1 I Phần Đọc hiểu Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi Tôi muốn nói với các bạn câu chuyện làm Việt luận(a) và học Việt văn(b), luôn thể giãi bày hết nỗi khổ tâm của người anh các bạn đã đeo một cái[.]
Trang 1
I Phần: Đọc hiểu Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Tôi muốn nói với các bạn câu chuyện làm Việt luận (a) và học Việt văn (b) , luôn thể giãi bày hết nỗi khổ tâm của người anh các bạn đã đeo một cái “nghiệp” vào người: “nghiệp” dạy tiếng mẹ đẻ
Nỗi buồn thứ nhất là thấy các bạn có quan niệm học “tủ” Ông thầy dạy giỏi đối với các bạn là ông thầy giảng và soạn sách đúng “tủ”
Nói làm sao cho các bạn hiểu rằng trong 7, 8 năm trời, nào nhận xét, đọc sách, xem truyện, giảng văn nào tập dùng chữ, đặt câu, dàn ý, làm bài, tôi thiết tưởng một học sinh, với khiếu thông minh, trí nhớ trung bình, không có lí do gì phải nhẩm bút trước một đề văn trong kì thi viết
Sự học mà đã hạ xuống là học “tủ” thì chúng tôi cũng không còn cần làm việc cùng các bạn nữa Sao không
có một “hãng” nào đó in ra độ 500 bài làm văn sẵn để học sinh cứ việc mang về học thuộc như con vẹt, rồi đem nguyên văn chép lại cho hội đồng chấm thi duyệt xem chép sai hay đúng, việc gì còn phải lôi thôi bày đặt
ra chương trình học tập để bắt trẻ em ngày ngày phải đến trường
(a) Làm Việt Luận: tập làm văn bằng tiếng Việt
(b) Học Việt văn: học văn học Việt Nam
(Theo Nghiêm Toản, Luận văn thị phạm Dẫn theo Ngữ văn 8, tập II, trang 97+98, NXB Giáo dục, 2016)
Câu 1 (TH) Xác định phương thức biểu đạt chính và chỉ rõ những cảm xúc được tác giả biểu hiện trong đoạn
trích Qua đó, em học tập được điều gì khi thuyết phục người khác về một vấn đề?
Câu 2 (NB) Nỗi buồn thứ nhất mà tác giả nêu lên trong đoạn trích là gì?
Câu 3 (VDC) Viết một đoạn văn khoảng 1/2 trang giấy thi làm rõ nhận định: chúng ta không nên học vẹt,
học tủ
Phần 2: Làm văn (VDC)Nêu cảm nhận của em về hai đoạn thơ sau trong phần trích Cảnh ngày xuân:
Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
ĐỀ ÔN TẬP HKI - ĐỀ SỐ 4 MÔN: NGỮ VĂN 9 Thời gian làm bài: 90 phút THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN TUYENSINH247.COM
✓ Kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh qua kĩ năng đọc hiểu văn bản
✓ Kiểm tra kiến thức, kĩ năng làm bài nghị luận văn học: Cảnh ngày xuân
MỤC TIÊU
Trang 2Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dan tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, theo SGK Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005)
TAILIEUONTHI.NET
Trang 3HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT THỰC HIỆN: BAN CHUYÊN MÔN TUYENSINH247.COM Phần I
Câu 1
Phương pháp: Đọc, hiểu
Cách giải:
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận
- Những cảm xúc được tác giả thể hiện: nỗi buồn, sự khổ tâm của một nhà giáo trước lối học văn và làm văn của học sinh
- Học tập được:
+ Phải có luận điểm, hệ thống luận cứ rõ ràng, lập luận chặt chẽ
+ Có yếu tố biểu cảm để cách thuyết phục có lí, có tình
+ Từ ngữ rõ ràng, trong sáng
Câu 2
Phương pháp: đọc, tìm ý
Cách giải:
Nỗi buồn thứ nhất mà tác giả nêu lên trong đoạn trích là quan niệm học tủ của học sinh
Câu 3
Phương pháp: giải thích, phân tích, bình luận
Cách giải:
Học sinh nắm chắc kiến thức viết đoạn văn và viết theo yêu cầu đề bài Gợi ý:
- Yêu cầu hình thức:
+ Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập đoạn văn
+ Đoạn văn khoảng nửa trang Lùi đầu dòng, viết hoa chữ cái đầu tiên và không ngắt đoạn
+ Có các phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn; diễn đạt trôi chảy, không mắc lỗi diễn đạt, ngữ pháp, chính tả
- Yêu cầu nội dung: Đoạn văn nêu được cách hiểu học vẹt, học tủ; từ đó thấy được hậu quả từ việc học vẹt,
học tủ và có những liên hệ với bản thân Đoạn văn cần đảm bảo nội dung sau:
- Giới thiệu vấn đề: học vẹt, học tủ
- Giải thích:
+ Học vẹt là học thuộc từng câu từng chữ vanh vách nhưng không hiểu bản chất vấn đề
+ Học tủ là chỉ học một phần hoặc vài phần trong tất cả các nội dung đã học
=> Học vẹt, học tủ là cách học sai lầm hiện đang phổ biến trong lớp học sinh, sinh viên
- Nguyên nhân:
+ Lượng kiến thức lớn, học nhồi nhét
+ Do bản thân mỗi người quá lười biếng, không chịu học hành
Trang 4+…
- Hậu quả học vẹt học tủ:
+ Không làm chủ được kiến thức
+ Không có đam mê, hứng thú học tập, dễ chán nản
+ Làm giảm chất lượng giáo dục nước nhà
+…
- Biện pháp:
+ Học sinh cần ý thức được vai trò học tập, có phương hướng và mục tiêu rõ ràng khi học, để từ đó có động lực phấn đấu
+ Điều chỉnh phương pháp cách dạy trong nhà trường
- Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề
Phần II
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học
Cách giải:
Yêu cầu về kĩ năng:
- Viết đúng kiểu bài nghị luận văn học
- Lý lẽ rõ ràng, dẫn chứng xác thực
- Văn viết giàu cảm xúc, diễn đạt trôi chảy
- Bố cục ba phần rõ ràng, cân đối
- Trình bày sạch đẹp; ít sai lỗi câu, từ, chính tả
Yêu cầu về kiến thức: đảm bảo được các ý sau:
1 Giới thiệu chung:
- Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc Việt Nam, là tác giả của kiệt tác “Truyện Kiều”
- “Truyện Kiều” là tác phẩm có giá trị hiện thực sâu sắc và thấm đẫm tinh thần nhân đạo Nguyễn Du là cây
bút bậc thầy trong phân tích, miêu tả tâm lí nhân vật, bút pháp cá thể hóa… Và không thể không kể đến tài năng của ông ở phương diện tả cảnh
- Hai đoạn thơ trên đều thuộc phần đầu của tác phẩm, miêu tả cảnh mùa xuân trong ngày hội nhưng ở hai thời điểm khác nhau: sáng sớm và hoàng hôn
2 Phân tích, cảm nhận hai đoạn thơ trên:
* 4 câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên mùa xuân
- Hai câu thơ đầu tiên mở ra cho ta khung cảnh ngày xuân thiên nhiên vô cùng tươi đẹp: Bầu trời cao rộng, trong sáng, từng đàn én chao liệng náo nức như thoi đưa
- Hình ảnh ẩn dụ “con én đưa thoi” gợi sự trôi chảy của thời gian rất nhanh
TAILIEUONTHI.NET
Trang 5- Hai câu tiếp theo bức tranh hiện ra với không gian thoáng đạt mênh mông, bát ngát, ngút tầm mắt đến tận chân trời Màu sắc xanh của cỏ non làm nền chủ đạo cho không gian đó – một màu xanh non mơn mởn, tràn đầy sức sống của ngày xuân
- Nổi bật trên nền cỏ xanh tươi ấy là những bông hoa lê trắng Mặc dù đều là những gam màu lạnh nhưng hai màu sắc ấy kết hợp với nhau tạo nên sự hài hòa kì diệu, tạo nên một bức tranh đặc trưng của mùa xuân
=> Nguyễn Du không chỉ yêu thiên nhiên mà còn có sự cảm nhận của tâm hồn thi sĩ
* 6 câu thơ tiếp theo: Cảnh buổi chiều ngày hội xuân
- “Tà tà… ghềnh bắc ngang” gợi tả khung cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về
- Cảnh vật mang cái thanh, cái dịu, nhẹ nhàng của mùa xuân Tất cả nhỏ bé, nhè nhẹ, nắng đã nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu bắc ngang nhưng tất cả nhuốm màu tâm trạng của con người
- Bóng tịch dương đã chênh chếch xế chiều, dòng nước uốn quanh, dịp cầu xinh xắn,… Cảnh như lặng dần, nhạt dần, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng trong không gian nhỏ bé, phảng phất buồn
- Cách sử dụng từ láy: nao nao, tà tà, thanh thanh giúp biểu đạt sắc thái của cảnh vật và bộc lộ tâm trạng con
người “Thơ thẩn” có sức gợi lớn, gợi hình ảnh chị em Thúy Kiều đi về trong sự tiếc nuối, tưởng dan tay ra
về là vui nhưng thực ra là một nỗi buồn khó lòng nói hết
- Tất cả giúp hé lộ vẻ đẹp tâm hồn vô cùng nhạy cảm và sâu lắng
3 Đánh giá chung:
- Về nội dung: Cả hai đoạn thơ trên đều tả cảnh mùa xuân tươi đẹp trong sáng và tả cảnh chị em nàng Kiều
du xuân Đoạn thơ giúp ta hiểu tài năng sáng tạo, sự vận động trong tâm hồn nghệ sĩ của Nguyễn Du
- Về nghệ thuật: Cách sử dụng hình ảnh sáng tạo, từ láy độc đáo, bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình, sự vận
dụng sáng tạo thơ cổ Trung Quốc