1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ ĐỀ TÀI 3: NỘI LUẬT HOÁ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

16 6 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội luật hóa điều ước quốc tế trong pháp luật Việt Nam
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 224,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 3 I. Khái quát về nội luật hoá điều ước quốc tế ....................................................... 3 1. Khái niệm .......................................................................................................... 3 2. Đặc điểm của nội luật hoá điều ước quốc tế ..................................................... 5 2.1. Tính thích nghi tuỳ biến ............................................................................. 5 2.2. Tính đa dạng chủ thể ................................................................................. 5 2.3. Tính mâu thuẫn nội tại ............................................................................... 6 2.4. Tính ý chí quốc gia ..................................................................................... 7 2.5. Tính ảnh hưởng quốc tế ............................................................................ 7 3. Hình thức nội luật hoá ....................................................................................... 7 4. Nguyên tắc thực hiện nội luật hoá ..................................................................... 8 II. Việt Nam và các vấn đề về nội luật hoá điều ước quốc tế .............................. 9 1. Bối cảnh của Việt Nam ..................................................................................... 9 2. Nỗ lực và thách thức mà Việt Nam gặp phải khi thực hiện nội luật hoá điều ước quốc tế ................................................................................................................. 10 2.1. Nỗ lực của Việt Nam trong quá trình nội luật hoá ................................... 10 2.2. Thách thức của Việt Nam trong quá trình nội luật hoá ........................... 13 3. Đề xuất định hướng nội luật hoá cho Việt Nam ............................................. 14 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 15 MỞ ĐẦU Trong bối cảnh hội nhập thế giới không chỉ dừng lại ở việc giao thương buôn bán, tham gia các điều ước quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng của một quốc gia vì nó phần nào phản ánh mục tiêu tương lai cũng như tầm nhìn của quốc gia đó. Có thể hiểu đơn giản, điều ước quốc tế là thoả thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia, các chủ thể tham gia đồng ý với sự ràng buộc pháp lý của luật quốc tế. Cũng vì thế nên các quốc gia tham gia điều ước quốc tế sẽ thực hiện các điều ước một cách thân thiện và thiện chí theo nguyên tắc “pacta sunt servanda”. Vậy việc nội luật hoá điều ước để làm gì? Có cần thiết đối với các quốc gia không? Và được tiến hành như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi trên, bài luận dưới đây sẽ chỉ ra 02 phần quan trọng nhất của việc nội luật hoá điều ước quốc tế đó là phần khái quát những cái chung nhất về quá trình này bao gồm: khái niệm, đặc điểm, hình thức và nguyên tắc của nội luật hoá. Để từ đó liên hệ với Việt Nam, chỉ ra những điểm mạnh và yếu cũng như đóng góp những đề xuất để hoàn thiện quá trình nội luật hoá. I.Khái quát về nội luật hoá điều ước quốc tế 1.Khái niệm Nội luật hoá điều ước quốc tế thường được biết đến là quá trình chuyển hoá các quy định của điều ước thành quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc thực hiện trong nước, cùng với đó là việc thi hành các điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm pháp luật của điều ước. Chuyển hoá điều ước quốc tế là hành vi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước để công nhận điều ước mà quốc gia đó tham gia được chấp nhận áp dụng trên đất nước mình. Tuy nhiên theo nhiều đánh giá, khái niệm nội luật hoá phổ biến nhất hiện nay ngoài việc mang tính ước lệ cao còn thường bị đánh đồng với khái niệm chuyển hoá 20062012 – TRAN VIET HA 3 điều ước quốc tế. Theo một nguồn tổng hợp trên website lsvn.vn, hiện nay có ít nhất 03 cách hiểu về mối quan hệ giữa hai khái niệm này như sau: Nội luật hoá là một dạng của chuyển hoá điều ước quốc tế: khái niệm chuyển hoá điều ước quốc tế bao hàm khái niệm nội luật hoá. Nội luật hoá chỉ là quá trình chuyển quy phạm luật quốc tế trong các điều ước thành quy phạm luật quốc gia trong các văn bản quy phạm pháp luật. Chuyển hoá điều ước quốc tế là một dạng của nội luật hoá. Đối với quan điểm này, khái niệm nội luật hoá lại lớn hơn và bao trùm lên khái niệm chuyển hoá. Quá trình chuyển hoá tạo ra những quy phạm mới của luật quốc gia chứa đựng nội dung của quy phạm điều ước lẫn sự công nhận giá trị áp dụng của điều ước quốc tế đó thông qua một văn bản “cấp hiệu lực”. Chuyển hoá điều ước quốc tế và nội luật hoá có mối quan hệ độc lập với nhau. Theo đó, để nội luật hoá điều ước quốc tế, các quốc gia sẽ xây dựng quy phạm pháp luật của mình sao cho phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế. Còn việc chuyển hoá điều ước quốc tế là tạo ra khả năng áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế trong môi trường luật quốc gia. Đối chiếu với khoản 2, điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016: “Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó” và khoản 5, điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015: “Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” có thể thấy Việt Nam đang thực hiện việc nội luật hoá theo quan điểm thứ ba. 20062012 – TRAN VIET HA 4 Tuy nhiên cũng cần phải hiểu rằng nội luật hoá cũng mang đặc điểm của chuyển hoá, đó là chuyển hoá về tư cách và chuyển hoá thực chất. Với chuyển hoá về tư cách, nếu như giá trị đó không mặc nhiên phát sinh thì bản thân quy phạm điều ước sẽ được tạo ra giá trị trong môi trường luật quốc gia. Còn chuyển hoá thực chất là tạo ra quy phạm nội luật để đưa nội dung của quy phạm điều ước vào đời sống pháp luật quốc gia. 2. Đặc điểm của nội luật hoá điều ước quốc tế 2.1. Tính thích nghi tuỳ biến Nội luật hoá điều ước quốc tế có tính thích nghi tuỳ biến nhưng không tuần tự hay đều đặn mà chỉ xuất hiện khi có yêu cầu, bởi vì nội luật hoá phải chịu nhiều sự biến động khó lường về không gian và thời gian và chịu sự chi phối của rất nhiều các yếu tố khác như kinh tế chính trị, lịch sử, địa lý, … Các quốc gia khác nhau sẽ có những quan niệm và cách tiến hành nội luật hoá khác nhau, dù có thể các quốc gia đó thuộc cùng một “dòng họ pháp luật”. Bên cạnh đó, các thời kỳ khác nhau của một quốc gia cũng có cách nhìn nhận và giải quyết khác nhau hoặc chỗ đứng của quốc gia đó trên trường quốc tế thay đổi khiến cho nội dung của nội luật hoá cũng như sự cần thiết không thể tồn tại mãi mãi. 2.2. Tính đa dạng chủ thể Xét theo phương diện quốc tế, chủ thể của nội luật hoá quốc tế bao gồm các quốc gia thành viên tham gia điều ước đó. Vì vậy việc chuyển hoá điều ước quốc tế dưới bất kỳ hình thức nào cũng đồng nghĩa với việc quốc gia đó đang chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước đó. Với một số điều ước song phương, quốc gia kết ước còn phải tiến hành nội luật hoá điều ước đó theo một hình thức nhất định do phía còn lại yêu cầu. Xét theo phương diện quốc gia, tuỳ vào những quy định của nước đó về việc ký kết, thực hiện hoặc nội luật hoá các điều ước quốc tế mà chủ thể của nội luật hoá các nước không giống nhau, chủ thể có thể là các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm 20062012 – TRAN VIET HA 5 quyền được quy định theo pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, pháp luật của nhiều nước lại không xây dựng nội luật hoá thành một quy trình khép kín và độc lập nên việc xác định chủ thể theo luật không được rõ ràng, phải chăng là các cơ quan lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp được giao thêm nhiệm vụ nội luật hoá trong phạm vi chức năng chứ không phải là một cơ quan chuyên trách. 2.3. Tính mâu thuẫn nội tại Bản chất của việc nội luật hoá chính là làm cho luật quốc tế tương thích với luật quốc gia, cũng như khiến luật quốc gia tương thích với luật quốc tế. Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc chuyển hoá điều ước quốc tế vô điều kiện, mà các quốc gia từ đó phải cân đối lợi ích của mình với các bên còn lại. Nếu như các quốc gia nóng vội trong quá trình nội luật hoá điều ước quốc tế có thể dẫn đến nhiều bất lợi, điển hình là việc không thích ứng được những quy định mới do các quy định này xa lạ với truyền thống pháp luật của quốc gia. Điều này khiến các cá nhân, tổ chức không biết cách thực hiện hoặc tìm cách không thực hiện làm mục đích của việc nội luật hoá trở thành vô nghĩa. Ngoài ra, quá trình nội luật hoá có thể phát sinh ra những xung đột với luật quốc gia. Chẳng hạn như một quy phạm điều ước được thừa nhận để áp dụng trực tiếp vào thời điểm phê chuẩn, sau đó được chuyển hoá lại vào quy phạm pháp luật trong nước trong thời điểm quốc gia ban hành văn bản mới về lĩnh vực đó. Với sự trùng lặp nội dung như vậy thì sẽ phải giải quyết theo nguyên tắc ưu tiên của luật quốc tế đối với quy phạm gốc trong điều ước hay theo nguyên tắc “luật ban hành sau” đối với quy phạm luật quốc gia. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra nếu không tính toán cẩn thận và không được thể hiện nhất quán trong luật. Vậy nên, chính bản chất này đã khiến một trong những mục tiêu của nội luật hoá là triệt tiêu những xung đột nào đó trong việc lựa chọn áp dụng luật quốc tế hay luật quốc gia lại vô hình chung tạo ra chính những mâu thuẫn trong quá trình đó. 20062012 – TRAN VIET HA 6 2.4. Tính ý chí quốc gia Có thể nói, tính ý chí quốc gia là đặc điểm quan trọng nhất của quá trình nội luật hoá điều ước quốc tế thể hiện ở: Các quốc gia thể hiện ý chí của mình trong việc đặt ra vấn đề nội luật hoá hay không hoặc đặt ra quy định thủ tục để tiến hành nội luật hoá. Dù đây không phải nghĩa vụ bắt buộc từ phía quốc tế, tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể tự đặt nghĩa vụ cho mình thông qua luật quốc gia. Và khi thủ tục nội luật hoá đã được quy định trong luật quốc gia thì các cá nhân, tổ chức liên quan phải bắt buộc thực hiện theo. Việc mỗi quốc gia xác định điều kiện để một điều ước quốc tế được nội luật hoá thông qua lĩnh vực điều chỉnh, mức độ rõ ràng, tính chất của toàn bộ hoặc một phần nội dung của điều ước. Việc giám sát thi hành các quy phạm sau nội luật hoá và xử lý vi phạm. Để thực hiện một điều ước quốc tế được đưa vào pháp luật quốc gia, phải đảm bảo có các chế tài bảo vệ quyền và nghĩa vụ cần thiết. Có thể coi đây là sự tự giác của mỗi quốc gia khi thực hiện thao tác nội luật hoá. Các quốc gia điều chỉnh luật quốc tế sao cho phù hợp và truyền tải đúng toàn bộ hoặc đa số nội dung nhằm tương thích với các quy phạm pháp luật trong nước. 2.5. Tính ảnh hưởng quốc tế Quá trình nội luật hoá điều ước quốc tế góp phần ảnh hưởng đến vị thế của các quốc gia trên trường quốc tế bởi vì đây là một quá trình đòi hỏi sự tích cực và nghiêm chỉnh. Nếu quá trình bị thực hiện một cách khiên cưỡng và cẩu thả hoặc truyền tải sai lệch nội dung có thể khiến quốc gia vô ý hoặc cố ý vi phạm luật quốc tế. 3. Hình thức nội luật hoá Chủ thể quyết định đến hình thức áp dụng của điều ước quốc tế lên lãnh thổ là Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ. Từng loại điều ước quốc tế khác nhau sẽ 20062012 – TRAN VIET HA 7 có nhiều hình thức nội luật hoá khác nhau tuỳ theo từng quốc gia thành viên áp dụng. Chủ yếu có 03 hình thức sau đây: Ban hành văn kiện nhà nước: đây là hình thức quy định các quy định trong điều ước quốc tế có hiệu lực áp dụng ở các quốc gia thành viên và là hình thức đơn giản nhất. Bởi vì đối với hình thức này, quốc gia không cần ban hành nhiều quy phạm pháp luật mà chỉ cần chỉ định thể nhân, pháp nhân có nghĩa vụ thực hiện quy định trong từng điều ước quốc tế. Tuy nhiên do đó mà hình thức này cũng có nhược điểm là quá khái quát và không đủ tính cụ thể đối với các hành vi của chủ thể điều chỉnh khi có các hoạt động liên quan. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung quy định trong các văn bản pháp luật để cụ thể hoá các quy định trong điều ước quốc tế. Đây là hình thức khiến hệ thống pháp luật quốc gia phát sinh thêm các văn bản quy phạm pháp luật mới làm thay đổi nội dung điều chỉnh của một số quy định trong văn bản hiện hành. Tại Việt Nam, hình thức này được thể hiện tại khoản 2, điều 6, Luật Điều ước quốc tế 2016 như sau: Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó. Bên cạnh việc ban hành thêm văn bản quy phạm pháp luật, việc bãi bỏ văn bản pháp luật hoặc một số quy định trong văn bản pháp luật quốc gia nhằm phù hợp với yêu cầu của điều ước quốc tế cũng là một hình thức của nội luật hoá. Đây là hình thức khắc phục xung đột giữa nội dung điều chỉnh của pháp luật quốc gia theo với yêu cầu của pháp luật quốc tế. 4. Nguyên tắc thực hiện nội luật hoá

Trang 1

KHOA LUẬT – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

BỘ MÔN LUẬT QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG PHÁP QUỐC TẾ

ĐỀ TÀI 3: NỘI LUẬT HOÁ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

I Khái quát về nội luật hoá điều ước quốc tế 3

1 Khái niệm 3

2 Đặc điểm của nội luật hoá điều ước quốc tế 5

2.1 Tính thích nghi tu ỳ bi ế n 5

2.2 th ể .Tính đ a d ạ ng ch ủ 5

2.3 t ạ i Tính mâu thu ẫ n n ộ i 6

2.4 Tính ý chí qu ố c gia 7

2.5 Tính ả nh h ưở ng qu ố c t ế 7

3 Hình thức nội luật hoá 7

4 Nguyên tắc thực hiện nội luật hoá 8

II Việt Nam và các vấn đề về nội luật hoá điều ước quốc tế 9

1 Bối cảnh của Việt Nam 9

2 Nỗ lực và thách thức mà Việt Nam gặp phải khi thực hiện nội luật hoá điều ước quốc tế 10

2.1 Nỗ lực của Việt Nam trong quá trình nội luật hoá 10

2.2 Thách th ứ c c ủ a Vi ệ t Nam trong quá trình nhoá 13 ộ i lu ậ t 3 Đề xuất định hướng nội luật hoá cho Việt Nam 14

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hội nhập thế giới không chỉ dừng lại ở việc giao thương buôn bán, tham gia các điều ước quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng của một quốc gia vì nó phần nào phản ánh mục tiêu tương lai cũng như tầm nhìn của quốc gia đó Có thể hiểu đơn giản, điều ước quốc tế là thoả thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia, các chủ thể tham gia đồng ý với sự ràng buộc pháp lý của luật quốc tế Cũng vì thế nên các quốc gia tham gia điều ước quốc tế sẽ thực hiện các điều ước một cách thân thiện và thiện chí theo nguyên tắc “pacta sunt servanda” Vậy việc nội luật hoá điều ước để làm gì? Có cần thiết đối với các quốc gia không? Và được tiến hành như thế nào?

Để trả lời cho câu hỏi trên, bài luận dưới đây sẽ chỉ ra 02 phần quan trọng nhất của việc nội luật hoá điều ước quốc tế đó là phần khái quát những cái chung nhất về quá trình này bao gồm: khái niệm, đặc điểm, hình thức và nguyên tắc của nội luật hoá Để từ đó liên hệ với Việt Nam, chỉ ra những điểm mạnh và yếu cũng như đóng góp những đề xuất để hoàn thiện quá trình nội luật hoá

I Khái quát về nội luật hoá điều ước quốc tế

1 Khái niệm

Nội luật hoá điều ước quốc tế thường được biết đến là quá trình chuyển hoá các quy định của điều ước thành quy phạm pháp luật có giá trị bắt buộc thực hiện trong nước, cùng với đó là việc thi hành các điều ước quốc tế trên cơ sở các quy phạm pháp luật trong nước vốn là quy phạm pháp luật của điều ước

Chuyển hoá điều ước quốc tế là hành vi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn tất thủ tục pháp lý trong nước để công nhận điều ước mà quốc gia đó tham gia được chấp nhận áp dụng trên đất nước mình

Tuy nhiên theo nhiều đánh giá, khái niệm nội luật hoá phổ biến nhất hiện nay ngoài việc mang tính ước lệ cao còn thường bị đánh đồng với khái niệm chuyển hoá

Trang 4

điều ước quốc tế Theo một nguồn tổng hợp trên website lsvn.vn, hiện nay có ít nhất 03 cách hiểu về mối quan hệ giữa hai khái niệm này như sau:

- Nội luật hoá là một dạng của chuyển hoá điều ước quốc tế: khái niệm chuyển hoá điều ước quốc tế bao hàm khái niệm nội luật hoá Nội luật hoá chỉ là quá trình chuyển quy phạm luật quốc tế trong các điều ước thành quy phạm luật quốc gia trong các văn bản quy phạm pháp luật

- Chuyển hoá điều ước quốc tế là một dạng của nội luật hoá Đối với quan điểm này, khái niệm nội luật hoá lại lớn hơn và bao trùm lên khái niệm chuyển hoá Quá trình chuyển hoá tạo ra những quy phạm mới của luật quốc gia chứa đựng nội dung của quy phạm điều ước lẫn sự công nhận giá trị áp dụng của điều ước quốc tế đó thông qua một văn bản “cấp hiệu lực”

- Chuyển hoá điều ước quốc tế và nội luật hoá có mối quan hệ độc lập với nhau Theo đó, để nội luật hoá điều ước quốc tế, các quốc gia sẽ xây dựng quy phạm pháp luật của mình sao cho phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế Còn việc chuyển hoá điều ước quốc tế là tạo ra khả năng áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế trong môi trường luật quốc gia

Đối chiếu với khoản 2, điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016: “Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định

áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết

để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó” và khoản 5, điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015: “Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” có thể thấy Việt Nam đang thực hiện việc nội luật hoá theo quan điểm thứ ba

Trang 5

Tuy nhiên cũng cần phải hiểu rằng nội luật hoá cũng mang đặc điểm của chuyển hoá, đó là chuyển hoá về tư cách và chuyển hoá thực chất Với chuyển hoá

về tư cách, nếu như giá trị đó không mặc nhiên phát sinh thì bản thân quy phạm điều ước sẽ được tạo ra giá trị trong môi trường luật quốc gia Còn chuyển hoá thực chất là tạo ra quy phạm nội luật để đưa nội dung của quy phạm điều ước vào đời sống pháp luật quốc gia

2 Đặc điểm của nội luật hoá điều ước quốc tế

2.1 Tính thích nghi tuỳ biến

Nội luật hoá điều ước quốc tế có tính thích nghi tuỳ biến nhưng không tuần

tự hay đều đặn mà chỉ xuất hiện khi có yêu cầu, bởi vì nội luật hoá phải chịu nhiều

sự biến động khó lường về không gian và thời gian và chịu sự chi phối của rất nhiều các yếu tố khác như kinh tế - chính trị, lịch sử, địa lý, …

Các quốc gia khác nhau sẽ có những quan niệm và cách tiến hành nội luật hoá khác nhau, dù có thể các quốc gia đó thuộc cùng một “dòng họ pháp luật” Bên cạnh

đó, các thời kỳ khác nhau của một quốc gia cũng có cách nhìn nhận và giải quyết khác nhau hoặc chỗ đứng của quốc gia đó trên trường quốc tế thay đổi khiến cho nội dung của nội luật hoá cũng như sự cần thiết không thể tồn tại mãi mãi

2.2 Tính đa dạng chủ thể

Xét theo phương diện quốc tế, chủ thể của nội luật hoá quốc tế bao gồm các quốc gia thành viên tham gia điều ước đó Vì vậy việc chuyển hoá điều ước quốc

tế dưới bất kỳ hình thức nào cũng đồng nghĩa với việc quốc gia đó đang chấp nhận hiệu lực pháp lý của điều ước đó Với một số điều ước song phương, quốc gia kết ước còn phải tiến hành nội luật hoá điều ước đó theo một hình thức nhất định do phía còn lại yêu cầu

Xét theo phương diện quốc gia, tuỳ vào những quy định của nước đó về việc

ký kết, thực hiện hoặc nội luật hoá các điều ước quốc tế mà chủ thể của nội luật hoá các nước không giống nhau, chủ thể có thể là các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm

Trang 6

quyền được quy định theo pháp luật quốc gia Tuy nhiên, pháp luật của nhiều nước lại không xây dựng nội luật hoá thành một quy trình khép kín và độc lập nên việc xác định chủ thể theo luật không được rõ ràng, phải chăng là các cơ quan lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp được giao thêm nhiệm vụ nội luật hoá trong phạm vi chức năng chứ không phải là một cơ quan chuyên trách

2.3 Tính mâu thuẫn nội tại

Bản chất của việc nội luật hoá chính là làm cho luật quốc tế tương thích với luật quốc gia, cũng như khiến luật quốc gia tương thích với luật quốc tế Tuy nhiên điều này không đồng nghĩa với việc chuyển hoá điều ước quốc tế vô điều kiện, mà các quốc gia từ đó phải cân đối lợi ích của mình với các bên còn lại Nếu như các quốc gia nóng vội trong quá trình nội luật hoá điều ước quốc tế có thể dẫn đến nhiều bất lợi, điển hình là việc không thích ứng được những quy định mới do các quy định này xa lạ với truyền thống pháp luật của quốc gia Điều này khiến các cá nhân, tổ chức không biết cách thực hiện hoặc tìm cách không thực hiện làm mục đích của việc nội luật hoá trở thành vô nghĩa

Ngoài ra, quá trình nội luật hoá có thể phát sinh ra những xung đột với luật quốc gia Chẳng hạn như một quy phạm điều ước được thừa nhận để áp dụng trực tiếp vào thời điểm phê chuẩn, sau đó được chuyển hoá lại vào quy phạm pháp luật trong nước trong thời điểm quốc gia ban hành văn bản mới về lĩnh vực đó Với sự trùng lặp nội dung như vậy thì sẽ phải giải quyết theo nguyên tắc ưu tiên của luật quốc tế đối với quy phạm gốc trong điều ước hay theo nguyên tắc “luật ban hành sau” đối với quy phạm luật quốc gia Điều này hoàn toàn có thể xảy ra nếu không tính toán cẩn thận và không được thể hiện nhất quán trong luật Vậy nên, chính bản chất này đã khiến một trong những mục tiêu của nội luật hoá là triệt tiêu những xung đột nào đó trong việc lựa chọn áp dụng luật quốc tế hay luật quốc gia lại vô hình chung tạo ra chính những mâu thuẫn trong quá trình đó

Trang 7

2.4 Tính ý chí quốc gia

Có thể nói, tính ý chí quốc gia là đặc điểm quan trọng nhất của quá trình nội luật hoá điều ước quốc tế thể hiện ở:

- Các quốc gia thể hiện ý chí của mình trong việc đặt ra vấn đề nội luật hoá hay không hoặc đặt ra quy định thủ tục để tiến hành nội luật hoá Dù đây không phải nghĩa vụ bắt buộc từ phía quốc tế, tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể tự đặt nghĩa vụ cho mình thông qua luật quốc gia Và khi thủ tục nội luật hoá đã được quy định trong luật quốc gia thì các cá nhân, tổ chức liên quan phải bắt buộc thực hiện theo

- Việc mỗi quốc gia xác định điều kiện để một điều ước quốc tế được nội luật hoá thông qua lĩnh vực điều chỉnh, mức độ rõ ràng, tính chất của toàn bộ hoặc một phần nội dung của điều ước

- Việc giám sát thi hành các quy phạm sau nội luật hoá và xử lý vi phạm Để thực hiện một điều ước quốc tế được đưa vào pháp luật quốc gia, phải đảm bảo có các chế tài bảo vệ quyền và nghĩa vụ cần thiết Có thể coi đây là sự tự giác của mỗi quốc gia khi thực hiện thao tác nội luật hoá

- Các quốc gia điều chỉnh luật quốc tế sao cho phù hợp và truyền tải đúng toàn

bộ hoặc đa số nội dung nhằm tương thích với các quy phạm pháp luật trong nước

2.5 Tính ảnh hưởng quốc tế

Quá trình nội luật hoá điều ước quốc tế góp phần ảnh hưởng đến vị thế của các quốc gia trên trường quốc tế bởi vì đây là một quá trình đòi hỏi sự tích cực và nghiêm chỉnh Nếu quá trình bị thực hiện một cách khiên cưỡng và cẩu thả hoặc truyền tải sai lệch nội dung có thể khiến quốc gia vô ý hoặc cố ý vi phạm luật quốc tế

3 Hình thức nội luật hoá

Chủ thể quyết định đến hình thức áp dụng của điều ước quốc tế lên lãnh thổ

là Quốc hội, Chủ tịch nước và Chính phủ Từng loại điều ước quốc tế khác nhau sẽ

Trang 8

có nhiều hình thức nội luật hoá khác nhau tuỳ theo từng quốc gia thành viên áp dụng Chủ yếu có 03 hình thức sau đây:

- Ban hành văn kiện nhà nước: đây là hình thức quy định các quy định trong điều ước quốc tế có hiệu lực áp dụng ở các quốc gia thành viên và là hình thức đơn giản nhất Bởi vì đối với hình thức này, quốc gia không cần ban hành nhiều quy phạm pháp luật mà chỉ cần chỉ định thể nhân, pháp nhân có nghĩa vụ thực hiện quy định trong từng điều ước quốc tế Tuy nhiên do đó mà hình thức này cũng có nhược điểm là quá khái quát và không đủ tính cụ thể đối với các hành vi của chủ thể điều chỉnh khi có các hoạt động liên quan

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hoặc sửa đổi, bổ sung quy định trong các văn bản pháp luật để cụ thể hoá các quy định trong điều ước quốc tế Đây là hình thức khiến hệ thống pháp luật quốc gia phát sinh thêm các văn bản quy phạm pháp luật mới làm thay đổi nội dung điều chỉnh của một số quy định trong văn bản hiện hành Tại Việt Nam, hình thức này được thể hiện tại khoản 2, điều 6, Luật Điều ước quốc tế 2016 như sau: Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, đủ chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó

- Bên cạnh việc ban hành thêm văn bản quy phạm pháp luật, việc bãi bỏ văn bản pháp luật hoặc một số quy định trong văn bản pháp luật quốc gia nhằm phù hợp với yêu cầu của điều ước quốc tế cũng là một hình thức của nội luật hoá Đây

là hình thức khắc phục xung đột giữa nội dung điều chỉnh của pháp luật quốc gia theo với yêu cầu của pháp luật quốc tế

Trang 9

Để quá trình nội luật hoá điều ước quốc tế đạt được hiệu quả tốt nhất khi áp dụng, Việt Nam luôn tuân theo những nguyên tắc đã được quy định tại Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 sau:

- Nguyên tắc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật;

- Nguyên tắc tuân thủ thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

- Nguyên tắc bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; đảm bảo tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật;

- Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật;

- Nguyên tắc không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam

là thành viên

II Việt Nam và các vấn đề về nội luật hoá điều ước quốc tế

1 Bối cảnh của Việt Nam

Là một đất nước bước ra từ thời kỳ chiến tranh, ngay từ khi giành được độc lập, Việt Nam đã chủ trương tham gia những điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người của Liên hợp quốc đầu tiên Đó là Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc được ký kết năm 1982, cùng năm đó là hàng loạt các công ước về quyền con người được ký kết như: công ước quốc tế về quyền dân sự

và chính trị, công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ Có thể dễ dàng nhận ra rằng, đây là những công ước điển hình đấu tranh vì quyền con người Dù năm 1982 Việt Nam vẫn còn là một nước bao cấp lạc hậu, tuy nhiên tư tưởng của các nhà cầm quyền bấy giờ đã cho thấy một cách nhìn xa trông rộng về những quyền và lợi ích cơ bản, bình đẳng công dân trong quốc gia đều được hưởng

Trang 10

Bên cạnh việc tham gia các công ước về quyền con người, sau khi cải cách năm 1986, Việt Nam cũng nhanh chóng gia nhập những điều ước quốc tế về kinh tế

- thương mại nhằm vực dậy nền kinh tế phải kể đến như tham gia hiệp định AFTA năm 1995, kí kết hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000 và thực hiện năm 2001, trở thành thành viên thứ 150 của WTO năm 2007, … và mới đây nhất phải kể đến Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP – CCTPP) được ký kết vào năm 2018

Dựa theo báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh kí kết và thực hiện điều ước quốc tế từ 1998 đến 2005 đã chỉ ra rằng con số điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết đã đạt đến 700 chỉ trong vòng 7 năm, đó còn chưa tính các điều ước quốc tế được kí kết dưới danh nghĩa các bộ ngành Và nhiều nhất trong

đó là các điều ước liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, Việt Nam cũng không quên nhiệm vụ bảo vệ và giữ gìn hoà bình, lãnh thổ với việc tham gia các công ước quốc tế như UNCLOS … Với chủ trương tham gia điều ước quốc tế trên nhiều lĩnh vực, Việt Nam đã thể hiện được quyết tâm tạo dựng một nền tảng pháp lý tiên tiến, bắt kịp với thời đại và tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng nhằm củng cố chỗ đứng của Việt Nam trên trường quốc tế

2 Nỗ lực và thách thức mà Việt Nam gặp phải khi thực hiện nội luật hoá điều ước quốc tế

2.1 Nỗ lực của Việt Nam trong quá trình nội luật hoá

Với việc tham gia các điều ước quốc tế điều chỉnh nhiều vấn đề quan trọng của đất nước, không thể phủ nhận nỗ lực nội luật hoá của Việt Nam trong các lĩnh vực như hình sự, quyền con người, thương mại – ngoại thương, …

a Nội luật hoá trong lĩnh vực hình sự

Đây là một nội dung quan trọng của ngành luật tố tụng hình sự Công ước chống

Ngày đăng: 25/03/2023, 18:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w