BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP ĐỀ BÀI “ Phân tích các phương pháp tác động đến tâm lý của bị can trong hoạt động hỏi cung Lấy ví dụ HỌ TÊN LÊ NHƯ THỦY[.]
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN:
TÂM LÝ HỌC TƯ PHÁP
ĐỀ BÀI:
“ Phân tích các phương pháp tác động đến tâm lý của bị can trong hoạt động hỏi cung Lấy ví dụ.
HỌ TÊN : LÊ NHƯ THỦY
MSSV : VB1CT4043
LỚP : VB1K4
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra đặc biệt quan trọng trong công tác điều tra vụ án hình sự Thu được lời khai trung thực, đầy đủ, chính xác của bị can sẽ giúp cho hoạt động điều tra chứng minh sự thật của vụ án được nhanh chóng, thuận lợi Tuy nhiên trên thực tế, không dễ để một bị can chịu khai và khai trung thực về hành vi phạm tội của mình Khi đó, việc áp dụng các phương pháp tác động tâm lý nhằm tiếp cận sự thật khách quan về
vụ án là cần thiết Để có cái nhìn rõ ràng hơn vẽ những phương pháp tác động tâm lý trên, trong phạm vi bài tập cuối kì em xin chọn đề tài: “Phân tích các phương pháp tác động tâm lý đến bị can trong hoạt động hỏi cung thông qua những vụ án cụ thể”
Dưới đây là bài làm của em, do kiến thức còn hạn chế nên bài làm vẫn còn nhiều thiếu sót Em mong quý thầy cô góp ý để bài làm được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn !
PHẦN NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỎI CUNG BỊ CAN
1 Khái niệm hỏi cung bị can
Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra được tiến hành nhằm thu thập lời khai của BC và các tình tiết có liên quan đến vụ án nhằm phục vụ công tác điều tra Chủ thể tiến hành hỏi cung BC là điều tra viên, việc hỏi cung BC được quy định cụ thể tại Điều 183 BLTTHS 2015
Về mặt tâm lý, hỏi cung BC là việc sử dụng các phương pháp tác động tâm lý đến tư duy, tình cảm, ý chí của BC trong khuôn khổ pháp luật thông qua giao tiếp bằng ngôn ngữ và các phương tiện viêu cảm khác nhau như ánh mắt, cử chỉ nhằm thu thập chứng cứ góp phần giải quyết vụ án hình sự
Trang 32 Đặc điểm tâm lý của hoạt động hỏi cung bị can
Hỏi cung BC là hoạt động giao tiếp tâm lý hai chiều giữa điều tra viên
và BC Cơ sở của quá trình giao tiếp trong hỏi cung BC là sự trao đổi những thông tin có liên quan đến vụ án đang tiến hành điều tra mà cả hai bên cùng quan tâm Trong đó, phía BC luôn đóng vai trò bị động, điều tra viên năm vai trò chủ động thông qua tác động, kích thích tâm lý đối với BC
3 Nguyên tắc và nhiệm vụ của tác động tâm lý trong hoạt động hỏi cung
bị can
Việc hỏi cung BC hướng đến mục đích chính là thu thập đầy đủ, chính xác, khách quan lời khai của BC về toàn bộ sự thật của vụ án, hành vi phạm tội cũng như các tin tức, tài liệu khác mà BC biết có ý nghĩa đối với công tác điều tra Để đạt được mục đích này, quá trình hỏi cung BC cần giải quyết những nhiệm vụ sau:
Kích thích mong muốn cung cấp thông tin của BC, từ đó củng cố chứng cử để xác định được sự thật khách quan của vụ án, hành vi phạm tội của BC và đồng phạm
Xác định, khai thác tư duy BC nhằm làm rõ quá trình hoạt động phạm tội, thu thập những tài liệu để mở rộng hoạt động điều tra
Giúp BC nhớ lại các sự kiện, làm rõ những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm, duy trì trạng thái tâm lý tích cực, ngăn chặn các động cơ tiêu cực
Quá trình hỏi cung bị can phải tuần thủ các nguyên tác sau: (i) Phải tuân thủ chặt chế các quy định của pháp luật (ii) chú ý tới đặc điểm tâm lý của bị can; (iii) đảm báo tỉnh tích cực tâm lý ở bị can; (iv) nội dung và phương pháp tác động tâm lý phải phù hợp với từng bị can: (V) chủ ý tới điều kiện hoàn cảnh tiến hành tác động tâm lý; (vi) điều tra viên phải là
Trang 4người có phẩm chất tư tưởng chính trị vững vàng, năm vùng chuyên môn nghiệp vụ
II CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁC ĐỘNG TÂM LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG HỎI CUNG BỊ CAN VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN
a) Phương pháp truyền đạt thông tin
Phương pháp truyền đạt thông tin là phương pháp mà người sử
dụng nó cung cấp cho người tiếp nhận thông tin những thông tin cần thiết, làm cho người đó nhận thức được sự việc, đồng thời hình thành ở họ tâm lý tích cực phù hợp với mục đích của hoạt động giải quyết vụ án hình sự và cải tạo người phạm tội
Các trường hợp cần áp dụng phương pháp này:
– Làm tăng hiểu biết, kiến thức cho ngườii tếp nhận thông tin để họ hình thành hoặc thay đổi tâm lý theo hướng hợp tác với cơ quan tư pháp hoặc tự giác cải tạo
– Khi bị can, bị cáo hoặc những người tham gia tố tụng khác vì các lí do nhất định mà có thái độ quanh co, mai khai, giấu giếm sự thật và có ý thăm
dò cán bộ điều tra, xét hỏi: v/d: truyền đạt thông tin cho bị can rằng: anh
không cần phải giấu nữa, vì tôi đã thu thập được lời khai từ bạn bè, đồng chí của anh rồi…
– Cần thay đổi hướng tư duy của người bị tác động: đang nói về nội dung này, chuyến sang nội dung khác nữa làm thế nào để họ cung cấp cho ta thông tin có thật Thay đổi bằng cách truyền thông tin (v/d: đang nói về gia đình, thì chuyển sang chuyện công việc…)
– Nhằm khôi phục trí nhớ của người tiếp nhận thông tin (thường là bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng) hoặc có sự nhầm lẫn về các tình tiết cần phân biệt
Trang 5– Nhằm theo dõi người bị tình nghi: v/d: cung cấp một vài thông tin trên báo chí có ý đồ, để xem đối tượng bị tình nghi có thay đổi gì về hành vi hay không v/d: sáng mai, đối tượng tình nghi có còn đi làm không, hay lại đặt
vé máy bay đi nơi khác…
Chủ thể truyền đạt thông tin: là những người tiến hành tố tụng, cán bộ
quản giáo, người bào chữa…
Nội dung thông tin cần truyền đạt
– Tình tiết, chứng cứ liên quan đến vụ án: cân nhắc nên cung cấp gì, ko cung cấp gì
– Thông tin về pháp luật, chính sách
– Quyền và nghĩa vụ pháp ý của đối tượng chịu tác động
Yêu cầu thông tin
– Rõ ràng, cụ thể
– Tính mới: chưa biết thì hiệu quả tác động mới lớn
– Tính chân thực: ko sử dụng thông tin giả để hù dọa đối tượng, ko gây hoang mang, dao động tâm lý
– Tốc độ đưa ra thông tin phải phù hợp với trình độ nhận thức, sức khỏe để theo dõi
Phương tiện truyền đạt: ngôn ngữ, phi ngôn ngữ…
Ví dụ:
b) Phương pháp thuyết phục
Phương pháp thuyết phục là phương pháp sử dụng lý lẽ, kiến thức,
tình cảm để thuyết phục người chịu tác động để thay đổi nhận thức, thái độ, xúc cảm sao cho đúng đắn hơn, tích cực hơn, phù hợp với mục đích của hoạt động giải quyết vụ án hình sự và cải tạo người phạm tội. T
Thuyết phục logic
Trang 6 Thuyết phục tình cảm
Nội dung thông tin thuyết phục
– Pháp luật, chính sách của Đảng, nhà nước liên quan đến vấn đề cần thuyết phục
– Thông tin, chứng cứ về vụ án
– Tỉnh cảm, đạo đức, lòng tự trọng
Các trường hợp cóe tể áp dụng phương pháp này:
– Khi người bị thuyết phục có những nhận thức hạn chế, sai lệch về vấn đề
có liên quan vụ án (ví dụ, cho rằng mình không sai khi phạm tội, bị oan) hoặc khó cải tạo, giáo dục khi thi hành án
– Người bị thuyết phục có thái độ thiếu thành khẩn, bất hợp tác khi khai báo,
đổ lỗi cho người khác, nhận hết lỗi về phía mình…
Điều kiện sử dụng phương pháp
– Người thuyết phục phải có khả năng về nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác,
uy tín, tự tin
– Thông tin thuyết phục phải thực tế và phù hợp với nhận thức của người chịu tác động
– Phải có tình cảm, niềm tin và lòng kiên trì khi thuyết phục
– Tác phong của người thuyết phục phải đúng đắn, nghiêm túc, đáng tin
Lưu ý: Truyền đạt thông tin và thuyết phục đều là những phương pháp tác động tâm lý một chiều, chủ thể luôn giữ vai trò chủ động, tích cực Đối tượng tiếp nhận một cách thụ động và không có sự tương tác, phản hồi ngay lập tức từ phía đối tượng chịu tác động
c) Phương pháp đặt vấn đề và thay đổi vấn đề tư duy
Phương pháp đặt vấn đề và thay đổi vấn đề tư duy là phương pháp
mà người tác động đặt ra nhiều câu hỏi khác nhau để khi tư duy trả lời,
Trang 7người được hỏi thấy được logic của sự việc đang đặt ra cho mình, từ đó phải thay đổi tâm lý và hợp tác tốt hơn với cán bộ tư pháp Đây là phương pháp đặc trưng của tố tụng thẩm vấn Hỏi để kiểm tra, xét hỏi Bằng phương pháp hỏi để làm rõ sự thật khách quan
Các trường hợp sử dụng phương pháp này
– Khi người cung cấp lời khai quên một số tình tiết của vụ án
– Khi cần làm thay đổi thái độ, quan điểm, lập trường sai lệch của người được hỏi
– Khi đối tượng khai báo không đúng sự thật, thiếu thành khẩn
Các loại câu hỏi thường được sử dụng
– Câu hỏi liên tưởng đến mô hình thật của sự việc: Nhìn thấy gì, ai, như thế nào… Buộc đối tượng cung cấp những thông tin mà họ đã được chứng kiến
Có thể kiểm chứng thông tin cung cấp
– Câu hỏi bất ngờ, khác với sự chuẩn bị trước của người được hỏi:
– Câu hỏi chi tiết, truy vào các nội dung chưa rõ ràng hoặc cho là có gian dối, làm cho người được hỏi lúng túng: không thể bằng lòng với những lời khai qua loa, đại khái của đối tượng được phải đi đến cùng v/d: vết thương trên tay của anh do đâu, bị can khai là do ngăn kéo bàn gây ra, nhưng khi thực nghiệm thì không phải => hỏi đến cùng làm cho bị can bối rối, khai sự thật
– Câu hỏi ban đầu hướng đến câu trả lời làm tiền đề để hỏi câu hỏi sau quan trọng: v/d: mức sống ra sao Những câu hỏi sau: với mức sống như thế, tiền đâu anh trả nợ…
Các yêu cầu cần chú ý khi sử dụng phương pháp này:
– Phải đoán trước được ý đồ (mô hình tư duy) của người được hỏi
Trang 8– Chuẩn bị trước các loại câu hỏi nếu có thể (dự án luôn câu trả lời: vd: nếu
bị can trả lời như thế này, thì hỏi tiếp như thế nào )
– Câu hỏi phải dễ hiểu, diễn đạt ngắn gọn
Đây là phương pháp tác động tâm lý được thực hiện thông qua phương tiện ngôn ngữ nói, trực tiếp, linh hoạt Phương pháp này tạo được sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp
d) Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển
Phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển là sử dụng hoặc thiết
lập các quan hệ giao tiếp, định hướng và điều khiển các giao tiếp này diễn ra theo hướng nhằm đạt được mục đích của người điều khiển. Giao tiếp đa chiều (có ít nhất 3 người trở lên tham gia giao tiếp) v.d: cho anh A gặp anh
B dưới sự kiểm soát của người tiến hành tố tụng, gặp nhau để làm rõ vấn đề,
ai nói không đúng, ai đưa ra lời khai man…
[dân gian gọi là “3 mặt một lời”]
Trường hợp áp dụng
– Khi có nhiều người cần tham gia giao tiếp: V/d: tại phiên tòa công khai, lựa chọn đối tượng giao tiếp: hỏi ai trước, hỏi ai sau, khi hỏi có cần cách ly
họ không?
– Có mâu thuẫn giữa các chứng cứ, lời khai: v.d: tổ chức đối thoại, giao tiếp
để loại bỏ mâu thuẫn
– Cần xác định lại thái độ tâm lý của đối tượng thông qua hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: v.d: cho đối tượng này gặp gỡ đối tượng khác, để kiểm tra xem
họ có quen biết nhau không
– Khi cần giáo dục đối tượng trong hoạt động cải tạo: v.d: cho phạm nhân gặp gỡ gia đình, thân nhân
Yêu cầu khi sử dụng phương pháp
Trang 9– Người tiếu hành tố tụng phải dự liệu trước các mâu thuẫn, hoàn cảnh: v/d: loại trừ khả năng bị ảnh hưởng tâm lý lẫn nhau, như các trường hợp “cấp dưới lo sợ cấp trên”, “con lo sợ bố”…, loại trừ khả năng đe dọa, mua chuộc, làm cho đối tượng thay đổi lời khai Nếu không, buổi giao tiếp đó sẽ không đạt được mục đích – Người tiến hành tố tụng phải làm chủ, kiểm soát hoạt động này: không để đối tượng lợi dụng giao tiếp để trao đổi, thông cung với nhau Đặc biệt trong giai đoạn điều tra
e) Phương pháp ám thị gián tiếp
Phương pháp ám thị gián tiếp là phương pháp tác động tâm lý bằng
cách ám thị thông qua việc cung cấp những thông tin tuy không có quan hệ trực tiếp với sự kiện phạm tội nhưng làm cho bị can, bị cáo có xu thế đi đến kết luận là người tác động đã hiểu rõ toàn bộ sự kiện phạm tội xảy ra, không thể che giấu bí mật được nữa, tốt nhất là phải khai báo sự thật
[Rung cây nhát khỉ]
Trường hợp sử dụng
– Chưa có chứng cứ chắc chắn để buộc tội đối tượng: áp dụng đối với người
bị buộc tội, bị can, bị cáo Chứ ko dùng biện pháp ám thị với người làm chứng, người bị hại
– Có thông tin khác liên quan đến bí mật đời tư của đối tượng
Yêu cầu sử dụng
– Đối tượng thiếu thông tin: đối tượng bị tạm giữ hình sự, bị can bị tạm giam Họ chưa biết cơ quan điều tra đã biết những thông tin gì rồi Còn đ/v
bị cáo thì họ ko còn thiếu thông tin nữa, họ đã được tống đạt cáo trạng
– Sử dụng phương pháp này ở thời điểm đầu buổi xét hỏi:
– Thông tin phải chính xác mặc dù không liên quan đến nội dung vụ án
Trang 10– Thông tin phải đánh vào yếu điểm tâm lý của đối tượng: “yếu điểm” là điểm quan trọng v/d: chưa có thông tin về đối tượng nhận tham ô tài sản, nhưng có thông tin anh có nhiều tài sản bất minh, nhiều bồ nhí, nhân tình…, hoặc việc man khai lý lịch, bằng cấp giả để được lên lương, lên chức… f) Phương pháp ám thị trực tiếp
Phương pháp ám thị trực tiếp là phương pháp cung cấp thông tin,
hình ảnh, việc làm của cán bộ hoặc những người có gương tốt để tác động đến người khác, làm cho đối tượng thay đổi suy nghĩ, xử sự phù hợp với mục đích của hoạt động tư pháp
Yêu cầu sử dụng
– Chủ thể và đối tượng có sự hiểu biết lẫn nhau
– Chủ thể và đối tượng có thời gian tiếp xúc tâm lý ổn định, liên tục
Phương pháp này sử dụng phổ biến trong hoạt động cải tạo, là phương pháp đặc thù trong hoạt động cải tạo phạm nhân
PHẦN KẾT LUẬN
Từ khi tham gia vào quá trình hội nhập với kinh tế thế giới thì hoạt động nghề Luật ờ Việt Nam đã trờ thành một trong những yếu tố có tầm quan ưọng hàng đầu Hoạt động này đã tạo ra môi trường pháp lý an toàn cho các hoạt động kinh tế – xã hội Tuy nhiên, tnrớc nhũng yêu cầu mới của thời kỳ hội nhập, đòi hỏi cần phải nâng cao chất lượng của hoạt động nghề Luật Để nâng cao chất lượng hoạt động nghề Luật thì nhiệm vụ cấp thiết đặt
ra là phải nghiên cứu và hiểu biết về tâm lý của hoạt động này Bởi lẽ, hoạt động nghề Luật gắn liền với sự phức tạp và đa dạng của tâm lý con người Tâm lý là động lực nội tâm chi phối từ nhận thức, thái độ đến hành vi của các chủ thể trong hoạt động
Trang 11Trong hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng, nhận thức đóng một vai trò hết sức quan trọng Nó là bộ phận, một mặt hoạt động rất cơ bản, cần thiết không thể thiếu trong hoạt động tư pháp Nhận thức góp phần xây dựng, thúc đẩy nhanh việc hoàn thành mục đích, nhiệm vụ của giai đoạn xét xử trong hoạt động tư pháp Nhờ việc phân tích tác động đối với việc hỏi cung bị can đã giúp các vụ án phá được nhanh chóng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Tâm lý học tư pháp, NXB Công
an nhân dân, Hà Nội, 2006
2 http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-tac-dong-tam-ly-trong-hoat-dong-hoi cung bì can-56651,
3 https://www.wattpad.com/812872-2a-hoicungbican
4 http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-mot-so-van-de-ly-luan-co-ban-ve chuan-bi-hoi-cung-hi-can-32195