1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl le thi thanh 810260b

76 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Tác Động Của Các Hoạt Động Kinh Tế - Xã Hội Khu Kinh Tế Dung Quất Đến Chất Lượng Nước Sông Trà Bồng Và Đề Xuất Biện Pháp Giảm Thiểu
Tác giả Lê Thị Thành
Người hướng dẫn Th.S Phạm Anh Đức
Trường học Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • LỜI CẢM ƠN

  • Danh mục các bảng

  • Danh mục hình

  • MỤC LỤC

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN

    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    • 1.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    • 1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 1.5.1. Phương pháp luận

      • 1.5.2. Lý thuyết và thực tiễn.

    • 1.6. DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

  • CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊNVÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KHU KINH TẾ DUNG QUẤT

    • 2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

      • 2.1.1. Vị trí địa lý

      • 2.1.2. Địa hình

      • 2.1.3. Khí hậu

      • 2.1.4. Nhiệt độ không khí

      • 2.1.5. Chế độ mưa

      • 2.1.6. Đặc điểm chính về chế độ thuỷ văn, hải văn:

      • 2.1.7. Tài nguyên sinh vật

    • 2.2. PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

      • 2.2.3. Tốc độ gia tăng dân số

      • 2.2.4. Diễn biến đô thị hoá

      • 2.2.3. Tình hình di dân, tái định cư của các hộ dân trong KKT Dung Quất và thực trạng đời sống của các hộ dân này

    • 2.3. PHÁT TRIỂN KINH TẾ

      • 2.3.1. Tình hình đầu tư vào KKT Dung Quất

      • 2.3.2. Một số dự án lớn đã đầu tư tại KKT Dung Quất

      • 2.3.4. Định hướng phát triển KT - XH khu vực nghiên cứu đến năm 2020

    • 2.4. TẦM QUAN TRỌNG CỦA NƯỚC SÔNG TRÀ BỒNG ĐỐI VỚI YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT VÀ VÙNG PHỤ CẬN.

  • CHƯƠNG 3.CÁC TÁC ĐỘNG CHÍNH TỪ HOẠT ĐỘNGPHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU KINH TẾDUNG QUẤT ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG TRÀ BỒNG

    • 3.1. NƯỚC THẢI SINH HOẠT

    • 3.2. NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP – TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

    • 3.3. HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

    • 3.4. HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG THỦY VÀ NEO ĐẬU CẢNG

    • 3.5. HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP

    • 3.6. CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC

  • CHƯƠNG 4. HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚCSÔNG TRÀ BỒNG Ở KHU KINH TẾ DUNG QUẤTVÀ DỰ BÁO ĐẾN NĂM 2015

    • 4.1. PHƯƠNG PHÁP THU VÀ PHÂN TÍCH MẪU.

    • 4.1.1. Phương pháp thu mẫu.

    • 4.1.2. Phương pháp phân tích mẫu.

    • 4.1.3. Tiêu chuẩn chất lượng nước biển ven bờ.

    • 4.2. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG TRÀ BỒNG Ở KHU KINH TẾ DUNG QUẤT

    • 3.3. DỰ BÁO CÁC NGUỒN Ô NHIỄM TRÊN SÔNG TRÀ BỒNG ĐẾN NĂM 2015.

    • 4.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở KHU KINH TẾ DUNG QUẤT.

  • CHƯƠNG 5. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝVÀ BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG TRÀ BỒNG

    • 5.1. GIẢI PHÁP QUẢN LÝ.

      • 5.1.1. Chiến lược – kế hoạch bảo vệ nguồn nước sông Trà Bồng – Khu vực KKT Dung Quất

      • 5.1.2. Các giải pháp về mặt chính sách

      • 5.1.3. Kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm (công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt).

      • 5.1.4. Nâng cao nhận thức cộng đồng.

      • 5.1.5. Các công cụ kinh tế

    • 5.2. GIẢI PHÁP KỸ THUẬT.

      • 5.2.1. Quan trắc chất lượng nước.

      • 5.2.2. Xây dựng trạm xử lý nước thải công nghiệp cho KKT Dung Quất.

      • 5.2.2. Xây dựng trạm xử lý nước thải đô thị tập trung.

  • KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Phụ lục 3: TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG NƯỚC BIỂN VEN BỜ

  • Phụ lục 4: Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp thải vào vực nước biển ven bờ dùng cho mục đích bảo vệ thuỷ sinh

Nội dung

Đó là lý do đề tài “" Đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế - xã hội Khu kinh tế Dung Qu ất đến chất lượng nước sông Trà Bồng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu” được chọn và th

TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

KKT Dung Quất được Thủ Tướng Chính Phủ thành lập trên cơ sở KCN Dung Quất tại Quyết Định số 50/2005/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 03 năm 2005 KKT Dung Quất là KKT tổng hợp, đa ngành đa lĩnh vực với trọng tâm là phát triển công nghiệp lọc hoá dầu, hoá chất, các ngành có quy mô lớn bao gồm: công nghiệp cơ khí, đóng và sửa chữa tàu biển, luyện cán thép, sản xuất xi măng, sản xuất container và các ngành công nghiệp sản xuất tiêu dùng, chế biến và xuất khẩu; gắn với việc phát triển và khai thác hiệu quả cảng biển nước sâu Dung Quất, sân bay quốc tế Chu Lai và đô thị công nghiệp - dịch vụ Vạn Tường, đô thị Dốc Sỏi…

Trong thời gian qua, KKT Dung Quất đã cơ bản hoàn thành hệ thống hạ tầng, bước đầu đáp ứng nhu cầu triển khai dự án đầu tư cho các doanh nghiệp Nhiều dự án với quy mô lớn đã thực hiện đầu tư vào KKT Dung Quất như: Nhà máy Lọc dầu Dung

Dung Quất là khu vực tập trung nhiều nhà máy công nghiệp hiện đại như Nhà máy luyện cán thép của Công ty TNHH Guang Lian Steel VN, Nhà máy sản xuất thiết bị công nghiệp nặng Doosan, Nhà máy polypropylene, Nhà máy đóng tàu Dung Quất (hiện nay đã đi vào sản xuất) và một số nhà máy nghiền clinker.

KKT Dung Quất đang đẩy mạnh các hoạt động đầu tư và phát triển Song song với phát triển, nguy cơ ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng có thể ảnh hưởng tới sức khỏe con người, hệ sinh thái và nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực Trong đó, ô nhiễm nước sông Trà Bồng là vấn đề trọng tâm cần sớm được quan tâm, nghiên cứu và tìm giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp với quá trình xây dựng KKT Dung Quất Sông Trà Bồng sẽ là nơi tiếp nhận nước thải, rác thải từ các cụm công nghiệp và khu dân cư sinh sống, là vùng nhạy cảm về môi trường và chịu áp lực cao, đòi hỏi các biện pháp quản lý chất lượng nước và giảm thiểu rủi ro ô nhiễm Đó là lý do đề tài “Đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế - xã hội Khu kinh tế Dung Quất đến môi trường nước sông Trà Bồng” được đề xuất nhằm đánh giá tác động, đề xuất giải pháp và hướng tới sự phát triển bền vững.

Đề án "Dung Quất đến chất lượng nước sông Trà Bồng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu" được lựa chọn và triển khai nhằm dự báo các nguồn gây ô nhiễm môi trường và đề xuất các biện pháp giảm thiểu các tác động lên hệ sinh thái và môi trường trên sông Trà Bồng từ sự phát triển của KKT Dung Quất (Khu kinh tế Dung Quất) Dự án tập trung nhận diện nguồn ô nhiễm, đánh giá mức độ ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Trà Bồng, và đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ nguồn nước và đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái ven sông.

M ỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Phân tích sâu cho thấy hoạt động KT-XH tại KKT Dung Quất đang tác động đến chất lượng nước sông Trà Bồng thông qua tăng tải ô nhiễm từ nước thải, rò rỉ nguồn gây ô nhiễm và biến động dòng chảy, làm giảm độ trong và gia tăng nguy cơ ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng ở khu vực hạ lưu Những nguy cơ tiềm ẩn gồm ô nhiễm dầu mỏ, kim loại nặng và mất cân bằng hệ sinh thái nước ngọt cần được đánh giá kỹ lưỡng và giám sát liên tục để nhận diện các biến động chất lượng nước kịp thời Để giảm thiểu tác động, các giải pháp thiết yếu như tăng cường quản lý nước thải và chất thải công nghiệp tại KKT Dung Quất, xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn, cải thiện hạ tầng thoát nước và kiểm soát rò rỉ ô nhiễm, cùng với triển khai hệ thống giám sát chất lượng nước định kỳ và áp dụng công nghệ xử lý tiên tiến, là cần thiết Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng để thiết lập tiêu chí chất lượng nước, khu vực cảnh báo sớm và kế hoạch ứng phó sự cố nhằm bảo vệ nguồn nước cho mục đích sinh hoạt và sinh thái của sông Trà Bồng.

PH ẠM VI NGHIÊN CỨU

Địa điểm: Tại KKT Dung Quất

Thời gian: Từ tháng 09/2008 đến tháng 12/2008; Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nước sông Trà Bồng.

N ỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Thu thập và tổng hợp các thông tin, dữ liệu về điều kiện tự nhiên và phát triển KT -

XH của KKT Dung Quất và các vùng phụ cận;

Thu thập và tổng hợp các thông tin, dữ liệu về chất lượng môi trường và công tác quản lý môi trường tại KKT Dung Quất;

Thu thập và tổng hợp có hệ thống các thông tin, dữ liệu sẵn có về chất lượng nước sông Trà Bồng nhằm đánh giá tổng quan hiện trạng và xu hướng ô nhiễm Đánh giá các số liệu quan trắc để xác định mức độ ô nhiễm, nguồn gốc và biến động của chất lượng nước tại KKT Dung Quất và các vùng lân cận Dựa trên phân tích này, đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động đến chất lượng nước sông Trà Bồng, bao gồm cải thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải, quản lý nguồn thải công nghiệp và sinh hoạt, tăng cường giám sát chất lượng nước và nâng cao nhận thức cộng đồng.

Viết báo cáo tổng hợp;

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp luận

Trên cơ sở các phương pháp tìm hiểu, phân tích thành phần, chất lượng nước sông Trà

Việc kết hợp toàn diện các phương pháp khảo sát, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và tham khảo ý kiến từ các chuyên gia cho phép đánh giá chính xác chất lượng nước sông Trà Bồng tại Khu kinh tế Dung Quất Quá trình này thu thập dữ liệu hiện trường, chuẩn hóa theo các chuẩn mực chất lượng nước, xử lý số liệu và phân tích xu hướng ô nhiễm theo thời gian, từ đó xây dựng cái nhìn tổng thể về chất lượng nước và những tác động đến môi trường cũng như hoạt động kinh tế địa phương Dựa trên các kết quả tổng hợp, các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và tăng cường quản lý nguồn nước được đề xuất một cách cụ thể, khả thi và phù hợp với bối cảnh KKT Dung Quất Báo cáo cuối cùng cung cấp nền tảng dữ liệu cho quyết định quản lý nước, với các khuyến nghị về kiểm soát nguồn tiếp nhận, xử lý nước thải và bảo vệ chất lượng nước sông Trà Bồng.

Lý thuy ết và thực tiễn

Phương pháp thu thập tài liệu có liên quan, tổng hợp và phân tích dữ liệu;

Khảo sát thực địa kết hợp điều tra;

Phương pháp lấy mẫu, phân tích, đo đạc các chỉ tiêu môi trường theo tiêu chuẩn;

Phương pháp tiếp cận hệ thống để phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan đến chất lượng nước và bảo vệ môi trường;

Phương pháp chuyên gia: hợp tác và trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các chuyên gia đa ngành;

Trên cơ sở kết quả thu được đề xuất phương hướng và biện pháp giảm thiểu tác động.

D Ự KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Báo cáo tập hợp đầy đủ thông tin và dữ liệu liên quan đến đề tài nhằm làm rõ hiện trạng và xu hướng biến động của chất lượng nước sông Trà Bồng Bản đánh giá phân tích tác động của hoạt động KT-XH và các nguy cơ tiềm ẩn tại KKT Dung Quất đối với chất lượng nước sông Trà Bồng Từ đó, báo cáo đề xuất các biện pháp giảm thiểu tác động của hoạt động KT-XH và các nguy cơ tiềm ẩn ở KKT Dung Quất tới chất lượng nước sông Trà Bồng.

ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KT - XH CỦA KKT

V ị trí địa lý

Khu kinh tế Dung Quất (KKT Dung Quất) nằm trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, bao gồm 9 xã: Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải và một phần diện tích đất của các xã Bình Phước, Bình Hòa và Bình Phú KKT Dung Quất nằm ở trung điểm của Việt Nam, cách hai trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 860 km.

Khu kinh tế KKT Dung Quất là điểm đầu của một trong những tuyến đường xuyên Á kết nối Lào, Campuchia và Thái Lan, khẳng định vai trò chiến lược trong vận tải và thương mại khu vực Vị trí này cách sân bay Chu Lai 23 km, Cảng Dung Quất 15 km, KCN nặng 10–15 km và KCN nhẹ 5 km, đồng thời cách thành phố Đà Nẵng khoảng 100 km và thành phố Quảng Ngãi 25–40 km, giúp tối ưu hóa logistics và liên kết vùng cho các hoạt động sản xuất, chế biến và xuất nhập khẩu.

Phía Tây giáp giáp Quốc lộ 1A.

Phía Bắc giáp sân bay Chu Lai.

Phía Đông và Đông Bắc giáp Biển Đông.

Phía Tây Nam giáp Thành phố Quảng Ngãi.

Địa hình

Địa hình của KKT Dung Quất mang những nét đặc trưng của địa hình ven biển tỉnh

Quảng Ngãi có dạng địa hình bán sơn địa, bao gồm núi thấp, đụn cát, sông hồ và đất ngập mặn xen kẽ với ruộng lúa Các dãy đồi thấp được che phủ bởi cây dại và có độ dốc từ 3–20 độ, tạo nên cảnh quan đa dạng phù hợp cho nông nghiệp, thủy sản và du lịch sinh thái Sự đa dạng của địa hình này góp phần hình thành hệ sinh thái phong phú và tiềm năng phát triển kinh tế địa phương.

Khí h ậu

Quất nằm ở vùng địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ biến thiên không lớn và có xu hướng dốc thoải ra biển Đông Khu vực ven biển phía Đông của Quất chạy dọc từ thành phố Vạn Tường đến An Thành thuộc huyện Bình Sơn, có diện tích mặt bằng khá lớn và địa hình bằng phẳng, rất phù hợp cho việc xây dựng khu dân cư và phát triển du lịch ven biển.

Tỉnh Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa Nhiệt độ trung bình 25 0 C đến 26,9 0

Thời tiết được chia làm 2 mùa: mưa, nắng rõ rệt.

: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịchđến thượng tuần tháng 8 âm lịch.

Mùa mưa: Từ hạ tuần tháng tám âm lịchđến thượng tuần tháng giêng âm lịch.

- Gió mùa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến tháng 8 âm lịch, gió thổi từ Đông Nam qua Tây Bắc.

- Bão và áp thấp nhiệt đới

Nhi ệt độ không khí

: Ở Quảng Ngãi các trận bão thường xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 9đến tháng 12 dương lịch nhất là hai tháng 10 và 11.

Theo số liệu của trạm khí tượng Quảng Ngãi, nhiệt độ không khí trung bình tại Quảng Ngãi trong 3 năm gần đây được trình bày như trong bảng sau:

Bảng 2.1 - Nhiệt độ không khí trung bình trong ba năm gần đây

Nhiệt độ Không khí trung bình ( o C )

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB Năm

(Nguồn: Trạm khí tượng Quảng Ngãi – năm 2007)

Theo bảng số liệu, nhiệt độ không khí tại Quảng Ngãi phụ thuộc vào mùa và mùa khô có nhiệt độ cao hơn mùa mưa Chênh lệch nhiệt giữa hai mùa khoảng 5–6°C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất xuất hiện ở các tháng từ 4 đến 8, ở mức 26,9°C–29,6°C.

Ch ế độ mưa

Ở đồng bằng, tổng lượng mưa trung bình hàng năm phổ biến từ 2.200 đến 2.500 mm Lượng mưa tại Quảng Ngãi dồi dào nhưng phân bố không đồng đều theo các tháng và theo địa hình từng nơi, tạo ra hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.

Các đặc trưng của chế độ mưa trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được tính toán và trình bày như trong bảng sau:

Bảng 2.2 - Lượng nước mưa trung bình tháng trong các năm gần đây

(Nguồn: Trạm khí tượng Quảng Ngãi - năm 2007)

Qua bảng và biểu đồ ở trên, lượng mưa trung bình ở tỉnh Quảng Ngãi trong 3 năm gần đây đạt khoảng 2.442 mm Tháng 10 là tháng có lượng mưa trung bình cao nhất, khoảng 560 mm, chiếm khoảng 25% tổng lượng mưa của cả năm.

Lượng mưa hàng năm ở tỉnh này tập trung vào một số tháng, đặc biệt là tháng 10, 11 và 12, và với địa hình có độ dốc lớn nên đồng bằng thường bị ngập lụt vào mùa mưa Sự chênh lệch lượng mưa giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất khá rõ, trong đó tháng 4 có lượng mưa trung bình thấp nhất, khoảng 8 mm Trong mùa mưa, lượng mưa trung bình cao nhất rơi vào tháng 10 khiến nước ngấm vào bãi rác cao hơn và phát sinh lượng nước rỉ rác nhiều; do đó cần có hệ thống xử lý nước rỉ rác hoàn thiện và thực hiện tách nước mưa khỏi nước rác nhằm giảm lượng nước rác và chi phí xử lý nước rác.

Lượng mưa trung bình (mm)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Tổng

Đặc điểm chính về chế độ thuỷ văn, hải văn

KKT Dung Quất nằm trên lưu vực sông Trà Bồng và ven biển tỉnh Quảng Ngãi, nên việc đánh giá chế độ thủy văn được thực hiện dựa trên phân tích đồng thời vùng ven biển KKT Dung Quất và lưu vực sông Trà Bồng Phân tích này giúp nắm bắt tương tác giữa nước biển và dòng chảy nội địa, từ đó cung cấp dữ liệu cho quản lý nguồn nước và quy hoạch phát triển bền vững tại Quảng Ngãi Kết quả đánh giá chế độ thủy văn tại KKT Dung Quất và lưu vực Trà Bồng sẽ hỗ trợ quyết định về quản trị nước, bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Khám phá [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để tối ưu hóa nội dung SEO về chế độ thuỷ văn KKT Dung Quất và lưu vực sông Trà Bồng!

 Lưu vực sông Trà Bồng

Quảng Ngãi có ba sông chính là sông Trà Khúc, sông Trà Bồng và sông Vệ; trong đó sông Trà Bồng có ảnh hưởng lớn tới khu vực nghiên cứu và là nguồn cung cấp nước ngọt chủ lực cho khu vực.

Bảng 2.3 - Các đặc trưng thuỷ văn của sông Trà Bồng

Các đặc trưng thuỷ văn Sông Trà Bồng

Diện tích lưu vực (km 2 ) 697

Mật độ (km/km 2 ) 0,43 Lưu lượng (m 3 /s) 20,02

Mô đun dòng chảy (l/s.km 2 ) 4

(Nguồn: Viện Kỹ Thuật Nhiệt đới và Bảo vệ môi trường TP HCM, 2000)

Sông Trà Bồng nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi, bắt nguồn từ vùng núi cao phía Tây, chảy qua hai huyện Trà Bồng và Bình Sơn rồi đổ ra vịnh Dung Quất; thượng nguồn là khu vực núi cao, rừng rậm và hệ thống rừng đầu nguồn được bảo vệ tốt Sông có hai nhánh với tổng chiều dài khoảng 45 km, chủ yếu đi qua vùng núi có độ cao 200–1300 m so với mực nước biển; một nhánh chảy qua vùng đất thấp với địa hình đồi núi và đồi cát xen kẽ ở cao độ 10–40 m theo hướng Nam–Bắc Khi có mưa lớn ở thượng nguồn, sông Trà Bồng thường xảy ra lũ lụt.

Cửa sông Trà Bồng ở Vịnh Dung Quất bị chắn bởi Hòn Ông nên chia thành hai nhánh trước khi đổ ra biển là nhánh Đông và nhánh Tây; lưu lượng nước ở nhánh Đông thấp hơn nhiều so với nhánh Tây, chủ yếu do nhánh Tây có độ sâu lớn hơn và tại cửa sông nhánh Đông có một bãi cát ngầm ngăn cản dòng chảy vào vịnh Dung Quất; nhìn chung, cửa sông Trà Bồng tương đối hẹp và thay đổi theo từng năm.

Lượng phù sa trung bình hằng năm từ nước sông Trà Bồng không lớn, chủ yếu tập trung vào mùa mưa và đầu mùa khô Nguyên nhân là thượng nguồn được bảo vệ tốt bởi hệ thống rừng đầu nguồn nên hiện tượng xói mòn rất nhỏ Do vậy, bồi đắp phù sa tại cửa sông và vịnh Dung Quất hàng năm ở mức không đáng kể.

 Vùng cảng biển Dung Quất

Nằm ở phía Đông Bắc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, khu vực này là nơi đón lượng dòng chảy hàng năm từ lưu vực sông Trà Bồng đổ về, khẳng định vai trò then chốt về kinh tế, quốc phòng và an ninh của cả nước Chế độ khí tượng thủy văn ở đây có những đặc điểm cơ bản tương đồng với vùng ven biển từ Quảng Nam Đà Nẵng đến Quảng Ngãi, cho thấy sự liên kết chặt chẽ về diễn biến thời tiết và thủy văn, đồng thời đòi hỏi các giải pháp quản lý nguồn nước, dự báo nhằm phát triển bền vững và ứng phó với rủi ro thiên tai.

Ngãi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiều mặt thuận lợi cho phát triển nhưng bị chi phối bởi điều kiện địa hình và đặc điểm tự nhiên Những yếu tố này tạo nên đặc thù khí hậu thủy văn khu vực có phần bất lợi, thể hiện ở tính khắc nghiệt và mức độ thiên tai cao hàng đầu Việt Nam Những hiện tượng thiên tai và thiệt hại liên quan gây ảnh hưởng đến đời sống dân sinh và nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của khu vực.

Thủy triều vùng biển Dung Quất - Quảng Ngãi theo chế độ triều hỗn hợp, kết hợp nhật triều và bán nhật triều không đều Điều này có nghĩa là trong tháng có những ngày chỉ có một lần triều lên và một lần triều xuống, tạo ra một đỉnh triều và một chân triều; và cũng có những ngày có hai lần triều lên và hai lần triều xuống với biên độ không bằng nhau, tạo ra hai đỉnh triều và hai chân triều có biên độ khác nhau Chế độ này ảnh hưởng đến hoạt động hàng hải, neo đậu tàu và khai thác hải sản tại vùng biển Dung Quất, đòi hỏi dự báo thủy triều chính xác để lên lịch cho tàu thuyền và các hoạt động ven biển.

2 chân và 2 đỉnh, trong đó có 1 đỉnh cao nhất và 1 chân thấp nhất (bán nhật triều) Nhìn chung dạng nhật triều chiếm ưu thế

Vùng biển cảng Dung Quất có biên độ triều không lớn, thường từ khoảng 1 - 1.5 m, vào kỳ triều cường biên độ triều lớn nhất có thể từ 1.6 - 2m

Dòng chảy của vịnh luôn biến đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng của các chế độ thuỷ triều, dòng hải lưu và áp thấp nhiệt đới Trong đó, chế độ thuỷ triều và dòng hải lưu đóng vai trò là hai yếu tố quyết định chính, định hình hướng và cường độ của dòng chảy ven vịnh Việc hiểu rõ sự biến động này giúp dự báo biến động biển và tối ưu hóa quản lý tài nguyên ven biển.

Hiện tượng nước dâng có ảnh hưởng lớn đến các công trình ven bờ và khu vực đất ven biển, khi nước dâng cao sẽ gây ra tác động xấu và làm nhiễm mặn một vùng đất rộng ven bờ Hiện tượng này có thể xuất phát từ tác động của gió mùa hoặc do bão gây nên Mực nước dâng do gió mùa khoảng 0,5 m, còn mực nước dâng do bão gây nên có thể đạt tới 1,5–3 m tùy thuộc vào tốc độ của bão.

Ở khu vực Vịnh Dung Quất, các điều kiện thời tiết bất thường như giông, bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa có thể gây hiện tượng nước dâng kéo dài Quy mô và thời gian nước dâng phụ thuộc vào mức độ và thời gian ảnh hưởng của từng yếu tố thời tiết, vì vậy việc theo dõi dự báo khí tượng thủy văn là cần thiết để lên kế hoạch ứng phó và giảm thiểu rủi ro cho cộng đồng và hoạt động kinh tế ven biển.

Tài nguyên sinh v ật

Hệ sinh thái trên cạn của khu vực Dung Quất khá đa dạng về loài thực vật nhưng nghèo nàn về động vật hoang dã

Hệ thực vật tại khu vực Dung Quất rất đa dạng và phong phú, gồm khoảng 455 loài thuộc 314 chi và 112 họ Những loài thực vật ở đây được phân bố chủ yếu theo một số kiểu sinh thái khác nhau, phản ánh sự đa dạng sinh học và giá trị sinh thái của khu vực.

 Hệ sinh sinh thái bãi cát ven biển

Trong hệ sinh thái ven biển, các loài thực vật tiêu biểu có khả năng thích nghi cao với điều kiện môi trường khắc nghiệt như gió mạnh, muối và đất cát Điểm nhấn tiêu biểu là các loài cỏ có khả năng sống sót trước sóng và cát ven bờ, chẳng hạn cỏ lông chông (Spinifex littoreus) và cỏ quắm xanh, vừa chịu hạn vừa chịu mặn và tham gia tạo tầng che phủ giúp giữ ổn định bãi cát và bảo vệ bờ biển khỏi xói mòn Những loài này có hệ rễ mạnh và mạng lưới rễ phong phú, thích nghi với gió biển, góp phần duy trì cân bằng của hệ sinh thái ven biển và cung cấp nơi cư trú cho các loài động vật tiểu hệ.

Ở vùng ven biển, hệ thực vật gồm Fimbristylis sericea, rau muống biển (Ipomoea pes-caprae) và các cây bụi thấp như từ bi biển (Vitex trifolia), bồng bồng (Calotropis procera) và dứa dại (Pandanus tectorius) đóng vai trò then chốt trong cố định cát, hạn chế xói mòn và chống lại tác động của thủy triều, sóng và gió cát vùng ven biển.

 Hệ sinh thái đồi đụn cát hoang

Đồi cát ven biển có độ cao từ 5 đến 15 m, cách bờ biển khoảng 10 đến 15 m, và được đặc trưng bởi hệ thực vật bao gồm nhiều loài cây bụi thấp, trong đó có loài chành chành Sự hiện diện của các cây bụi này giúp ổn định đất, chống xói mòn và tạo nên một hệ sinh thái ven biển đặc trưng cho khu vực.

(Dodonaea viscosa), dây chìu (Tetracera scanden), bồ cu rẽ (Breynia fruticosa)…;

Trảng cỏ thưa thớt gồm các loài cỏ như cỏ lông dài (Eragrostis aloperuroide) và cỏ quắm xanh (Fimbristylis sericea), cùng với một số cây trồng lớn như phi lao (dương liễu) (Casuarina equisetifolia) và bạch đàn (Eucalyptus globulus) Sự kết hợp giữa thảm cỏ và các loại cây này tạo nên hệ sinh thái đặc trưng của khu vực ven biển, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ đất, cải thiện đa dạng sinh học và cung cấp dịch vụ sinh thái cho cộng đồng địa phương Việc nắm bắt thành phần loài và mức độ che phủ giúp đề xuất các chiến lược quản lý đất đai hiệu quả, bảo tồn cảnh quan và tăng cường khả năng phục hồi trước biến đổi khí hậu.

 Hệ động vật trên cạn

Hệ động vật tại Dung Quất có số lượng loài và số lượng cá thể trong mỗi loài không lớn, ước tính khoảng 94 loài được ghi nhận Nguyên nhân chủ yếu là điều kiện tự nhiên của khu vực rất khắc nghiệt và thảm thực vật tương đối thưa thớt Phân bố của các loài không đồng đều, tập trung nhiều ở những khu vực có thảm thực vật đa dạng và có nguồn thức ăn dồi dào.

Phiêu sinh động vật tại các sông và hồ

Tại sông Trà Bồng, động vật phù du gồm 16 loài với mật độ khoảng 4.294 con/m³; trong đó nhóm giáp xác chân chèo chiếm ưu thế với 13 loài và mật độ khoảng 3.905 con/m³.

Tại hồ Hà Đầm: Số loài động vật phù du là 9 loài với mật độ đạt giá trị khoảng 10.750 con/m

Ngoài ra còn kể đến một số loài khác như : ấu trùng giáp xác, vỏ bao, tôm bơi nghiêng.

Ba nhóm được xác định, gồm 5 loài thuộc loại phụ giáp xác chân chèo có mật độ cao nhất, đạt khoảng 8.999 con/m³; 1 loài thuộc trùng bánh xe có mật độ thấp nhất, đạt khoảng 375 con/m³; và 1 loại ấu trùng giáp xác có mật độ 1.000 con/m³.

Phiêu sinh động vật tại vịnh Dung Quất và vịnh Việt Thanh

Ở vịnh Dung Quất, động vật phù du có sự đa dạng khá cao với khoảng 26 loài và mật độ trung bình 5.602 con/m³ Trong đó giáp xác chân nghèo chiếm ưu thế với khoảng 18 loài và mật độ 4.347 con/m³.

Tại vịnh Việt Thanh: Có khoảng 23 loài động vật phù du với mật độ trung bình tương đối thấp, khoảng 1.836 con/m

Ngoài các loài chính được ghi nhận, còn có một số loài khác như bao đầu, ấu trùng giáp xác, ấu trùng thân mềm và vỏ bao; mật độ của từng loài này vẫn ở mức thấp, cho thấy chúng phân bố không đều và đóng góp sinh thái của chúng không lớn bằng các loài chủ lực.

3, trong đó giáp xác chân chèo chiếm ưu thế với 15 loài và mật độ khoảng 1.344 con/m 3

PHÁT TRI ỂN XÃ HỘI

2.2.3 Tốc độ gia tăng dân số

Trong 6 tháng đầu năm 2008, tốc độ gia tăng dân số tự nhiên của 7 xã trên địa bàn KKT Dung Quất (bao gồm: Bình Hoà, Bình Trị, Bình Hải, Bình Thuận, Bình Đông, Bình Thạnh và Bình Chánh) tương đối cao (0,78%) Cụ thể như sau: xã Bình Đông là 0,55%; xã Bình Hoà là 0,55%; xã Bình Chánh là 0,58%; xã Bình Thuận là 1,43%, xã Bình Hải là 0,79%, xã Bình Trị là 0,96%, xã Bình Thạnh là 0,61% ).

Hiện nay, Khu kinh tế Dung Quất đang trên đà tăng tốc phát triển với nhiều dự án lớn đang thi công như Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nhà máy công nghiệp nặng Doosan Việt Nam, nhà máy thép Tycoon và nhà máy đóng sửa tàu thủy Dung Quất Vinashin Lượng lớn chuyên gia, kỹ sư và công nhân đổ về KKT Dung Quất góp phần gia tăng dân số tại các xã thuộc khu vực này Dự báo đến năm 2015, dân số tại KKT Dung Quất sẽ đạt khoảng 115.000 – 120.000 người.

Trong bối cảnh dân số tự nhiên gia tăng, địa phương đối mặt với áp lực lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội, từ việc giải quyết công ăn việc làm đến cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản Dòng người sinh sống và làm việc trên địa bàn 7 xã thuộc Khu kinh tế Dung Quất đang tăng lên đáng kể, tập trung chủ yếu tại các xã có dự án lớn như Bình Thuận, Bình Trị và Bình Đông Những hoạt động này có tác động đáng kể đến môi trường, nổi bật là ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm do chất thải sinh hoạt Do đó, việc quản lý nguồn nước, xử lý chất thải và cân bằng phát triển KT-XH đòi hỏi các giải pháp đồng bộ để đảm bảo phát triển bền vững cho địa phương. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Hỗ trợ phát triển bền vững địa phương với giải pháp quản lý môi trường từ Pollinations.AI—[Ủng hộ sứ mệnh](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để duy trì AI miễn phí cho cộng đồng.

2.2.4 Diễn biến đô thị hoá

Theo quy hoạch của Ban quản lý KKT Dung Quất, trên địa bàn có hai khu đô thị lớn là Khu đô thị mới Vạn Tường (2.400 ha) và Khu đô thị Nam Dốc Sỏi Đặc biệt, Khu đô thị mới Vạn Tường được định hướng thành khu đô thị công nghiệp, thương mại, tài chính, văn hóa và du lịch - dịch vụ phục vụ cho KKT Dung Quất, quy hoạch theo chuẩn hiện đại với dân số lên tới 100.000 người vào năm 2010 và 200.000 người vào năm 2020 Thành phần dân cư chủ yếu là cán bộ, chuyên gia và công nhân lao động làm việc tại Dung Quất, cùng khoảng 20.000 người dân địa phương.

Hiện nay, Khu đô thị Vạn Tường được đầu tư xây dựng với cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tiện ích xã hội rất tốt; hệ thống đường giao thông tương đối hoàn thiện và Bệnh viện Dung Quất đã đi vào hoạt động từ tháng 3 năm 2007, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho cán bộ - chuyên gia, công nhân trong và ngoài nước đang làm việc tại các doanh nghiệp trong KKT Dung Quất và dân cư trong vùng.

Khu nhà ở cho các chuyên gia, kỹ sư đang thi công cho dự án Nhà máy lọc dầu Dung

Quất đã đi vào hoạt động vào cuối năm 2006 và đầu năm 2007, với Trung tâm Truyền hình và Văn hóa – Thể thao được thành lập nhằm phục vụ đời sống tinh thần của cư dân trong khu đô thị và các vùng phụ cận; Trường Cao đẳng Dung Quất cũng góp phần vào hệ thống giáo dục và đào tạo của khu vực.

2.2.3 Tình hình di dân, tái định cư của các hộ dân trong KKT Dung Quất và thực trạng đời sống của các hộ dân này đào tạo nguồn nhân lực bước đầu đã nhằm đáp ứng nhu cầu lao động trong KKT Dung Quất Bên cạnh đó, nhiều dự án đang triển khai trên địa bàn Khu đô thị mới Vạn Tường như sân tập chơi golf do Tập đoàn Vinashin đầu tư; khu thương mại, dịch vụ và khu nhà ở cho cán bộ chuyên gia, công nhân vận hành Nhà máy lọc dầu đã khởi công vào tháng 6 năm 2007 và các dự án du lịch, dịch vụ khác.

KKT Dung Quất đang đẩy mạnh đầu tư và đẩy nhanh tiến độ xây dựng các hạng mục công trình của các dự án tại khu vực này Tại KCN phía Đông Dung Quất, các dự án lớn đồng loạt triển khai với diện tích mặt bằng rất lớn và quy mô đầu tư đáng kể Vì quy mô dự án lớn nên số hộ dân nằm trong khu vực ảnh hưởng phải di chuyển chỗ ở Do đó, việc xây dựng các khu tái định cư cần được quan tâm đúng mức nhằm ổn định cuộc sống cho các hộ dân thuộc diện phải di dời Việc bố trí khu tái định cư hợp lý sẽ đồng hành với tiến độ dự án, đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế cho khu vực.

Kể từ năm 2002 đến nay, Ban quản lý KKT Dung Quất đã và đang xây dựng nhiều khu tái định cư để phục vụ cho việc giải toả Tuy nhiên, việc xây dựng và bố trí tái định cư ở các khu này còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến đời sống của các hộ dân trong diện di dời, như điều kiện ăn ở và sinh hoạt còn thiếu thốn và đắt đỏ Đến nay đã xây dựng được 9 khu tái định cư với diện tích 86,756 ha, tổng số lô là 2.017 lô; đã cấp được 1.420 lô, còn lại 597 lô; chi tiết cụ thể từng khu đang được cập nhật để đảm bảo quyền lợi người dân và tiến độ giải toả.

Bảng 2 4 – Tình hình di dân và tái định cư

Theo thiết kế Đã cấp Còn lại

1 Khu dân cư Mẫu Trạch 2,35 67 30 37

2 Khu dân cư Trung Minh 11,676 302 0 302

3 Khu dân cư Tây Trà Bồng 24,774 567 576 0

4 Khu dân cư Bình Đông mở rộng 8,6 223 116 107

5 Khu dân cư Đồng Rướng (giai đoạn I) 1,78 49 0 49

6 Khu dân cư Bình Thuận 16,8 308 308 0

7 Khu dân cư Trảng Bông mở rộng 7,47 110 52 58

9 Khu dân cư Tây Bắc Vạn Tường 11,32 331 331 0

(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện công tác bồi thường GPMB và tái định cư của BQL Khu kinh tế Dung Quất – 2007)

Trong khi các khu tái định cư khác có tỷ lệ lấp đầy thấp bất chấp nhu cầu tái định cư của người dân rất lớn, điều này cho thấy công tác tái định cư còn tồn tại nhiều bất cập Nhiều hộ dân khi đến nơi ở mới phải đối mặt với nhiều khó khăn do những bất cập ấy.

PHÁT TRI ỂN KINH TẾ

2.3.1 Tình hình đầu tư vào KKT Dung Quất

Trong thời gian gần đây, đặc biệt là cuối năm 2007 và đầu năm 2008, Khu kinh tế Dung Quất bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển với hàng loạt dự án lớn được triển khai xây dựng, nổi bật là Nhà máy lọc dầu Dung Quất và dự án công nghiệp nặng Doosan Các hoạt động này cho thấy vai trò ngày càng rõ của KKT Dung Quất trong thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp khu vực, đồng thời mở ra nhiều cơ hội việc làm và đẩy mạnh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng của miền Trung.

Việt Nam chứng kiến sự tập trung vốn và nhân lực tại Khu kinh tế Dung Quất nhờ các dự án lớn như Nhà máy đóng tàu Dung Quất và dự án thép Tycoon, thu hút lượng lớn chuyên gia, kỹ sư và công nhân từ khắp miền đất nước và nước ngoài Điều này khiến cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành kinh tế chủ yếu (công nghiệp – xây dựng, dịch vụ, nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản) chiếm trên 90%.

Trong 6 tháng đầu năm 2008, Ban quản lý KKT Dung Quất đã cấp chứng nhận và chấp thuận đầu tư cho 33 dự án, với tổng vốn đăng ký đầu tư 8.211,5 tỷ đồng (tương đương 500 triệu USD); trong đó, cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 13 dự án, vốn đăng ký đầu tư 1.635,5 tỷ đồng Đến tháng 6/2008, tại KKT Dung Quất có 41 dự án hoạt động sản xuất kinh doanh, 24 dự án đang triển khai xây dựng, 32 dựán đang thực hiện đền bù - giải phóng mặt bằng; cấp phép và chấp thuận đầu tư cho 161 dự án, với tổng vốn đăng ký trên 10 tỷ USD (trong đó, cấp phép 103 dự án, với tổng vốn đăng ký đầu tư 6,91 tỷ USD; chấp thuận đầu tư 58 dự án, với tổng vốn đăng ký 3,32 tỷ USD) Ngoài ra, có 02 dự án đầu tư xin rút lui: Công ty Full Poweer: 16 triệu USD (đầu tư nhà máy kết cấu thép) và Công ty cổ phần Nam Á: 300 tỷ đồng (đầu tư nhà máy sản xuất sợi tổng hợp).

Bên cạnh đó, công tác xúc tiến và quảng bá đầu tư cũng được Ban quản lý KKT Dung

Quảng bá và xúc tiến đầu tư cho KKT Dung Quất được thực hiện tập trung, nhấn mạnh kêu gọi nguồn vốn từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia và Singapore cho các dự án quy mô lớn thuộc các lĩnh vực luyện cán thép, du lịch - dịch vụ, chế tạo thiết bị cho công nghiệp nặng và dịch vụ kho vận Đến nay, KKT Dung Quất đã đón 33 lượt đoàn doanh nghiệp đến khảo sát và tìm hiểu cơ hội đầu tư, trong đó có 25 doanh nghiệp nước ngoài, cho thấy sự quan tâm ngày càng mạnh mẽ từ các nhà đầu tư quốc tế Bên cạnh đó, khu kinh tế này đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan thông tin truyền thông như Báo Đầu tư, Báo Vietnam New và Vietnam Investment Review để tuyên truyền, quảng bá về tiềm năng và cơ hội đầu tư tại KKT Dung Quất.

Theo QĐ số 140/2005/QĐ-UBND ngày 31/12/2005 của Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể môi trường KKT Dung Quất giai đoạn

2005 – 2010 và định hướng đến năm 2020 thì KKT Dung Quất được quy hoạch thành

7 vùng môi trường gắn kết với đặc thù phát triển của từng vùng, cụ thể như sau:

- Vùng môi trường KCN phía Đông.

- Vùng môi trường KCN phía Tây

- Tiểu vùng môi trường khu dân cư và chuyên gia Thành phố Vạn Tường.

- Tiểu vùng môi trường khu Trung tâm phía Bắc Thành phố Vạn Tường.

- Tiểu vùng môi trường khu Trung tâm phía Nam Thành phố Vạn Tường.

- Vùng môi trường khu du lịch sinh thái Thành phố Vạn Tường.

- Tiểu vùng môi trường các khu dân cư, các khu dân cư trong KCN phía Đông, khu vực ven đô.

Bảng 2.5 – Tình hình phát triển các khu công nghiệp

Các ngành sản xuất chính

1 - Khu công nghiệp Đông Dung Quất

- Tổng số lao động khoảng 12.052 người

Cụm công nghiệp lọc dầu công suất 6,5 triệu tấn/năm (375 ha) là trục chính của khu vực, liên kết với các cụm công nghiệp khác như hoá dầu và hoá chất (250 ha); đóng tàu (250 ha); cơ khí cán thép (197 ha); luyện cán thép (455 ha) Liên hợp công nghiệp nặng Doosan (110 ha, kể cả cảng chuyên dùng) mở rộng quy mô sản xuất và logistics, bổ sung công nghiệp vật liệu xây dựng (31 ha) và kho tàng (95 ha), hình thành một chuỗi giá trị công nghiệp đồng bộ và bền vững.

- Tỷ lệ diện tích cây xanh từ 15 – 20%

- Chưa có hệ thống xử lý nước thải chung

- Chưa có hệ thống xử lý khí thải

- Tỷ lệ đã lấp đầy khoảng 60%

-Tổng số lao động khoảng 8.766 người

Công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, cơ khí, điện tử, vi điện tử, tự động hoá, lắp ráp, hàng dân dụng, sản xuất hàng tiêu dùng

- Tỷ lệ diện tích cây xanh từ 15 – 20%

- Chưa có hệ thống xử lý nước thải chung nhưng tại Phân Khu công nghiệp Sài Gòn – Dung Quất đã xây dựng trạm xử lý nước thải

- Đã có ở từng nhà máy riêng biệt

- Tỷ lệ đã lấp đầy khoảng 80%

3 - Khu công nghệ caovà công nghiệp kỹ thuật cao

Là khu vực thử nghiệm, chuyển giao và áp dụng công nghệ cao trong sản xuất, bố trí lại phía

Nam lâm viên Vạn Tườn g, phía Đông trục đường Bắc - Nam

- Tỷ lệ diện tích cây xanh từ 15 – 20%

- Chưa có hệ thống xử lý nước thải chung

- Tổng số lao động khoảng 500 người

- Chưa có hệ thống xử lý khí thải

- Tỷ lệ đã lấp đầy 0%

(Nguồn: Quyết định 1056/QĐ-TTg ngày 16/8/2007 và số liệu của Ban quản lý KKT Dung Quất về việc cấp phép đầu tư)

2.3.2 Một số dự án lớn đã đầu tư tại KKT Dung Quất

Hiện nay, Khu Công nghiệp phía Tây, Khu Công nghiệp phía Đông và Phân khu công nghiệp Sài Gòn – Dung Quất thuộc KKT Dung Quất thu hút số lượng lớn dự án được cấp phép đầu tư, nhưng số lượng nhà máy đi vào hoạt động và duy trì hoạt động ổn định còn rất ít Tính đến tháng 1 năm 2008, chỉ có một số nhà máy đã xây dựng xong và đang hoạt động.

Bảng 2.6 – Danh sách các nhà máy đã xây dựng và hoạt động

TT Tên nhà máy, xí nghiệp Năm thành lập

1 Nhà máy đóng, sửa tàu biển Trước 2003 118,3 6.000

2 NMXS than lọc nước thải và bê tông khô 2003 4 42

3 NM chế tạo thiết bị Dung Quất Trước 2003 9 5.240

4 NM nước Dung Quất GĐ1 Trước 2003 16,8 48

5 NM SX cấu kiện bê tông Phan Vũ Trước 2003 6,4 238

6 NM sản xuất gạch Block Trước 2003 3,5 40

7 NM sản xuất gạch Dung Quất 2 Trước 2003 4 168

8 Dự án khu sản xuất phụ trợ Trước 2003 4 68

9 NM sản xuất bê tông DQ Trước 2003 1 60

10 Dự án sản xuất nguyên liệu giấy Trước 2003 5,2 265

11 NM chế biến lâm sản xuất khẩu Trước 2003 3,6 400

12 Dự án dịch vụ và chế biến thức ăn nhanh Trước 2003 0,9 46

13 Dự án NM chế biến gỗ 2003 3,35 500

15 Khu nhà ở Công nhân (Công ty PTHT

16 NM rượu bia Thành Đô 2004 2,6 120

17 NMSX chế biến khoáng sản xuất khẩu 2004 5,5 210

18 NM chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu 2004 3 296

19 NM chế biến gỗ và lâm sản Kim Thành

20 Khu du lịch sinh thái Thiên Đàng 2004 106,9 400

21 NM chế biến gỗ XK 2004 3,9 290

22 NM chế biến gỗ XK Tam Minh 2004 2,8 271

23 NM chế biến gỗ XK Tân Thành – Dung

24 NM may xuất khẩu Việt Mỹ 2005 3 2.000

25 NM cơ khí và chế tạo thiết bị Chiến

26 NM sản xuất cấu kiện thép và dây điện 2005 1,34 216

27 Hệ thống kho - bãi ngoại quan 2005 5,7 59

28 NM bê tông ly tâm ứng lực 2005 3 210

29 NM may xuất khẩu Việt - Nhật 2005 3,2 954

30 Khu dịch vụ Dung Quất 2005 1,4 110

31 CTTNHH Aden Services Miền Trung 2006 2,4 78

(Nguồn:Trang Web của Ban quản lý KKT Dung Quất)

Hầu hết các nhà máy, xí nghiệp vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp đầy đủ Trong số còn lại, một vài cơ sở có hệ thống xử lý nước thải nhưng chủ yếu ở mức sơ bộ và chỉ áp dụng các phương pháp xử lý cơ học, nổi bật là lắng và lọc cơ học.

Hiện nay chỉ có Phân khu công nghiệp Sài Gòn-Dung Quất đã đưa vào sử dụng trạm xử lý nước thải tập trung với công suất 5.000 m³/ngày đêm, giai đoạn I đạt 2.500 m³/ngày đêm Dưới đây là một số dự án lớn xả nước thải ra sông Trà Bồng sau xử lý.

Nhà máy Đóng tàu Dung Quất nằm ven bờ vịnh Dung Quất, bờ phải sông Trà Bồng; đây là cơ sở đóng tàu quan trọng của khu vực ven biển Quảng Ngãi Với diện tích hơn 100ha, nhà máy gồm 4 hạng mục công trình được xây dựng để phục vụ quy trình đóng tàu và các dự án liên quan.

+ Nhà máy công nghiệp tàu thuỷ (đóng và sửa chữa mới tàu biển)

+ Nhà máy phá dở tàu cũ

+ Nhà máy sản xuất thép

+ Nhà máy sản xuất nhiệt điện

Hình 2.1- Công trường thi công tại Nhà máy đóng tàu Dung Quất

Trong một nhà máy có 15.000 người lao động và mỗi người thải ra 60 lít nước thải sinh hoạt, tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh sẽ là 900 m3 (15.000 x 60 L = 900.000 L = 900 m3).

Tổng lượng nước thải sản xuất của các phân xưởng này dự tính khoảng 300 m

Nước thải từ Nhà máy đóng tàu được xử lý qua hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra Vịnh Dung Quất, nên ít ảnh hưởng đến nước sông Trà Bồng Tuy nhiên, khi thuỷ triều lên sẽ gây ô nhiễm tại hai khu vực: cửa sông Trà Bồng và nước biển trong khu vực vịnh Dung Quất.

Hoạt động của Nhà máy đóng và sửa chữa tàu biển sẽ làm tăng mật độ tàu thuyền ra vào khu vực cửa sông Trà Bồng và vịnh Dung Quất, dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh thái thuỷ sinh tại khu vực này Sự gia tăng lưu lượng tàu thuyền cũng làm tăng nguy cơ va chạm và các sự cố tràn dầu trên sông và trong Vịnh Dung Quất, đồng thời đe dọa chất lượng và đa dạng sinh học của khu vực.

 Phân khu công nghiệp Sài Gòn – Dung Quất

Phân khu công nghiệp Sài Gòn – Dung

Quất nằm ở phía tây sông Trà Bồng thuộc địa phận hai xã Bình Thạnh và

Bình Chánh huyện Bình Sơn tỉnh

Quảng Ngãi.Với qui mô 108 ha và có vị trí thuận lợi, Phân khu công nghiệp Sài

Khu công nghiệp Gòn – Dung Quất dự kiến sẽ thu hút mạnh các nhà đầu tư với đa dạng loại hình công nghiệp như dệt may, chế biến nông sản xuất khẩu, nhựa, da giày và hóa mỹ phẩm Đây được xem là động lực phát triển kinh tế cho vùng, đồng thời đòi hỏi giải pháp quản lý môi trường nghiêm ngặt để khai thác tối đa tiềm năng Về mức độ ô nhiễm, khu công nghiệp được đánh giá là ô nhiễm vừa, đặt ra yêu cầu đầu tư hệ thống xử lý chất thải và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nhằm đảm bảo phát triển bền vững.

Tổng lưu lượng nước thải của khu công nghiệp dự tính là 4.500 – 5.000 m 3

 Cầu cảng cá sông Trà Bồng

/ngày tính bằng 80% nước cấp.

Cảng cá sông Trà Bồng phục vụ tái định cư được xây dựng trên bờ sông Trà Bồng, cách cửa biển Sa Cần khoảng 2 km và cách cầu Trà Bồng khoảng 0,5 km về phía Nam, cách thành phố Quảng Ngãi 40 km về phía Bắc.

+ Phía Bắc giáp đất ven sông, cách cầu Trà Bồng khoảng 500m.

+ Phía Nam giáp khu tái định cư phía Đông sông Trà Bồng.

+ Phía Đông giáp với Vũng Cảm thôn Tân Hy

+ Phía Tây giáp sông và khu dân cư Tây sông Trà Bồng

Các hạng mục công trình của cảng gồm bến cập tàu, nhà tiếp nhận thủy sản, xưởng nước đá và kho trữ đá, hệ thống cấp xăng dầu, hệ thống cấp nước ngọt, hệ thống cấp điện, xưởng sơ chế và kho trữ lạnh, kho lương thực, thực phẩm và ngư cụ kiêm cửa hàng, nhà văn phòng quản lý cảng, căn tin dịch vụ văn hóa và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật khác Lượng tàu thuyền thu hút dự kiến chiếm 70% tổng số tàu thuyền đánh bắt của huyện Bình Sơn, phục vụ thường xuyên khoảng 1.020 tàu các loại Tuy nhiên, khi cầu cảng cá đi vào hoạt động mà không chú trọng đầu tư hệ thống xử lý nước thải và rác thải sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; các chất thải ở đây chủ yếu ở dạng rắn và lỏng, đều có mùi hôi nồng Trên bờ bị ô nhiễm do quá trình sơ chế, vệ sinh hải sản xả ra, nước thải do tẩy rửa mặt cầu cảng và chợ cá Đồng thời khu vực này còn chịu ô nhiễm từ tàu thuyền đánh cá thải ra như xăng, dầu và nước rửa tàu Đánh giá chung cho thấy cần có biện pháp đồng bộ để bảo vệ môi trường và đảm bảo hoạt động bền vững của cảng.

T ẦM QUAN TRỌNG CỦA NƯỚC SÔNG TRÀ BỒNG ĐỐI VỚI YÊU CẦU PHÁT TRI ỂN KT - XH T ẠI KKT DUNG QUẤT

Trữ lượng nước ngầm ở khu vực Dung Quất khá nghèo, khiến việc khai thác nước ngầm để phục vụ công nghiệp gặp khó khăn Vì vậy, nguồn nước cấp chính cho Khu kinh tế Dung Quất (KKT Dung Quất) sẽ được lấy từ sông Trà Bồng Nhờ vào tiềm năng kinh tế của sông Trà Bồng, dòng sông này được xem có ảnh hưởng lớn, đặc biệt đối với một số lĩnh vực và ngành nghề kinh tế quan trọng của khu vực.

 Cung cấp nước cho các ngành công nghiệp

Trà Bồng là nguồn cung cấp nước ngọt chủ yếu cho các hoạt động công nghiệp ở KKT

Dung Quất Với hàng trăm dự án đang hoạt động và triển khai xây dựng thì nhu cầu nước cần dùng là rất lớn.

 Cung cấp nước tưới tiêu

Cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp với 975 ha đất canh tác trên toàn lưu vực.

Cung cấp nước cho hàng trăm cánh đồng lúa, nước cho các cây hoa màu: bắp, đậu nành, đậu phộng…

Các công trình khai thác nguồn nước từ sông Trà Bồng cung cấp nước thuỷ lợi.

 Phục vụ nuôi trồng thủy sản

Phía Bắc và Đông của vùng giáp Biển Đông, cùng với diện tích mặt nước ngọt lớn, đã hình thành ngành thủy sản là thế mạnh của vùng Ngành thủy sản trong vùng được chia thành hai lĩnh vực chính.

Nghề đánh bắt hải sản:

Toàn vùng có 5.564 hộ sống bằng nghề đánh bắt hải sản, chiếm 20,9% tổng số hộ trong vùng Trong đó các xã thuộc KKT Dung Quất có 4.611 hộ, các xã vùng ven có 1013 hộ.

Sản lượng đánh bắt thủy sản trong toàn vùng năm 2007 là 23.871 tấn

Nghề nuôi trồng thủy sản:

Tổng số hộ trong vùng làm nghề nuôi trồng thủy sản năm 2007 là 628 hộ Các xã trong Khu kinh tế Dung Quất là 147 hộ, các xã vùng ven 481 hộ.

Diện tích nuôi trồng thủy sản trên toàn vùng là 183.5 ha Trong đó, diện tích nuôi tôm là 154 ha, chiếm 83,9% diện tích nuôi trồng

Việc nuôi trồng thuỷ sản phát triển nhưng chưa theo quy hoạch, chưa áp dụng đúng khoa học kỹ thuật nên dịch bệnh thường xuyên xảy ra làm giảm năng suất, ảnh hưởng đến môi trường.

 Dịch vụ du lịch, cảnh quan môi trường

Vùng quy hoạch này có tiềm năng du lịch rất lớn nhờ những danh lam thắng cảnh như Bãi biển Khe Hai, cửa biển Sa Cần và mũi Ba Tân Gân, cùng các khu di tích lịch sử chống Mỹ như Địa đạo Đúm Toái và chiến thắng Vạn Tường, phù hợp cho du lịch biển, du lịch lịch sử và du lịch sinh thái Bãi biển Khe Hai đang được đầu tư để trở thành khu du lịch Thiên Đàng, trong khi các địa danh khác vẫn giữ được vẻ hoang sơ chưa được khai thác Việc tận dụng hệ thống sông, suối ở khu vực để phát triển khu du lịch sinh thái với các hoạt động như bơi thuyền và câu cá có thể mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể và tăng thu nhập cho người dân địa phương.

Bên cạnh đó, sông Trà Bồng đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì mực nước ngầm trên toàn khu vực Nguồn nước ngầm tại Dung Quất có trữ lượng rất thấp và hiện nay nguồn nước ngầm được các hộ dân tự khai thác để phục vụ sinh hoạt, khiến trữ lượng và mực nước ngầm ngày càng giảm.

TÁC ĐỘNG CHÍNH TỪ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KT –

NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP – TI ỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

Nước thải trong Khu kinh tế được tạo ra từ các nguồn sau:

- Nước mưa thu gom trên toàn bộ diện tích của KCN

- Nước thải sinh hoạt của toàn bộ số người lao động trong KCN

Nước thải công nghiệp được phát sinh từ các quá trình sản xuất khác nhau của các nhà máy trong KCN, trong đó có Phân khu Công nghiệp Sài Gòn - Dung Quất Nguồn gốc nước thải này rất đa dạng và bắt nguồn từ nhiều hoạt động của nhà máy, bao gồm nước làm mát và nước ngưng, nước thải từ các quy trình sản xuất, nước rửa dụng cụ và khu vực sản xuất, nước vệ sinh khu vực làm việc và bảo trì thiết bị, cũng như nước mưa xâm nhập và nước rò rỉ từ hệ thống đường ống Nguồn nước thải sẽ phụ thuộc vào đặc tính sản xuất của từng nhà máy và có thể chứa các chất ô nhiễm như dầu, kim loại và hợp chất hữu cơ, do đó cần được đánh giá và xử lý phù hợp trước khi thải ra môi trường.

+ Nước rửa nguyên liệu, sản phẩm, thiết bị.

+ Nước ở dạng ẩm tự do và liên kết trong nguyên liệu và các chất ban đầu được tách ra qua quá trình chế biến.

Trong quy trình sản xuất công nghiệp, có nhiều loại nước khác nhau cần quản lý và xử lý hiệu quả Các nguồn nước điển hình bao gồm nước bơm chân không, nước từ thiết bị ngưng tụ hòa trộn, nước từ hệ thống thu hồi tro ướt, nước rửa bao bì và nước phát sinh từ nhà xưởng cùng máy móc Việc nhận diện và phân loại các nguồn nước này giúp tối ưu hóa xử lý nước thải, giảm thiểu lãng phí và tăng cường tuân thủ môi trường Các giải pháp xử lý nước thải nên dựa trên đặc tính từng loại nước để thiết kế hệ thống lọc và tái sử dụng phù hợp với hoạt động của nhà máy.

Mỗi loại nước thải chứa các chất ô nhiễm đặc trưng như chất lơ lửng, chất hữu cơ, kim loại và kim loại nặng, clorua, sunfat, nitơ, amoni, dầu mỡ và coliform Để tính tải lượng nước thải từ các khu công nghiệp, có thể áp dụng nhiều cách tính khác nhau Tại khu công nghiệp phía Đông và phía Tây KKT Dung Quất, các phương pháp này có thể được triển khai dựa trên mục tiêu quản lý chất lượng nước thải, dữ liệu sẵn có và yêu cầu tuân thủ các chuẩn ô nhiễm, nhằm đánh giá hiệu quả xử lý nước thải và hỗ trợ lập kế hoạch giảm thiểu ô nhiễm.

- Khu công nghiệp gồm các nhà máy sản xuất ra các sản phẩm khô, ít ngậm nước, lượng nước thải dao động từ 9 - 14 m 3

- Khu công nghiệp có các nhà máy sản xuất ra các sản phẩm có ngậm nước loại trung bình, lượng nước thải dao động từ 14 - 28 m

- Lượng nước thải từ khu công nghiệp nặng (khu công nghiệp phía Đông), lượng thải dao động từ 40 - 50 m

Lượng nước thải được tính theo lượng nước cấp đi qua các quá trình sản xuất là 90 -

Dựa vào cách tính như trên, lưu lượng nước thải tại KKT Dung Quất được xác định như sau:

Bảng 3.3 – Lưu lượng nước thải tại KCN phía Đông và phía Tây Dung Quất

TT Khu công nghiệp Diện tích(ha) Tiêu chuẩn thải

Lượng nước thải(m /ng.dem) 3 /ng.dem)

(Nguồn: Quyết định 1056/QĐ-TTg ngày 16/8/2007 V/v phê duyệt Quy hoạch tổng thể KKT Dung Quất)

Như vậy, lượng nước thải thải ra từ các khu công nghiệp trong KKT Dung Quất là rất lớn (khoảng 90.050 m 3

Theo các kết quả quan trắc tại các nhà máy trên địa bàn KKT Dung Quất cho thấy:

Bảng 3.4- Kết quả quan trắc nước thải công nghiệp tại một số vị trí năm 2007

KẾT QUẢ QUAN TRẮC NTCN TẠI MỘT SỐ VỊ TRÍ NĂM 2007

Mẫu Thời gian lấy mẫu BOD COD Photpho Nitrat

(Nguồn: Trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường Dung Quất năm 2007)

M1: Nhà máy bia rượu Thành Đô (phân KCN SG - DQ)

M2: Bể chứa nước thải của NM Than lọc nước và Bêtông khô.

M3: Hồ chứa nước thải xây dựng của NM lọc dầu

Nước thải công nghiệp tại Nhà máy Bia rượu Thành Đô đang vượt một số chỉ tiêu quan trọng như BOD và COD so với tiêu chuẩn cho phép trước khi xả thải ra môi trường theo quy chuẩn TCVN Sự cố này nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp xử lý nước thải và tăng cường giám sát môi trường tại nhà máy để bảo đảm tuân thủ các chuẩn nước thải và bảo vệ nguồn nước.

5945:2005, nguồn loại B Hiện tượng vượt tiêu chuẩn cho phép của BOD tại tháng 2 và tháng 5 dao động từ 1,5 – 3,5; của COD tại tháng 2 và tháng 5 dao động từ 1,8 đến

BIỀU ĐỒ HÀM LƯỢNG BOD CỦA NM

BIỀU ĐỒ HÀM LƯỢNG COD CỦA

NM BIA RƯỢU THÀNH ĐÔ

Hình 3.1- Hàm lượng BOD và COD của nhà máy bia rượu Thành Đô năm 2007

Tuy nhiên hiện nay, qua khảo sát cho thấy:

Khu công nghiệp phía Tây hiện chủ yếu hoạt động với các ngành chế biến lâm sản, may mặt và sản xuất gạch, cùng Nhà máy bia rượu Thành Đô là cơ sở hoạt động chính Các ngành công nghiệp này hầu như tạo ra lượng nước thải rất ít, đặc biệt là tại Nhà máy bia rượu Thành Đô với lưu lượng nước thải thiết kế khoảng 120.000 m³.

Khu công nghiệp phía Đông: Hiện nay tại đây các dự án đang triển khai xây dựng, vì vậy lượng nước thải thải ra môi trường là rất ít

HO ẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

Chất lượng môi trường ở KKT Dung Quất là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Ô nhiễm môi trường là hệ quả tất yếu liên quan chặt chẽ đến các hoạt động phát triển của một khu kinh tế lớn kèm theo đô thị Ở KKT Dung Quất, ô nhiễm đang diễn ra theo chiều hướng tăng dần về khối lượng, tải lượng chất thải đô thị, xà bần xây dựng và bụi.

Hình 3.2- Hoạt động xây dựng tại KKT Dung Quất

Các hoạt động thi công xây dựng làm thay đổi chế độ thoát nước bề mặt tự nhiên khi dọn mặt bằng và lắp đặt hệ thống thoát nước tạm thời, khiến lượng nước chảy tràn bề mặt tăng lên, gia tăng nguy cơ xói mòn và tạo điều kiện cho các chất ô nhiễm di chuyển vào nguồn nước mặt, đặc biệt ở các khu vực dốc Đồng thời, quá trình thi công phát sinh nước thải từ lán trại công nhân chứa các chất ô nhiễm như photpho và nito hữu cơ, có thể ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước ngầm và nước mặt nếu không được xử lý và quản lý phù hợp.

Bên cạnh đó, các hệ sinh thái tự nhiên, nổi bật là hệ sinh thái đất ngập nước cửa sông – ven biển và hệ sinh thái đồi núi, đang chịu biến đổi tiêu cực khi diện tích đất thu hẹp nhanh và chất lượng thảm thực vật ở Dung Quất bị đe dọa do phát triển kinh tế; chất lượng nước, xói lở bờ sông và bồi lắng ở các vùng sinh thái ven biển cũng bị ảnh hưởng do xu hướng gia tăng đô thị hóa và công nghiệp hóa.

HO ẠT ĐỘNG GIAO THÔNG THỦY VÀ NEO ĐẬU CẢNG

Hoạt động giao thông vận tải thủy và dịch vụ cảng tại khu vực sông Trà Bồng và vịnh Dung Quất, bao gồm cảng Dung Quất, vừa khai thác mặt nước cho vận chuyển vừa gây ô nhiễm môi trường nước từ xả thải dầu trong quá trình vệ sinh tàu sau khi bốc xếp hàng hóa Khi tàu biển và tàu sông cập cảng để bốc xếp, công tác vệ sinh tàu được tiến hành nhằm chuẩn bị cho đợt xuống hàng tiếp theo, và phát sinh dầu cặn ở lượng khác nhau Lượng dầu cặn phụ thuộc vào tải trọng và tình trạng kỹ thuật của tàu, từ đó tác động sâu sắc đến hệ sinh thái nước và chất lượng nước, đòi hỏi các biện pháp quản lý chất thải và nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm để bảo vệ môi trường biển và ven biển.

Hiện nay công tác quản lý chất thải vệ sinh tàu biển ở cảng hầu như vẫn còn bỏ ngõ

Đối với tàu sông, thói quen súc rửa vệ sinh và xả nước thải tại chỗ đang diễn ra phổ biến, khiến dầu loang lan trên sông và vùng cửa sông Đây là vấn đề ô nhiễm dầu nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng nước, môi trường và hệ sinh thái ven sông Các sự cố tràn dầu gây thiệt hại cho môi trường và sinh thái có thể ở mức rất lớn và khó đánh giá đầy đủ, đặt ra yêu cầu cấp bách về quản lý, ứng phó và phục hồi môi trường cho các tuyến sông.

Quảng Ngãi có chiều dài bờ biển lên tới 130 km và 25 xã ven biển, tạo nên lợi thế rất lớn cho giao thương thông qua đường thủy và các hoạt động logistics biển Nhờ hệ thống cảng biển tiềm năng và mạng lưới vận tải biển đang dần được hoàn thiện, khu vực này hứa hẹn tiềm năng kinh tế cao, đặc biệt ở các lĩnh vực thủy sản, chế biến hải sản, dịch vụ cảng và du lịch biển Giao thông thủy đóng vai trò trục nối chủ lực, giúp giảm chi phí vận chuyển, tăng khả năng tiếp cận thị trường và thúc đẩy liên kết kinh tế giữa Quảng Ngãi với các vùng miền khác.

“Quy hoạch phát triển KKT Dung Quất đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 ”:

Cảng nước sâu Dung Quất được xem là yếu tố then chốt cho sự vươn lên của KKT Dung Quất Đến năm 2008, Cảng nước sâu Dung Quất sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nguồn thu cho tỉnh Quảng Ngãi thông qua hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua cảng, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển của KKT Dung Quất gắn với các ngành công nghiệp.

Một trong những điều kiện thuận lợi của KKT Dung Quất là Vịnh Dung Quất Vịnh Dung Quất có diện tích mặt nước hữu ích trên 4 km 2

Cảng Dung Quất hình thành từ năm 1998 đến 1999, bến số 1 có cầu cảng rộng 110 m phục vụ tàu 10.000 tấn, nay đã được mở rộng lên giai đoạn II để đáp ứng tàu 20.000 tấn Bên cạnh các cảng khai thác, hệ thống còn có các cảng chuyên dùng phục vụ các mục đích đặc thù và hoạt động logistics của khu vực.

Độ sâu từ 10-19 m và vị trí nằm gần các tuyến hàng hải quan trọng nhất là yếu tố làm nên địa điểm lý tưởng cho cảng biển nước sâu, cách tuyến hàng hải quốc tế khoảng 90 km và cách các tuyến vận tải nội thủy khoảng 30 km Đây là nơi hội tụ đủ điều kiện để hình thành một cảng biển đa chức năng, gồm cảng chuyên dùng dầu khí và cảng chuyên dụng cho các ngành công nghiệp nặng, đồng thời có tiềm năng phát triển thành cảng tổng hợp và cảng trung chuyển quốc tế.

Vịnh này là địa bàn thuận lợi để hình thành Khu bảo thuế và phát triển các ngành dịch vụ cảng biển, tạo nền tảng thu hút đầu tư cho KKT Dung Quất Đây là một yếu tố quyết định mở cửa và thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư đến với KKT Dung Quất.

Công ty Doosan, nhà máy đóng tàu VinaShin, công ty Tycoons, Công suất toàn bộ cảng Dung Quất đạt khoảng 26 triệu tấn năm

Cảng Quốc tế Gemadept Dung Quất nằm trong hệ thống cảng nước sâu Dung Quất, có diện tích khoảng 160.000 m 2

KKT Dung Quất mở ra cơ hội phát triển cho Cảng Dung Quất, và ngược lại, Cảng trở thành động lực thúc đẩy đầu tư cho khu vực Mối quan hệ tương hỗ và chu trình khép kín giữa sản xuất công - nông nghiệp với vận tải và hậu cần sẽ là thế mạnh nổi bật của KKT Dung Quất và tỉnh Quảng Ngãi, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.

Dự án có diện tích mặt nước chiếm gần 2/3 tổng diện tích và là quy mô lớn nhất miền Trung hiện nay; với tổng mức đầu tư khoảng 575 tỷ đồng, dự án có thể tiếp nhận tàu hàng hóa bách hóa và tàu container 30.000 DWT, công suất khai thác đạt khoảng 1,5–2 triệu tấn hàng hóa thông qua mỗi năm.

Phát triển hệ thống cảng biển đi đôi với việc bảo vệ môi trường là một yêu cầu thiết yếu để ngăn ngừa ô nhiễm như đang diễn ra tại một số cảng lớn trong nước Ô nhiễm có thể không chỉ ảnh hưởng ở khu vực mà còn lan rộng, tác động đến toàn bộ hệ sinh thái và gây thiệt hại khó đo đếm, trong đó người dân sẽ là nạn nhân cuối cùng Do đó, quản lý môi trường hàng hải và các biện pháp bảo vệ môi trường phải được tích hợp chặt chẽ vào quy trình phát triển cảng biển, ứng dụng công nghệ sạch, quản lý chất thải và giảm thiểu phát thải để đảm bảo tăng trưởng bền vững và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

HO ẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP

Tài nguyên đất ở Dung Quất đa dạng và phong phú với các nhóm đất chủ yếu gồm đất mặn ven biển, đất ven biển có độ phì nhiêu tự nhiên thấp, đất bạc màu có độ phì nhiêu tự nhiên thấp, đất phù sa cửa sông và đất có nguy cơ suy thoái Trong tổng thể này, đất nông nghiệp có diện tích khoảng 975 ha và đất lâm nghiệp khoảng 3954 ha.

Các cây trồng chủ lực trên địa bàn 7 xã của KKT Dung Quất gồm lúa, khoai lang, mì, đậu phụng, mía và dưa hồng, chiếm diện tích đáng kể và đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương; bên cạnh đó, nhiều hộ đã đưa thêm các loại cây mới vào sản xuất như ớt, hành và tỏi để đa dạng hóa cây trồng, nâng cao giá trị nông sản và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Từ trước đến nay, các phân tích về tài nguyên đất thường chú trọng vào khía cạnh KT-XH mà ít đề cập đến ô nhiễm và suy thoái đất cũng như các tác động có thể của đất hoang hóa Điều này khiến nhận thức và đánh giá rủi ro về ô nhiễm đất, suy thoái đất và đất bị hoang hóa còn hạn chế, tạo thách thức cho công tác quản lý và bảo vệ đất đai theo hướng phát triển bền vững.

Việc nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng đất hợp lý đóng vai trò then chốt cho phát triển bền vững và an sinh cộng đồng Bài toán đặt ra là làm sao quản lý và sử dụng đất một cách thiết thực và hiệu quả để ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái đất và hạn chế tác động xấu đến môi trường Vì vậy, cần triển khai các biện pháp quản lý đất đai chặt chẽ, ứng dụng công nghệ và giám sát liên tục nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý, bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội Những nỗ lực này không chỉ bảo vệ tài nguyên đất mà còn góp phần xây dựng môi trường sống sạch và phát triển lâu dài của cộng đồng.

Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường và bảo vệ nguồn nước ở Dung Quất đóng vai trò quan trọng trong công tác chống ô nhiễm và suy thoái đất Thông qua giáo dục, tuyên truyền và sự tham gia của người dân, ý thức về tầm quan trọng của nguồn nước và môi trường được nâng cao, hình thành thói quen sống xanh và trách nhiệm với tài nguyên thiên nhiên Những nỗ lực này không chỉ cải thiện chất lượng môi trường mà còn đóng góp vào sự phát triển bền vững tại Dung Quất và nâng cao chất lượng sống cho cộng đồng.

Tỷ lệ sử dụng phân bón hóa học trong nông nghiệp qua các năm đang tăng lên nhằm mục tiêu tăng năng suất cây trồng Người ta thường bón thêm phân đạm vô cơ (N), phân lân (P2O5) và kali (K2O), trong đó phân đạm được xem là loại mang lại hiệu quả rõ rệt nhất cho năng suất nhưng cũng dễ gây ô nhiễm cho môi trường đất do tồn dư của nó Cây chỉ hấp thu hữu ích tối đa khoảng 30% lượng phân bón đưa vào đất; phần còn lại bị rửa trôi hoặc tích lũy trong đất gây ô nhiễm môi trường.

Một dạng phân bón hoá học gây ô nhiễm môi trường đất là phân lân Dù lân là yếu tố thiết yếu cho cây rau đậu, nhưng khi dùng ở lượng quá cao, phân lân có thể làm đất bị chua, tác động tới môi trường sinh thái đất và làm giảm độ phì nhiêu của vùng canh tác.

Phân hữu cơ ủ đúng kỹ thuật trước khi bón và bón đúng liều lượng sẽ ít gây hại cho môi trường sinh thái; tuy nhiên phần lớn nông dân vẫn sử dụng phân hữu cơ chưa qua chế biến như phân bắc và nước tiểu, gây ô nhiễm đất và tác động xấu đến động vật và con người.

Trung bình lượng phân bón hoá học dùng trong nông n ghiệp qua các năm là 95.4 kg/ha

 Tỷ lệ lượng thuốc BVTV trong nông nghiệp qua các năm

Thuốc BVTV, gồm các nhóm trừ sâu, trừ nấm, côn trùng, tuyến trùng, diệt cỏ và kích thích sinh trưởng, là các hợp chất hoá học hữu cơ hoặc vô cơ được sử dụng để diệt sâu bệnh và bảo vệ cây trồng Tuy có vai trò thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp, sự xâm nhập của thuốc BVTV vào môi trường sinh thái đất có thể làm giảm tính cơ lý của đất và hoạt tính sinh học của đất, do thuốc có khả năng diệt khuẩn cao và tiêu diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong hệ sinh thái đất.

Bình quân lượng thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp qua các năm là 0.4 -0.5 kg/ha

 Tổng lượng và các loại hoá chất và thuốc BVTV đã sử dụng

Theo số liệu của Trung tâm Kỹ thuật Quan trắc môi trường, trung bình hàng năm các xã trong Khu kinh tế Dung Quất sử dụng khoảng 186 tấn phân bón các loại và khoảng 975 kg thuốc bảo vệ thực vật Lượng phân bón và thuốc BVTV lớn như vậy có thể dẫn đến dư lượng tồn dư và tác động tới chất lượng đất và nguồn nước, làm tăng nguy cơ ô nhiễm đất - nước và ảnh hưởng đến môi trường sinh thái cũng như sức khỏe cộng đồng.

CÁC HO ẠT ĐỘNG KHÁC

Chế độ mưa và lượng bốc hơi nước bề mặt đóng vai trò cốt lõi quyết định dòng chảy bề mặt tại các sông suối, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến sự tái tạo nước ngầm, nguy cơ lũ lụt và hạn hán Sự biến đổi của lượng mưa và tỉ lệ bốc hơi làm thay đổi lưu lượng nước trên mặt đất, từ đó tác động đến nguồn nước ngầm và khả năng dự trữ nước cho vùng miền Khi mưa nhiều và bốc hơi ít, dòng chảy bề mặt tăng lên và rủi ro lũ lụt cao hơn; ngược lại, mưa ít và bốc hơi cao làm giảm lượng nước ngầm và làm tăng nguy cơ hạn hán Hiểu rõ mối quan hệ này là yếu tố quan trọng để dự báo thiên tai, quản lý tài nguyên nước và đảm bảo an ninh nguồn nước.

Chế độ nhiệt độ (ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của nguồn nước)

Quá trình xói mòn và rửa trôi đất bề mặt mang theo bùn cát, xác thực vật và các chất ô nhiễm, bao gồm thuốc bảo vệ thực vật, cùng với các khoáng chất từ đá, đổ vào nguồn nước Việc này làm ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng tới chất lượng nước và hệ sinh thái thủy sinh.

Chất thải chăn nuôi, bao gồm nước vệ sinh chuồng trại và phân gia súc, cùng với hoạt động nuôi thủy sản nước ngọt trên bè cá và nuôi tôm tại các khu đất ngập mặn, đang tác động tiêu cực đến chất lượng nước và hệ sinh thái ven biển Đồng thời, ảnh hưởng của triều từ biển Đông gây ra hiện tượng mặn hóa ở hạ lưu, làm tăng áp lực lên nguồn nước tưới tiêu và các hệ sinh thái ngập nước.

Các rủi ro về môi trường: thiên tai, lũ lụt…

HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG TRÀ BỒNG Ở KKT

ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG TRÀ BỒNG 5.1 GI ẢI PHÁP QUẢN LÝ

Ngày đăng: 30/10/2022, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2) Ban Qu ản lý KKT Dung Quất. Báo cáo Quy ho ạch tổng thể môi trường KKT Dung Qu ất giai đoạn 2005 – 2010 và định hướng đến năm 2020 . Năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quy hoạch tổng thể môi trường KKT Dung Quất giai đoạn 2005 – 2010 và định hướng đến năm 2020
3) Trung tâm Quan tr ắc và Kỹ thuật môi trường Dung Quất. Báo cáo hi ện trạng môi trường KKT Dung Quất năm 2007 . Năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường KKT Dung Quất năm 2007
4) Lâm Minh Tri ết, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Phước Dân. X ử Lý Nước Thải Đô Th ị Và Công Nghiệp- Tính Toán Thiết Kế Các Công Trình. Nhà xu ất bản Đại học Qu ốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử Lý Nước Thải Đô Thị Và Công Nghiệp- Tính Toán Thiết Kế Các Công Trình
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp.HCM
5) Tr ịnh Xuân Lai. Tính Toán Thi ết Kế Các Công Trình Xử Lý Nước Thải . NXB Xây d ựng, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính Toán Thiết Kế Các Công Trình Xử Lý Nước Thải
Nhà XB: NXB Xây dựng
6) Các tài li ệu và số liệu về hiện trạng môi tr ường tự nhiên và kinh tế - xã h ội ở khu v ực nghiên c ứu, thu thập trong những n ă m g ần đ ây Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN