BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT NGÂN HÀNG HỌ TÊN LÊ NHƯ THỦY MSSV VB1CT4043 LỚP VB1K4 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, vấn đề sở hữu chéo liên quan đến các tổ chức tín[.]
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: LUẬT NGÂN HÀNG
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, vấn đề sở hữu chéo liên quan đến các tổ chức tín dụng (TCTD)ở Việt Nam đang ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh các mặt tích cực mang lại thì trong bối cảnh hiện nay, sở hữu chéo là một trong những nguyên nhân quan trọng có thể dẫn đến các tác động tiêucực cho hệ thống ngân hàng như cho vay theo quan hệ, thu xếp vốn cho những dự án đầu tư chưaminh bạch, hoặc phục vụ mục đích thâu tóm ngân hàng Từ thực tiễn hoạt động của hệ thống tài chính Việt Nam cho thấy, hệ thống các TCTD Việt Nam hiện có 6 nhóm sở hữu chéo khác nhau: Nhóm 1 là sở hữu của các ngân hàng trong nước
và nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh; Nhóm 2 là cổ đông chiến lược nước ngoài tại các ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước; Nhóm 3 là cổ đông tại các ngân hàng là các công ty quản lý quỹ; Nhóm 4 là sở hữu của các ngân hàng thương mại nhà nước tại các MHTM cổ phần; Nhóm 5 là sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần; Nhóm 6 là sở hữu ngân hàng cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân (1) Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi sẽ không đi sâu vào hệ thống các vấn đề lý luận cơ sở của hiện tượng sở hữu chéo
mà chủ yếu tập trung phân tích các tác động của sở hữu chéo đến hoạt động của
hệ thống TCTD Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số các kiến nghị nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của sở hữu chéo
II NỘI DUNG
I Tổng quan về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng
1.1 Khái niệm và phân loại sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng
1 Khái niệm hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng
Trên thế giới, khái niệm về sở hữu chéo đã được các nhà nghiên cứu đưa ra trong các nghiên cứu dựa trên định nghĩa về sở hữu và có thể hiểu đơn giản là hiện tượng doanh nghiệp này nằm giữ cổ phần tại doanh nghiệp khác Sở hữu chéo (cross ownership) là một hiện tượng phổ biến trên thế giới và là chủ thể
Trang 3nghiên cứu lớn trong giới học thuật, được giới thiệu như là một chiến lược quản trị doanh Sở hữu chéo là hiện thân các doanh nghiệp giữ cổ phần nhau những mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu này có thể là việc thực hiện chiến lược phát triển của doanh nghiệp, mặc dù sở hữu chéo có thể ảnh hưởng tiêu cực tới các doanh nghiệp khác nhưng cũng có thể tạo ra lợi ích cho các bên liên quan, hoặc mục tiêu chống lại những quy định của pháp luật về đảm bảo đủ vốn Albano và Alessia (2009) định nghĩa: “Sở hữu chéo là việc các doanh nghiệp bao gồm Y cũng nghiệp và tài chính nắm giữ có phần dài hạn tại các doanh nghiệp khác" Sở hữu cổ phần thưởng có mối quan hệ qua lại khi doanh nghiệp này nằm giữ cổ phần của doanh nghiệp khúc và cổ phần của bản thân doanh nghiệp đó lại được nắm giữ bởi các doanh nghiệp còn lại, tạo nên một hệ thống sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp
và ngân hàng Mark Scher (2001) nhận định: “Sở hữu chéo là việc hai doanh nghiệp nắm giữ cổ phần của nhau Các doanh nghiệp có thể cùng ngành, có thể
là nhà cung cấp và khách hàng, hoặc là chủ nợ với con nợ
Khái niệm sở hữu chéo cũng thường được dùng để chỉ hiện tượng một cả nhân hay tổ chức cùng lúc sở hữu cổ phần trọng yếu và nắm quyền quản trị điều hành tại nhiều đơn vị kinh doanh khác nhau Nội dung quan trọng nhất của sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp là tạo ra mối liên kết hàng ngang giữa các công
ty làm ăn với nhau bằng phương thức xâm nhập sâu vào hoạt động kinh doanh, quản trị điều hành của nhau thông qua việc mua cổ phần của đối tác
Như vậy, sở hữu chưa trong hệ thống người hàng là việc một hay nhiều ngân hàng nắm giữ cổ phần của nhau thông qua mua bản có phần hoặc có thể đầu tư vào nguồn hàng khác thông qua công ty cm hoặc ủy thác đầu tư qua một bên trung gian
1.2 Tình hình sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
Trang 4Đối với thực tiễn Việt Nam, từ nhiều năm trước khi việc thành lập hệ thống ngân hàng cổ phần được thực thi, Chính phủ đã chủ trương phải có đại diện của mình trong mỗi ngân hàng và các ngân hàng quốc doanh lớn đã được lựa chọn để góp vốn với tư cách cổ đông nhà nước Sự hiện diện của những ngân hàng quốc doanh nhằm mục đích hạn chế những hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý nếu có cũng như những yếu kém ban đầu từ phía các ngân hàng cổ phần mới được thànhlập Trong bối cảnh bấy giờ, sự thận trọng này là cần thiết Ngoài ra, xét từ góc độ nghiệp vụ, các ngânhàng quốc doanh lớn đã chia sẻ kinh nghiệm kinh doanh, quản trị thậm chí chia sẻ cả nguồn nhân lựcvới tất cả các ngân hàng họ góp vốn Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển của hệ thống ngânhàng Việt Nam, ảnh hưởng của các hình thức sở hữu chéo cũng có nhiều biến đổi Trong các nhóm sở hữu chéo đã nêu ở trên do Ủy ban Kinh tế Quốc hội phân loại, 3 nhóm sở hữu chéo đầu tiên có tínhtích cực vì chủ yếu hướng đến việc tăng cường thúc đẩy hoạt động thương mại giữa Việt Nam và quốctế, góp phần nâng cao năng lực quản trị vốn hiệu quả của các TCTD Trong khi đó, 3 nhóm còn lại có thể tiềm ẩn những nguy cơ xấu cho tính ổn định của hệ thống ngân hàng
Nhìn chung, thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam như tỷ lệ nắm giữgiữa các tổ chức, vai trò của các cổ đông và công tác giám sát vai trò này là những vấn đề hết sức phức tạp bởi quan hệ chồng chéo mang tính lịch sử, đồng thời cũng mang tính biến động cao, kết hợp với nguồn thông tin hạn chế
Trước hết, rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế Nhà nước
và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng hiện đang đầu
tư dài hạn vớivai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược trong các NHTM Theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội, hiện tại có khoảng gần 40 các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có sở hữu trên 5% tại các NHTMCP
Trang 5II Những quy định pháp lý về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam
2.1 Các quy định pháp lý về sở hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 2.1.1 Về quản lý nhà nước đối với sở hữu chứa trong hệ thống ngân hàng
Hoạt động quản lý Nhà nước đối với sở hữu chéo tại NHTM chủ yếu bao gồm ba nội dung chính: các quy định về thành lập, sở hữu, đầu tư, và cấp tín dụng đối với NHTM, cơ chế giảm sát và đảm bảo an toàn hoạt động, bao gồm cả giảm sát nội bộ và giảm sát của cơ quan Nhà nước; và các biện pháp nhằm giảm
tỷ lệ sở hữu chéo giữa các doanh nghiệp, ngân hàng
2.1.1.1 Quy định về thành lập, sở hữu, đầu ne và cấp tín dụng đối với người hàng thương mại
CH định về 1 lệ sở hữu của cổ đông và nhóm có đồng: Các cơ quan quản
lý Nhà nước thường đưa ra các quy định khống chế tỷ lệ sở hữu tối đa của một
cô động và nhóm cổ đông có liên quan, bao gồm cả tổ chức và cả nhân đối với
cổ phần của NHTM Các cổ động và nhóm có động có liên quan là các tổ chức,
cá nhân quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, cá nhân khác thuộc các nhóm như NHTM khác và các doanh nghiệp mà NHTM nắm giữ từ một tỷ lệ có phần nhất định trở lên; các cá nhân thuộc ban quan trị, ban kiểm soát, và ban điều hành tại chính ngân hàng, tại các NHTM khác, và các doanh nghiệp mà NHTM nắm giữ từ một tỷ lệ cổ phần nhất định trở lên; NHÓM khác và các doanh nghiệp hiện đang nắm giữ cổ phần tại NHTM Việc quy định này áp dụng không chì với tỷ lệ sở hữu có phần mà còn liên quan đến tỷ lệ sở hữu quyền biểu quyết
Trên cơ sở đó, tùy vào mức độ sở hữu là thấp hay cao, hình thức sở hữu là gián tiếp hay trực tiếp mà Nhà nước quy định mức độ khống chế sở hữu nhất định
Trang 6Quy định về đầu tư gặp vấn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại Cơ quan quản lý Nhà nước quy định NHTM chỉ được phép sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự trù để góp vốn, mua cổ phần vào một số ngành nghề nhất định theo quy định của Nhà nước: giới hạn mức góp vốn, mua cổ phần tối đa của NHTM: giỏi hun tỷ lệ vốn góp, mua cổ phần trên vốn điều lệ của doanh nghiệp mà NHTM được phép đầu tư Việc quy định này không chỉ đối với NHÓM mà còn đối với các công ty con, công ty liên kết của NHTM
Cơ quan quản lý Nhà nước yêu cầu các NHTM tách bạch hoạt động đầu tư với các hoạt động huy động và cho vay truyền thống của NHTM thông qua việc yêu cấu NHTM phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện các hoạt động của ngân hàng đầu tư, thậm chỉ hạn chế hoặc cấm hoàn toàn các hoạt động của ngân hàng đầu tư đối với NHTM mà chỉ cho phép ngân hàng đầu tư thực hiện các nghiệp vụ này Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định: NHTM chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp khác
Quy định về cấp tín dụng của ngân hàng thương mại: Cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra các quy định cấm hoặc hạn chế trường hợp NHTM cấp tín dụng đối với một số đối tượng sau không cấp tín dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán thuộc quyền kiểm soát của NHTM; không cấp tín dụng đối với các đối tượng sử dụng chính cổ phiếu của NHTM làm tài sản bảo đảm, không cấp tín dụng cho mục đích đầu tư góp vốn cổ phần vào NHTM khác mà tài sản bảo đàm là chính cổ phiếu của NHTM độc thành viên ban quản trị, ban điều hành, bạn kiểm soát, và các cá nhân có liên quan; hạn các cấp tín dụng đối với các cổ đông lớn, các có đông sáng lập, các doanh nghiệp do cổ đông lớn và cổ đông sáng lập nắm quyền kiểm soát thông qua sở hữu cổ phần hoặc đại diện nắm quyền, vv
2.1.1.2 Quy định về quản trị doanh nghiệp, giảm sút và công bố thông tin
Trang 7Quy định minh bạch hóa các thông tin trong ngân hàng thương mại: Trong các yếu tố quyết định mức độ minh bạch và hiệu quả của thị trường tài chính, thông tín luôn đóng một vai trò quan trọng Khi có thông tin chính xác, cơ quan quản lý nhà nước và cổ đông có thể giám sát hoạt động của NHTM dễ dùng và chính xác hơn, từ đó phát hiện sớm những vấn đề trong quản trị và điều hành của các ngân hàng Các ngân hàng thương mại phải thực hiện các báo cáo hàng quý, bán niên, và thường niên về tình hình hoạt động của ngân hàng đồng thời công
bố các thông tin trọng yếu trên các thông tin thông tin đại chúng và gửi tới cơ quan quản lý của Nhà nước có vai trò thu thập, kiểm tra, và xây dựng cơ sở dữ liệu cho toàn hệ thống
2.1.1.3 Quy định về kiểm soát tình trạng sở hữu chin trong hệ thống ngân hàng thương mại
Sở hữu chiều tại hệ thống NHTM với mức độ lớn có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho sự an toàn và ổn định của hệ thống Ba giải pháp chính để kiểm soát tình trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng thương mại bao gồm: không cho phép các NHTM tiếp tục hoạt động đầu tư, cấp tín dụng nắm giữ cổ phần hoặc quyền kiểm soát tại các NHTM hay các doanh nghiệp khác; yêu cầu các NHÓM thanh lý có phản để tiến tới giảm tỷ lệ sở hữu chéo về mức độ cho phép do cơ quan quản lý Nhà nước quy định, và yêu cầu NHTM từ bỏ quyền biểu quyết của mình trong liên minh sở hữu cháu Trong đó, giải pháp yêu cầu các NHTM thanh lý cổ phần thông qua thị trường chứng khoán là biện pháp thiết thực nhất để hệ thống các ngân hàng và doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro và những ảnh hưởng tiêu cực mà tay hữu chéo gây ra Tuy nhiên, biện pháp này gặp một
số trở ngại như tính thanh khoản thấp của cổ phiếu, nguy cơ giảm giá cổ phiếu
và tác động tiêu cực tới thị trường chứng khoán, cũng như ảnh hưởng tới mối quan hệ kinh doanh lâu dài giữa các thành viên trong liên minh sở hữu chéo
2.1.2 Về giới hạn góp vốn, mua cổ phần
Trang 8Năm 1997, Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức : dụng ra đời thay thế cho Pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính
1990 tạo cơ sở cho việc cải cách hệ thống ngân hàng thương mại Mặc dù đã có nhiều điểm mới và hoàn thiện hơn so với Pháp lệnh Ngân hàng 1990, tuy nhiên các quy định về góp vốn và sở hữu của các TCTD được nêu ra trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 này vẫn chưa chặt chẽ
2.1.3 Về sở hữu chéo, đầu tư chéo
Điều 129 và Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 cũng đưa ra những quy định chặt chẽ đối với hoạt động sở hữu chéo giữa các tổ chức tín dụng, các công ty con, công ty liên kết và công ty kiểm sout Theo đó, tổ chức tín dụng không được góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác
là cổ đồng, thành viên góp vốn của chính tổ chức tín dụng để [15, Điều 129}; công ty con, công ty liên kết của cùng một công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của nhau, công ty con, công ty liên kết của một tổ chức tín dụng không được góp vốn, mua cổ phần của chính tổ chức tín dụng độc tổ chức tín dụng đang là công ty con, công ty liên kết của công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của công ty kiểm soát đỏ (15, Điều 135) Tuy nhiên do yếu tố lịch sử, trên thực tế hiện vẫn còn một số tổ chức tín dụng góp vốn tại nhiều tổ chức tín dụng khác hoặc có sở hữu cổ phần lẫn nhau (các hiện tượng này xảy ra từ trước khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực) hoặc có một số trường hợp tổ chức tín dụng này thông qua các công ty con của mình sở hữu cổ phần của tổ chức tín dụng khác hoặc cổ đông sở hữu cổ phần của tổ chức tín dụng thông qua vốn vay của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp khác
Sở hữu chèo, đầu tư chéo trong hệ thống ngân hàng đang có xu hướng diễn biến phức tạp, tiềm ẩn rủi ro và ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của từng TCTD nói riêng, cũng như toàn hệ thống ngân hàng nói chung, căn trở nhất định đến quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD Để hạn chế và tiến tới chấm dứt
Trang 9tình trạng s hữu chéo trong lĩnh vực ngân hàng NHNN đã xác định mục tiêu xử
lý sở hữu chôn là góp phần bảo đảm cho hoạt động của các TCTD an toàn, lành mạnh và minh hạch; phản ánh đúng thực chất năng lực tài chính của TCTD và hệ thống các tổ chức tín dụng
2.1.4 Về cấp tín dụng
Luật Các tổ chức tín dụng 2010 bổ sung quy định về quyền và trách nhiệm của công kiểm soát (những công ty mà theo định nghĩa quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2010, năm giữ, sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp trên 20% vốn điều
lệ của một Ngân hàng thương mại nhằm hạn chế các quan hệ tín dụng, hùn vốn, góp vốn chéo (góp vốn, mua có phần lẫn nhau) giữa TCTD với các công ty có quan hệ về vốn liếng, tránh rủi ro cho các NHTM do sự can thiệp quá mức của các công ty kiểm soát Để đạt được mục đích này, Luật Các tổ chức tín dụng
2010 đã đưa ra các quy định buộc phải minh bạch hóa các quan hệ giữa công ty kiểm soát với các NHIM Bữa NHÓM với các công ty con của mình; quy định không cho phép NHTM và các công ty con, liên kết của cùng một công ty kiểm soát được sở hữu chéo cổ phần, công ty con, công ty liên kết của cùng một TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của TCTD: tổ chức tín dụng là công ty con, công ty liên kết của công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của công ty kiểm soát Ngoài ra, Điều 141 Luật Các tổ chức tín dụng cũng có quy định yêu cầu các công ty con công ty liên kết của TCTD phải gửi báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động của mình cho Ngân hàng nhà nước khi được yêu cầu Luật Các tổ chức tín dụng cũng quy định các trường hợp hạn chế cấp tín dụng liên quan đến đầu tư chéo
III Một số đề xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy được rằng sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng đang tạo ra những khó khăn nhất định trong hoạt động điều hành nhằm đảm bảo tính an toàn của hệ thống, đặc biệt là đối với công tác xử lý
Trang 10nợ xấu, nâng cao tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng Vì vậy, việc hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của sở hữu chéo là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra cho cơ quan quản lý Trong đó, vấn đề mấu chốt trong công tác xử lý sở hữu chéo là phải đảm bảo ngăn ngừa hành vi cố tình vi phạm, đồng thời triệt tiêu lợi ích từ việc sở hữu chéo của các cá nhân và tổ chức Để thực hiện điều này,đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ giữa NHNN và các Bộ ngành liên quan trong việc ban hànhcác văn bản pháp quy cũng như việc kiểm soát việc thực thi các điều khoản quy định Cụ thể,một số đề xuất thực hiện như sau:
Thứ nhất, bổ sung thuật ngữ sở hữu chéo vào trong Thông tư 13/2010/TT-NHNN đồng thời hình sự hóa các vấn đề liên quan đến sở hữu chéo để ngăn ngừa tối đa hành vi này (Bổ sung vào Luật Hình sự) Các cơ quan quản lý cần thường xuyên giám sát, yêu cầu các TCTD tuân thủ nghiêm Điều 55 của Luật các TCTD năm 2010 về quy định giới hạn sở hữu cổ phần của cổ đông cá nhân,
cổ đông pháp nhân và những người có liên quan, bao gồm cả phần cổ phần ủy thác cho cá nhân, tổ chức khác đứng tên Nếu vi phạm, các cá nhân và người đứng đầu tổ chức phải chấp nhận bị xử lý theo luật hình sự
Thứ hai, các quy định về kế toán, hệ thống các quy định an toàn cần được liên tục nâng cao tính minh bạch, đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế Chẳng hạn để loại trừ tính nhiễu của sở hữu chéo trong vốn tự có như đã đề cập ở trên, khoản đầu tư của TCTD này vào TCTD khác phải được xác định rõ và loại trừ khỏi vốn cấp 1 của tổ chức được góp vốn khi tính hệ số an toàn vốn (CAR) của
tổ chức này, tránh tình trạng vốn chảy lòng vòng trong hệ thống dẫn tới việc tăng vốn không thực chất Đặc biệt, các quy định về phòng chống rửa tiền cũng phải được thực thi một cách nghiêm túc Ví dụ, các cổ đông đi vay tiền hoặc các nguồn tiền để góp vốn thành lập ngân hàng không minh bạch thì phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh