Mục lục 1. Mở đầu ....................................................................................................... 3 1.1. Lời nói đầu ............................................................................................ 3 1.2. Phương pháp luận .................................................................................. 3 2. Nội dung ..................................................................................................... 4 2.1. Tổng quan về pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam ................ 4 2.1.1. Hoạt động trong nước ...................................................................... 4 2.1.2. Hoạt động Quốc tế ........................................................................... 5 2.2. Những điểm mới trong Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và tác động của chúng tới thực tiễn xã hội ...................................................................... 7 2.2.1. Trong nước ...................................................................................... 8 2.2.2. Quốc tế .......................................................................................... 15 3. Kết luận .................................................................................................... 18 4. Danh mục tài liệu tham khảo .................................................................. 18 2 1.Mở đầu 1.1. Lời nói đầu Môi trường và bảo vệ môi trường là chủ đề luôn được quan tâm bởi tất cả các quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy các vấn đề pháp luật về bảo vệ môi trường luôn là chủ đề thú vị cho những người yêu thích hai lĩnh vực pháp luật và hoạt động bảo vệ môi trường, đây cũng là một chủ đề mang tính thực tiễn cao. Chúng ta luôn luôn phải hành động dưới sự quy định của pháp luật, chính vì vậy để có thể có những hoạt động bảo vệ môi trường lợi ích, hiệu quả đòi hỏi mỗi chúng ta cần có sự hiểu biết về pháp luật, về những quy định của pháp luật trong lĩnh vực đó. Bên cạnh đó pháp luật không ngừng chuyển mình theo sự phát triển của xã hội, dẫn đến những sự thay đổi, sửa đổi bổ sung của Pháp luật sao cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội từng thời điểm. Luật bảo vệ môi trường năm 2020 kế thừa Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã có những bước chuyển mình quan trọng khi có những quy định liên quan trực tiếp đến hoạt động bảo vệ môi trường. Chính vì tính thời sự và cấp thiết này, hôm nay em xin được lựa chọn việc “Tìm hiểu những điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2020” để làm đề tài cho bài tiểu luận kết thúc học phần môn Công pháp Quốc Tế của mình. 1.2. Phương pháp luận Bài tiểu luận được người viết sử dụng phương pháp luận biện chứng, so sánh và phân tích những điểm mới của luật bảo vệ môi trường năm 2020 nhằm đưa đến cái nhìn mới mẻ, tổng quan, cung cấp nhiều nhất có thể những kiến thức liên quan giữa vấn đề môi trường và pháp luật mà người viết nghiên cứu được dựa trên những lời dạy của giảng viên hướng dẫn và những tài liệu, quan điểm của các học giả đi trước, làm cơ sở để người viết hoàn thành bài tiểu luận này. 3 2.Nội dung 2.1. Tổng quan về pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam 2.1.1. Hoạt động trong nước Bảo vệ môi trường tuy không phải là vấn đề mới nhưng bản thân nó luôn luôn mang tính nóng bỏng, thời sự đối với xã hội. Luật Bảo vệ môi trường được ban hành vào năm 1993 đánh dấu sự quan tâm chú trọng của nền pháp lý nước nhà đối với vấn đề bảo vệ môi trường bởi trước đó vấn đề này không được xem trọng, được pháp luật quy định thành một loại hình luật. Có hay chăng chỉ là những quy định bảo về môi trường xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước. Sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường đã tạo cơ sở pháp lý vững vàng cho việc tổ chức thực hiện công tác BVMT. Tiếp đến là sự ra đời của Luật BVMT năm 2014 với nhiều những cải biến phù hợp với sự phát triển và thực tiễn xã hội. Ngoài văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp việc BVMT như Luật BVMT, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BVMT, xử phạt vi phạm hành chính về BVMT, Nhà nước ta cũng ban hành văn bản pháp luật chung và chuyên ngành khác quy định nghĩa vụ BVMT đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân hữu quan như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991), Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989), Pháp lệnh về Thu thuế tài nguyên (1989), Pháp lệnh Bảo vệ đê điều (1989), Pháp lệnh Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (1989), Luật Đất đai (năm 1993 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2001), Luật Dầu khí (1993), Luật Khoáng sản (1996), Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ (1996), Luật Tài nguyên nước (1998), Pháp lệnh Thú y (1993), Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (1993)... Nhìn chung, cho đến nay hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta đã phát triển cả nội dung và hình thức, điều chỉnh tương đối đầy đủ các thành tố tạo nên môi trường. Hệ thống các tiêu chuẩn của môi trường cũng đã được ban hành làm cơ sở cho việc kiểm soát, đánh giá tác động môi trường. Các văn bản pháp luật được ban hành bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động 4 quản lý nhà nước về BVMT, nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân đối với vấn đề môi trường. Với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc và Chương trình môi trường Liên hợp quốc, Việt Nam đã rất quan tâm đến việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực BVMT. Tính đến nay, nước ta đã tham gia 14 công ước, hiệp định quốc tế về môi trường; đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương với các nước trong và ngoài khu vực về BVMT. Một bước chuyển mình có tác động tới đời sống xã hội cũng như các công tác BVMT là sự ra đời của Luật BVMT năm 2020. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 17 11 2020, có hiệu lực ngày 01012022… Luật gồm 14 chương, 171 điều quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường. ỞLuật BVMT năm 2020 mang nhiều tính mới, đóng góp tích cực vào nội dung các vấn đề giữa pháp luật với môi trường, đồng thời điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trong các hoạt động để thực hiện đúng với mục tiêu và tên của luật đề ra: Bảo vệ môi trường. 2.1.2. Hoạt động Quốc tế Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam dần dần được mở rộng và phát triển với quy mô ngày một to lớn hơn, bao gồm hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân (thương mại, dịch vụ, đầu tư, sản xuất công, nông, ngư nghiệp, sở hữu trí tuệ...) với nhiều hình thức đa dạng và phong phú (đơn phương, song phương, đa phương). Hai nội dung cốt lõi của quá trình hội nhập là: Một mặt, cải cách về kinh tế, đối mới các lĩnh vực của đời sống xã hội; mặt 5 khác, thực hiện tự do hóa, mở cửa thị trường, xây dựng môi trường kinh doanh, tăng cường trao đổi mậu dịch, đầu tư, dịch vụ...với nước ngoài. Việt Nam đã lần lượt tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế, ký kết các hiệp định kinh tế song phương và đa phương với nhiều nước, nhiều tổ chức trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189nước, quan hệ kinh tế với hơn 224 nước và vùng lãnh thổ, trong đó quan hệ với 30 nước là đối tác chiến lược, toàn diện (16 đối tác chiến lược và 14 đối tác toàn diện) và là thành viên của hầu hết các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng với vị thế và vai trò ngày càng được nâng cao. Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách về tăng cường hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập quốc tế về kinh tế, nước ta đã đạt được thành tựu to lớn về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, ngoại giao và an ninh quốc phòng... Đặc biệt, những thành tựu từ quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế đã góp phần phát triển kinh tế đất nước ở mức cao và ổn định trong thời gian dài, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước. Bên cạnh tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng về kinh tế, hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TNMT thời gian qua cũng đang được quan tâm thúc đẩy để đáp ứng với yêu cầu thực tế và xu thế hiện nay. Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia và là thành viên của 28 hiệp định quốc tế đa phương liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và mỗi trường (TNMT) (MEAs), trong đó, đặc biệt là những Hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết trong thời gian vừa qua đã tăng cường tỉnh tương tác giữa các chính sách về thương mại và các chính sách liên quan đến môi trường. Hội nhập quốc tế nói chung và trong lĩnh vực TNMT nói riêng đã góp phần nâng cao vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, đồng thời mang lại những lợi ích về nhiều mặt cho đất nước trong thời gian qua. Ngày nay, hội nhập quốc tế nói 6 chung, hội nhập và hợp tác quốc tế về môi trường nói riêng tiếp tục diễn biến theo theo xu thế sâu hơn về nội dung và mức độ và rộng hơn về phạm vi, hình thức. Xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế này đã và đang mang lại nhiều lợi ích, cơ hội và tiềm năng cho các quốc gia, nhưng đồng thời tạo ra những thách thức không nhỏ đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Một số xu hướng chính trong hội nhập và hợp tác quốc tế lĩnh vực môi trường có thể được khái quát như: Phạm vi, quy mô và mức độ ngày càng lớn, nghĩa vụ và mức độ ràng buộc về pháp lý ngày càng tăng; Đa dạng, phong phú về nội dung và lĩnh vực, tiếp tục hình thành nhiều khuôn khổ hoặc “sân chơi” quốc tế với nhiều “luật chơi” mới ở nhiều quy mô về địa lý, từ vùng, khu vực và toàn cầu; Yêu cầu và đòi hỏi về trách nhiệm tăng khi tham gia, kèm theo sự đầu tư và đóng góp tài chính tăng; Cơ chế đánh giá, giám sát việc thực thi các nghĩa vụ đã cam kết trong quá trình hội nhập ngày càng chặt chẽ kèm theo chế tài xử lý khi không tuân thủ và thực thi nghĩa vụ đã cam kết. 2.2. Những điểm mới trong Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và tác động của chúng tới thực tiễn xã hội Luật BVMT 2020 gồm 16 chương, 171 điều được bố cục lại so với Luật BVMT 2014, đưa các quy định về bảo vệ các thành phần môi trường lên đầu, thể hiện rõ mục tiêu xuyên suốt là bảo vệ các thành phần môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân, coi đây là nội dung trọng tâm, quyết định cho các chính sách BVMT khác. Bên cạnh đó, Luật đồng bộ các công cụ quản lý môi trường theo từng giai đoạn của dự án, bắt từ khâu xem xét chủ trương đầu tư, thẩm định dự án, thực hiện dự án cho đến khi dự án đi vào vận hành chính thức và kết thúc dự án. Những điểm mới mang tính đột phá của Luật Bảo vệ Môi trường được thể hiện ở những điểm như sau: 7 2.2.1. Trong nước 2.2.1.1. Bổ sung thêm phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật bảo vệ môi trường. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của Luật ghi nhận thêm “cộng đồng dân cư” Lần đầu tiên, cộng đồng dân cư được quy định là một chủ thể trong công tác BVMT; tăng cường công khai thông tin, tham vấn, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong các hoạt động BVMT. Việc hình thành các mô hình cộng đồng tham gia BVMT, tham gia việc thu thập, cung cấp thông tin về BVMT cũng như đánh giá kết quả BVMT của doanh nghiệp đã thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của mình trong công tác BVMT. Nhằm đẩy mạnh, phát huy được vai trò quan trọng của cộng đồng dân cư trong công tác BVMT. Luật BVMT 2020 đã bổ sung “cộng đồng dân cư vào phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng nhằm khẳng định vị trí, vai trò của nhóm đối tượng quan trọng này trong công tác BVMT cũng như thực hiện một trong những mục tiêu xuyên suốt của Luật là bảo vệ sức khỏe người dân, đảm bảo người dân được sống trong môi trường trong lành. Đây là điểm mới đầu tiên của Luật BVMT năm 2020 so với Luật BVMT năm 2014, cũng là điểm ghi nhận sự tiến bộ trong khoa học pháp lý của luật này, bởi lẽ trước khi được ghi nhận trong Luật BVMT 2020 “cộng đồng dân cư” trong thực tế tham gia rất nhiều vào các hoạt động môi trường, và các văn bản luật khác cũng điều chỉnh đến cộng đồng dân cư như: Bộ Luật Dân sự, quy định về xử phạt hành chính trên một số lĩnh vực như: đất đai, xây dựng… 2.2.1.2. Bổ sung một số cụm từ trong giải thích từ ngữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT QUỐC TẾ
Sinh viên : Nguyễn Minh Phương
Khóa/Lớp: K65CLC
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ
TÌM HIỂU ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG NĂM 2020
Trang 2Mục lục
1 Mở đầu 3
1.1 Lời nói đầu 3
1.2 Phương pháp luận 3
2 Nội dung 4
2.1 Tổng quan về pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam 4
2.1.1 Hoạt động trong nước 4
2.1.2 Hoạt động Quốc tế 5
2.2 Những điểm mới trong Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và tác động của chúng tới thực tiễn xã hội 7
2.2.1 Trong nước 8
2.2.2 Quốc tế 15
3 Kết luận 18
4 Danh mục tài liệu tham khảo 18
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lời nói đầu
Môi trường và bảo vệ môi trường là chủ đề luôn được quan tâm bởi tất cả các quốc gia trên thế giới Chính vì vậy các vấn đề pháp luật về bảo vệ môi trường luôn là chủ đề thú vị cho những người yêu thích hai lĩnh vực pháp luật và hoạt động bảo vệ môi trường, đây cũng là một chủ đề mang tính thực tiễn cao Chúng ta luôn luôn phải hành động dưới sự quy định của pháp luật, chính vì vậy để có thể có những hoạt động bảo vệ môi trường lợi ích, hiệu quả đòi hỏi mỗi chúng ta cần có sự hiểu biết về pháp luật, về những quy định của pháp luật trong lĩnh vực đó Bên cạnh đó pháp luật không ngừng chuyển mình theo sự phát triển của xã hội, dẫn đến những sự thay đổi, sửa đổi bổ sung của Pháp luật sao cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội từng thời điểm Luật bảo vệ môi trường năm 2020 kế thừa Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã có những bước chuyển mình quan trọng khi có những quy định liên quan trực tiếp đến hoạt động bảo vệ môi trường Chính
vì tính thời sự và cấp thiết này, hôm nay em xin
được lựa chọn việc “Tìm hiểu những điểm mới của Luật bảo vệ môi trường năm 2020” để làm đề tài cho bài tiểu luận kết thúc học phần môn Công pháp Quốc Tế của mình
1.2 Phương pháp luận
Bài tiểu luận được người viết sử dụng phương pháp luận biện chứng, so sánh và phân tích những điểm mới của luật bảo vệ môi trường năm 2020 nhằm đưa đến cái nhìn mới mẻ, tổng quan, cung cấp nhiều nhất có thể những kiến thức liên quan giữa vấn đề môi trường và pháp luật mà người viết nghiên cứu được dựa trên những lời dạy của giảng viên hướng dẫn
và những tài liệu, quan điểm của các học giả đi trước, làm cơ sở để người viết hoàn thành bài tiểu luận này
Trang 42 Nội dung
2.1 Tổng quan về pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam
2.1.1 Hoạt động trong nước
Bảo vệ môi trường tuy không phải là vấn đề mới nhưng bản thân nó luôn luôn mang tính nóng bỏng, thời sự đối với xã hội Luật Bảo vệ môi trường được ban hành vào năm 1993 đánh dấu sự quan tâm chú trọng của nền pháp lý nước nhà đối với vấn đề bảo vệ môi trường bởi trước đó vấn đề này không được xem trọng, được pháp luật quy định thành một loại hình luật Có hay chăng chỉ là những quy định bảo về môi trường xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước Sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường đã tạo cơ sở pháp lý vững vàng cho việc tổ chức thực hiện công tác BVMT Tiếp đến là sự ra đời của Luật BVMT năm
2014 với nhiều những cải biến phù hợp với sự phát triển và thực tiễn xã hội Ngoài văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp việc BVMT như Luật
BVMT, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BVMT, xử phạt vi phạm hành chính về BVMT, Nhà nước ta cũng ban hành văn bản pháp luật chung và chuyên ngành khác quy định nghĩa vụ BVMT đối với các cơ quan, tổ chức và
cá nhân hữu quan như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991), Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989), Pháp lệnh về Thu thuế tài nguyên (1989), Pháp lệnh Bảo
vệ đê điều (1989), Pháp lệnh Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (1989), Luật
Đất đai (năm 1993 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2001), Luật Dầu khí (1993), Luật Khoáng sản (1996), Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ (1996), Luật Tài nguyên nước (1998), Pháp lệnh Thú y (1993), Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (1993)
Nhìn chung, cho đến nay hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta đã phát triển cả nội dung và hình thức, điều chỉnh tương đối đầy đủ các thành tố tạo nên môi trường Hệ thống các tiêu chuẩn của môi trường cũng đã được ban hành làm cơ sở cho việc kiểm soát, đánh giá tác động môi trường Các văn bản pháp luật được ban hành bước đầu đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động
Trang 5quản lý nhà nước về BVMT, nâng cao nhận thức của cơ quan nhà nước, tổ chức, công dân đối với vấn đề môi trường Với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc và Chương trình môi trường Liên hợp quốc, Việt Nam đã rất quan tâm đến việc hội nhập quốc tế trong lĩnh vực BVMT Tính đến nay, nước ta đã tham gia 14 công ước, hiệp định quốc tế về môi trường; đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương với các nước trong và ngoài khu vực về BVMT
Một bước chuyển mình có tác động tới đời sống xã hội cũng như các công tác BVMT là sự ra đời của Luật BVMT năm 2020 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 17 -
11-2020, có hiệu lực ngày 01-01-2022… Luật gồm 14 chương, 171 điều quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động bảo
vệ môi trường
Ở Luật BVMT năm 2020 mang nhiều tính mới, đóng góp tích cực vào nội dung các vấn đề giữa pháp luật với môi trường, đồng thời điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trong các hoạt động để thực hiện đúng với mục tiêu và tên của luật đề ra: Bảo vệ môi trường
2.1.2 Hoạt động Quốc tế
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam dần dần được mở rộng và phát triển với quy mô ngày một to lớn hơn, bao gồm hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân (thương mại, dịch vụ, đầu tư, sản xuất công, nông, ngư nghiệp, sở hữu trí tuệ ) với nhiều hình thức đa dạng và phong phú (đơn phương, song phương, đa phương) Hai nội dung cốt lõi của quá trình hội nhập là: Một mặt, cải cách về kinh tế, đối mới các lĩnh vực của đời sống xã hội; mặt
Trang 6khác, thực hiện tự do hóa, mở cửa thị trường, xây dựng môi trường kinh doanh, tăng cường trao đổi mậu dịch, đầu tư, dịch vụ với nước ngoài
Việt Nam đã lần lượt tham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế, ký kết các hiệp định kinh tế song phương và đa phương với nhiều nước, nhiều tổ chức trên thế giới Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với
189 nước, quan hệ kinh tế với hơn 224 nước và vùng lãnh thổ, trong đó quan hệ với 30 nước là đối tác chiến lược, toàn diện (16 đối tác chiến lược và 14 đối tác toàn diện) và là thành viên của hầu hết các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng với vị thế và vai trò ngày càng được nâng cao
Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách về tăng cường hội nhập quốc tế, đặc biệt là hội nhập quốc tế về kinh tế, nước ta đã đạt được thành tựu to lớn về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, ngoại giao và an ninh - quốc phòng Đặc biệt, những thành tựu từ quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế đã góp phần phát triển kinh tế đất nước ở mức cao và ổn định trong thời gian dài, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước Bên cạnh tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng về kinh
tế, hội nhập và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TN&MT thời gian qua cũng đang được quan tâm thúc đẩy để đáp ứng với yêu cầu thực tế và xu thế hiện nay Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia và là thành viên của 28 hiệp định quốc tế đa phương liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và mỗi trường (TN&MT) (MEAs), trong đó, đặc biệt là những Hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết trong thời gian vừa qua đã tăng cường tỉnh tương tác giữa các chính sách về thương mại và các chính sách liên quan đến môi trường Hội nhập quốc tế nói chung và trong lĩnh vực TN&MT nói riêng đã góp phần nâng cao vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế, đồng thời mang lại những lợi ích về nhiều mặt cho đất nước trong thời gian qua Ngày nay, hội nhập quốc tế nói
Trang 7chung, hội nhập và hợp tác quốc tế về môi trường nói riêng tiếp tục diễn biến theo theo xu thế sâu hơn về nội dung và mức độ và rộng hơn về phạm vi, hình thức Xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế này đã và đang mang lại nhiều lợi ích, cơ hội và tiềm năng cho các quốc gia, nhưng đồng thời tạo ra những thách thức không nhỏ đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam Một số xu hướng chính trong hội nhập và hợp tác quốc tế lĩnh vực môi trường có thể được khái quát như: Phạm vi, quy mô
và mức độ ngày càng lớn, nghĩa vụ và mức độ ràng buộc về pháp lý ngày càng tăng; Đa dạng, phong phú về nội dung và lĩnh vực, tiếp tục hình thành nhiều khuôn khổ hoặc “sân chơi” quốc tế với nhiều “luật chơi” mới
ở nhiều quy mô về địa lý, từ vùng, khu vực và toàn cầu; Yêu cầu và đòi hỏi về trách nhiệm tăng khi tham gia, kèm theo sự đầu tư và đóng góp tài chính tăng; Cơ chế đánh giá, giám sát việc thực thi các nghĩa vụ đã cam kết trong quá trình hội nhập ngày càng chặt chẽ kèm theo chế tài xử lý khi không tuân thủ và thực thi nghĩa vụ đã cam kết
2.2 Những điểm mới trong Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và tác động của
chúng tới thực tiễn xã hội
Luật BVMT 2020 gồm 16 chương, 171 điều được bố cục lại so với Luật BVMT 2014, đưa các quy định về bảo vệ các thành phần môi trường lên đầu, thể hiện rõ mục tiêu xuyên suốt là bảo vệ các thành phần môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân, coi đây là nội dung trọng tâm, quyết định cho các chính sách BVMT khác Bên cạnh đó, Luật đồng bộ các công cụ quản
lý môi trường theo từng giai đoạn của dự án, bắt từ khâu xem xét chủ trương đầu tư, thẩm định dự án, thực hiện dự án cho đến khi dự án đi vào vận hành chính thức và kết thúc dự án Những điểm mới mang tính đột phá của Luật Bảo vệ Môi trường được thể hiện ở những điểm như sau:
Trang 82.2.1 Trong nước
2.2.1.1 Bổ sung thêm phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật bảo vệ môi trường.
Theo đó, phạm vi điều chỉnh của Luật ghi nhận thêm “cộng đồng dân cư” - Lần đầu tiên, cộng đồng dân cư được quy định là một chủ thể trong công tác BVMT; tăng cường công khai thông tin, tham vấn, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong các hoạt động BVMT
Việc hình thành các mô hình cộng đồng tham gia BVMT, tham gia việc thu thập, cung cấp thông tin về BVMT cũng như đánh giá kết quả BVMT của doanh nghiệp đã thể hiện vai trò ngày càng quan trọng của mình trong công tác BVMT Nhằm đẩy mạnh, phát huy được vai trò quan trọng của cộng đồng dân cư trong công tác BVMT Luật BVMT
2020 đã bổ sung “cộng đồng dân cư" vào phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng nhằm khẳng định vị trí, vai trò của nhóm đối tượng quan trọng này trong công tác BVMT cũng như thực hiện một trong những mục tiêu xuyên suốt của Luật là bảo vệ sức khỏe người dân, đảm bảo người dân được sống trong môi trường trong lành
Đây là điểm mới đầu tiên của Luật BVMT năm 2020 so với Luật BVMT năm 2014, cũng là điểm ghi nhận sự tiến bộ trong khoa học pháp lý của luật này, bởi lẽ trước khi được ghi nhận trong Luật BVMT 2020 “cộng đồng dân cư” trong thực tế tham gia rất nhiều vào các hoạt động môi trường, và các văn bản luật khác cũng điều chỉnh đến cộng đồng dân cư như: Bộ Luật Dân sự, quy định về xử phạt hành chính trên một số lĩnh vực như: đất đai, xây dựng…
2.2.1.2 Bổ sung một số cụm từ trong giải thích từ ngữ
Trang 9So với Luật BVMT năm 2014, Luật BVMT năm 2020 có thêm một
số cụm từ trong phần giải thích từ ngữ Cụ thể tại Điều 3 của Luật này, ta thấy có sự xuất hiện của 02 cụm từ mới là “cộng đồng dân cư” và “giả nhẹ phát thải khí nhà kính”
Khoản 28, Điều 3 Luật BVMT 2020 quy định:
Cộng đồng dân cư là cộng đồng người sinh sống trên cùng địa bàn
thôn, ấp, bản, làng, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố hoặc điểm dân
cư tương tự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.1 Khoản 31, Điều 3 Luật BVMT 2020 quy định:
Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là hoạt động nhằm giảm nhẹ mức độ
hoặc cường độ phát thải khí nhà kính, tăng cường hấp thụ khí nhà kính.2
Việc bổ sung các cụm từ trong phần giải thích từ ngữ của Luật BVMT năm 2020 đã làm tăng tính chặt chẽ đối với các quy định sử dụng cụm từ mới, đồng thời là tiền đề để người dân và những người thực hiện pháp luật dễ dàng hiểu đúng ý, tiếp thu quy định pháp luật một cách thấu đáo
2.2.1.3 Ban hành tiêu chí môi trường, phân loại dự án đầu tư theo tiêu chí môi trường, đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
Lần đầu tiên, Luật tiếp cận phương pháp quản lý môi trường xuyên suốt, khoa học đối với dự án đầu tư dựa trên các tiêu chí môi trường; sàng lọc, không khuyến khích các dự án không tuân theo quy luật tự nhiên, chiếm dụng lớn diện tích rừng, đất lúa, tác động đến các di sản thiên nhiên, khu bảo tồn; áp dụng công cụ quản lý môi trường phù hợp theo từng giai đoạn từ việc xây dựng chiến lược, quy hoạch đến thực hiện dự án đầu tư Điều này được quy định tại Mục 2, Chương IV bao
1 Thư viện Pháp Luật
Trang 10gồm Điều 28 và Điều 29 quy định tiêu chí về môi trường để phân loại dự án đầu tư, theo đó dự án đầu tư được phân thành 04 nhóm (nhóm I, II, III và IV) để thực hiện các thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường theo quy định
Đối với việc phân loại này, Luật đã đưa ra các quy định ứng xử phù hợp với từng nhóm nhằm kiểm soát một cách hiệu quả đối với từng loại hình, đáp ứng nguyên tắc dự án càng có nguy cơ gây ô nhiễm càng bị kiểm soát chặt chẽ như sau:
- Đối với dự án đầu tư nhóm I thì Luật có nhiều biện pháp quản lý hơn hơn như (1) đánh giá sơ bộ tác động môi trường (Điều 29) trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, đề xuất chủ
trương đầu tư, đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư; (2) ĐTM (Điều 30) trong quá trình nghiên cứu khả thi; (3) có GPMT, nếu phát sinh nước thải, bụi, khí thải xả ra môi trường phải được xử lý, hoặc phát sinh chất thải nguy hại phải được quản lý trước khi đi vào vận hành (Điều 39)
- Đối với dự án đầu tư nhóm II, thì không phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường; chỉ yêu cầu ĐTM đối với một số loại hình dự án; các dự án còn lại nếu phát sinh nước thải, bụi, khí thải xả ra môi trường phải được xử lý, hoặc phát sinh chất thải nguy hại phải được quản lý thì cấp GPMT ngay trong giai đoạn nghiên cứu khả thi dự án
- Đối với dự án đầu tư nhóm III, thì không phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường; không phải thực hiện ĐTM; có GPMT nếu
phát sinh nước thải, bụi, khí thải, do địa phương cấp
- Đối với dự án đầu tư nhóm IV thì phải đăng ký môi trường
(Điều 49) nếu phát sinh chất thải và UBND cấp xã tiếp nhận đăng ký
Trang 11Luật BVMT năm 2020 đã đưa ra các tiêu chí môi trường để phân loại
dự án đầu tư, từ đó áp dụng những công cụ quản lý về môi trường phù hợp đối với từng loại dự án theo từng giai đoạn triển khai dự án Đây là cách tiếp cận khoa học, thống nhất và đã được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng hiệu quả3
2.2.1.4 Định chế nội dung sức khỏe môi trường; bổ sung nhiều giải pháp bảo vệ các thành phần môi trường, đặc biệt là môi trường không khí, môi trường nước
Luật không đưa ra những quy định riêng về vấn đề sức khỏe môi trường, tuy nhiên vấn đề ấy đã được định chế trong toàn bộ Luật BVMT năm 2020 Thông qua việc bảo vệ các thành phần môi trường, qua đó bảo vệ sức khỏe người dân, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành Cụ thể, Luật bổ sung nội dung quản lý các chất ô nhiễm có tác động trực tiếp đến sức khỏe con người; quy định rõ trách nhiệm của Bộ Y tế, các Bộ, cơ quan ngang
bộ, UBND cấp tỉnh trong theo dõi, kiểm soát, phòng ngừa các chất ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe con người cũng như đánh giá mối quan hệ giữa sức khỏe môi trường với sức khỏe con người, đặc biệt
là mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường với các loại bệnh dịch mới
3 Đánh giá của Tạp chí Môi Trường, Bình luận về một số chính sách mới trong Luật Bảo vệ môi trường năm
2020, 22.12.2020 truy cập ngày 10.01.2022