoạn trích đã học hoặc cảm nghĩ chung về số phận và phẩm chất của những người phụ nữ xưa và nay…
3 Kết bài:
- Khẳng định những nét phẩm chất đáng quý của Thúy Kiều: nhân hậu, vị tha, hiếu thảo cùng đức hy sinh cao thượng vì tình yêu, vì những người thân thiết…
- Sức sống của nhân vật trong lòng người đọc cũng như giá trị của tác phẩm Truyện Kiều
khi phân tích cần kết hợp đa dạng các phương thức biểu đạt: biểu cảm, tự sự,… Có phần liên hệ, mở rộng vấn
đề để bài văn được sâu hơn