Trước sự phát triển kinh tế vượt bậc trong thời gian qua, nhiều nguồn thải phát sinh với lưu lượng ngày một lớn, nồng độ các chất ô nhiễm ngày càng tăng, những diễn biến chất lượng nước
Trang 1i
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT - v
DANH MỤC BẢNG - vi
DANH MỤC HÌNH - ix
TÓM TẮT - xii
1. ĐẶT VẤN ĐỀ - 1
2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI - 1
3. NỘI DUNG THỰC HIỆN - 1
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 2
5. PHẠM VI ĐỀ TÀI - 3
6. Ý NGHĨA THỰC TIỄN - 3
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG BA LAI, TỈNH BẾN TRE - TRE -TRE -TRE - 4
1.1. ĐẶC ĐIỂM SÔNG BA LAI VÀ CỐNG ĐẬP BA LAI - 4
1.1.1. Đặc điểm sông Ba Lai - 4
1.1.2. Đặc điểm cống đập Ba Lai - 6
1.2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG BA LAI - - 9
1.2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên - 9
1.2.2. Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội - 18
1.3. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2020 CHO LƯU VỰC SÔNG bA LAI - 27
1.3.1. Ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản - 27
Trang 2ii
1.3.2. Hoạt động bảo vệ môi trường - 37
CHƯƠNG 2 - DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT SÔNG BALAI - 39 2.1. DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT SÔNG BA LAI - 39
2.2. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC - 51
2.2.1. Ô nhiễm nguồn nước do nước thải sinh hoạt - 51
2.2.2. Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp - 52
2.2.3. Ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi - 53
2.2.4. Ô nhiễm do hoạt động nuôi trồng thủy sản - 55
2.2.5. Ô nhiễm do hoạt động xây dựng và giao thông thủy lợi - 56
CHƯƠNG 3 - TÍNH TOÁN HIỆN TRẠNG VÀ DỰ BÁO TẢI LƯỢNG NƯỚC THẢI ĐỔ VÀO SÔNG BA LAI - 57
3.1. TẢI LƯỢNG NƯỚC THẢI NĂM 2011 - 57
3.1.1. Nước thải sinh hoạt - 57
3.1.2. Nước thải công nghiệp, cơ sở sản xuất, làng nghề - 60
3.1.3. Nước thải chăn nuôi, trồng trọt - 62
3.1.4. Nước thải nuôi trồng thủy sản - 67
3.2. DỰ BÁO TẢI LƯỢNG NƯỚC THẢI ĐẾN NĂM 2020 - 69
3.2.1. Dự báo tải lượng nước thải sinh hoạt - 69
3.2.2. Dự báo tải lượng nước thải công nghiệp - 70
3.2.3. Dự báo tải lượng xả thải của các cơ sở chăn nuôi và trồng trọt - 71
3.2.4. Dự báo lượng xả thải ngành nuôi trồng thủy sản - 74
Trang 3iii
CHƯƠNG 4 - ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE 11 ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN
CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG BA LAI - 75
4.1. CÁC MÔ HÌNH CHẤT LƯỢNG NƯỚC - 75
4.1.1. Lịch sử phát triển các mô hình chất lượng nước - 75
4.1.2. Tóm tắt quá trình phát triển của mô hình chất lượng nước - 76
4.1.3. Giới thiệu các mô hình chất lượng nước - 77
4.2. GIỚI THIỆU MÔ HÌNH TOÁN ĐƯỢC SỬ DỤNG - 79
4.2.1. Giới thiệu về mô hình Mike 11 - 79
4.2.2. Chương trình Mike View - 83
4.2.3. Mục tiêu sử dụng Mike 11 trong đề tài - 83
4.3. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN - 84
4.3.1. Mô tả phương pháp thực hiện - 84
4.4. ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE 11 - 87
4.4.1. Các bước tiến hành mô phỏng chất lượng nước - 87
4.4.2. Mô tả kịch bản tính toán - 91
4.5. KẾT QUẢ CHẠY MÔ HÌNH - 92
4.5.1. Kết quả mô phỏng - 92
4.5.2. Nhận xét kết quả - 95
CHƯƠNG 5 - ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC MẶT TRÊN LƯU VỰC SÔNG BA LAI - 97
5.1. CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRÊN SÔNG BA LAI - 97
5.1.1. Đối với nước thải - 97
Trang 4iv
5.1.2. Hạn chế xâm nhập mặn - 99
5.2. XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUAN TRẮC - 99
5.3. GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC SẠCH - 101
5.4. SỬ DỤNG HỢP LÝ HỆ THỐNG SÔNG RẠCH - 102
5.5. TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỀ MẶT MÔI TRƯỜNG - 102
5.5.1. Xây dựng quy định xã thải vào nguồn tiếp nhận - 102
5.5.2. Quản lý về mặt pháp lý - 103
5.5.3. Quản lý về mặt kinh tế - 104
5.5.4. Nâng cao trình độ, nhận thức về vấn đề môi trường - 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 107
1. KẾT LUẬN - 107
2. KIẾN NGHỊ - 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 109
Trang 5v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt : Thuật ngữ viết tắt
AD : Advection Dispersion
BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
CN : Công nghiệp
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
DHI : Daniss Hydraulic Institute
GIS : Geographic Information System – Hệ thống thông tin địa lý
KVNC : Khu vực nghiên cứu
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TCXDVN : Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
VSMTNT : Vệ sinh môi trường nông thôn
WHO : Tổ chức Y tế Thế Giới
Trang 6vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Hệ thống sông Ba Lai 5
Bảng 1.2: Phân bố diện tích theo các cấp cao độ (đơn vị ha) 10
Bảng 1.3: Nhiệt độ trung bình (oC) tháng trạm Bến Tre 13
Bảng 1.4: Độ ẩm trung bình nhiều năm tại trạm Mỹ Tho 14
Bảng 1.5: Bốc hơi trung bình nhiều năm tại trạm Mỹ Tho ( mm/tháng) 14
Bảng 1.6: Mực nước bình quân tháng lũ lớn nhất 16
Bảng 1.7: Mực nước cao nhất năm theo tần suất thiết kế - Hmax (cm) 16
Bảng 1.8: Số lượng gia súc, gia cầm nuôi trong khu vực 21
Bảng 1.9: Dự kiến các chỉ tiêu ngành trồng trọt năm 2010 - 2020 28
Bảng 1.10: Dự kiến các chỉ tiêu phát triển ngành thủy sản năm 2010 - 2020 30
Bảng 1.11: Dự kiến chỉ tiêu ngành thủy sản từ năm 2011 đến năm 2020 31
Bảng 2.1: Vị trí thu mẫu nước mặt 40
Bảng 2.2: Kết quả phân tích chất lượng nước trên sông Ba Lai 42
Bảng 2.3: Các thông số chất lượng nước thải tại chợ Thới Lai 49
Bảng 2.4: Các thông số chất lượng nước thải tại Rạch Vàm Hồ 50
Bảng 2.5: Các thông số chất lượng nướcthải tại ao nuôi tôm 50
Bảng 3.1: Tình hình xả thải nước thải sinh hoạt 58
Bảng 3.2: Tình hình xả thải nước thải sinh hoạt 58
Bảng 3.3: Hệ số ô nhiễm do nước thải sinh hoạt đưa vào môi trường 59
Bảng 3.4: Tải lượng ô nhiễm nước thải sinh hoạt 59
Trang 7vii
Bảng 3.5: Hiện trạng xả thải ở các cơ sở sản xuất trên địa bàn 4 xã huyện Giồng Trôm
giáp sông Ba Lai 60
Bảng 3.6: Nồng độ trung bình các chất ô nhiễm trong nước thải từ các cụm công nghiệp, làng nghề (chưa xử lý) 61
Bảng 3.7: Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất thực phẩm 61
Bảng 3.8: Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải ở cơ sở sản xuất 62
Bảng 3.9: Nồng độ trung bình các chất ô nhiễm trong nước thải chăn nuôi (chưa xử lý) 63
Bảng 3.10: Lượng nước thải từ chăn nuôi 64
Bảng 3.11: Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải chăn nuôi 64
Bảng 3.12: Hiện trạng sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật 65
Bảng 3.13: Tổng lượng phân và thuốc BVTV thải vào môi trường 66
Bảng 3.14: Diện tích ao nuôi trồng thủy sản 68
Bảng 3.15: Ước lượng chất thải phát sinh từ một ha nuôi cá tra 68
Bảng 3.16: Dự báo lượng nước thải từ sinh hoạt đến năm 2020 69
Bảng 3.17: Dự toán lượng nước thải sinh hoạt xả thải vào kênh, rạch và đất 69
Bảng 3.18: Dự báo tải lượng ô nhiễm nước thải sinh hoạt đến năm 2020 70
Bảng 3.19: Dự báo lượng nước xả thải của cụm công nghiệp Phong Nẫm 70
Bảng 3.20: Nồng độ trung bình các chất ô nhiễm trong nước thải từ các cụm công nghiệp, làng nghề (chưa xử lý) 71
Bảng 3.21: Dự báo tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải ở cụm công nghiệp 71
Bảng 3.22: Dự báo tình hình xả thải từ hoạt động chăn nuôi 72
Trang 8viii
Bảng 3.23: Nồng độ trung bình các chất ô nhiễm trong nước thải chăn nuôi (chưa xử
lý) 72
Bảng 3.24: Dự báo tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải chăn nuôi năm 2020 72
Bảng 3.25: Dự báo lượng phân và thuốc BVTV thải vào môi trường đến năm 2020 73
Bảng 3.26: Dự báo tải lượng phân và thuốc BVTV thải vào môi trường đến năm 2020 73
Bảng 3.27: Diện tích nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 tại khu vực nghiên cứu 74
Bảng 4.1: Danh mục các chỉ tiêu được mô phỏng 82
Bảng 4.2: Vị trí các điểm quan trắc trên sông Ba Lai 89
Trang 9ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ tỉnh Bến Tre và lưu vực sông Ba Lai 4
Hình 1.2: Ngã 3 An Hóa 5
Hình 1.3: Cống đập Ba Lai 8
Hình 1.4 Bản đồ lưu vực sông Ba Lai 10
Hình 1.5: Kênh 2 chảy ra sông Ba Lai 17
Hình 1.6: Trồng dừa tại huyện Bình Đại 20
Hình 1.7: Chăn nuôi gia cầm trong hộ gia đình 22
Hình 1.8: Nuôi cá da trơn tại huyện Bình Đại 23
Hình 1.9: Hình ảnh các lu chứa nước tại hộ gia đình 25
Hình 2.1: Đoạn sông Ba Lai chảy qua xã Phong Nẫm 39
Hình 2.2: Biểu diễn thông số pH chất lượng nước mặt 45
Hình 2.3: Biểu diễn thông số SS chất lượng nước mặt 45
Hình 2.4: Biểu diễn thông số Fe chất lượng nước mặt 46
Hình 2.5: Biểu diễn thông số Mn trong chất lượng nước mặt 46
Hình 2.6: Biểu diễn thông số N-NH4 trong chất lượng nước mặt 47
Hình 2.7: Biểu diễn thông số NO3- trong chất lượng nước mặt 47
Hình 2.8: Biểu diễn thông số BOD5 trong chất lượng nước mặt 48
Hình 2.9: Biểu đổ biểu diễn thông số COD trong chất lượng nước mặt 48
Hình 2.10: Biểu diễn thông số Coliform trong chất lượng nước mặt 49
Hình 2.11: Hiện trạng mô hình cầu cá 51
Trang 10x
Hình 2.12: Tình hình xả thải nước thải sinh hoạt của người dân 52
Hình 2.13: Hiện trạng hoạt động các cơ sở sản xuất dọc hai bên bờ sông 53
Hình 2.14: Ao nuôi vịt của một hộ gia đình 54
Hình 2.15: Thực trạng xả thải từ hoạt động chăn nuôi và trồng lúa 55
Hình 2.16: Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại các xã dọc sông Ba Lai 56
Hình 2.17: Hiện trạng hoạt động giao thông thủy 56
Hình 3.1: Tình hình sử dụng và xả thải nước thải sinh hoạt 57
Hình 3.2: Chăn nuôi vịt tại hộ gia đình 63
Hình 4.1: Cấu trúc mô hình NAM 83
Hình 4.2: Ảnh lưu vực sông Ba Lai chụp từ vệ tinh 85
Hình 4.3: Các bước kết nối dữ liệu không gian 86
Hình 4.4: Các bước tính toán trên Mike 11 87
Hình 4.5: Địa hình lòng sông Ba Lai 88
Hình 4.6: Diễn biến mực nước tháng 3/2010 trạm BL1 sông Ba Lai 88
Hình 4.7: Diễn biến lưu lượng tháng 3/2010 trạm BL1 sông Ba Lai 89
Hình 4.8: Dao diện mô đun HD 90
Hình 4.9: Dao diện mô đun AD 91
Hình 4.10: Số hóa hình dạng sông trong River Network 91
Hình 4.11: Hàm lượng BOD5 trên sông Ba Lai 92
Hình 4.12: Hàm lượng COD trên sông Ba Lai 93
Hình 4.13: Hàm lượng COD trên sông Ba Lai 93
Trang 11xi
Hình 4.14: Hàm lượng BOD5 trên sông Ba Lai 94 Hình 4.15: Hàm lượng COD trên sông Ba Lai 94 Hình 4.16: Hàm lượng TSS trên sông Ba Lai 95
Trang 12xii
TÓM TẮT
Hiện nay các vấn đề về môi trường nói chung và chất lượng nước của các dòng sông nói riêng đang rất được quan tâm Trước sự phát triển kinh tế vượt bậc trong thời gian qua, nhiều nguồn thải phát sinh với lưu lượng ngày một lớn, nồng độ các chất ô nhiễm ngày càng tăng, những diễn biến chất lượng nước của dòng sông có xu hướng xấu đi, đe dọa trực tiếp về nhu cầu cấp nước cho cả khu vực và đe dọa nghiêm trọng cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của các địa phương trên lưu vực
Để có thể đề xuất các giải pháp tổng hợp và khả thi để bảo vệ nguồn nước sông
Ba Lai – tỉnh Bến Tre phục vụ an toàn cho cấp nước đồng thời phục vụ cho các mục đích phát triển bền vững trên lưu vực sông cần phải tiến hành khảo sát hiện trạng, xem xét đầy đủ các hoạt động kinh tế - xã hội gây ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Từ những số liệu thu thập được ta có thể tính toán tải và dự báo tải lượng các chất ô nhiễm
đổ vào sông Ba Lai
Nội dung của luận văn này là trên cơ sở các nghiên cứu về hiện trạng chất lượng nước sông Ba Lai thông qua việc sử dụng phần mềm MIKE 11, các tính toán được thực hiện dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, từ đó có thể xây dựng biện pháp bảo vệ môi trường phù hợp cho khu vực nghiên cứu Luận văn bao gồm các nội dung sau:
- Khảo sát hiện trạng hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt sông Ba Lai
- Xác định các nguồn gây ô nhiễm chính tác động tới tài nguyên nước
- Xây dựng kịch bản và chạy mô hình chất lượng nước Mike 11 với 2 kịch bản: + Kịch bản 1: Mô phỏng chất lượng nước theo tổng lượng nước thải trong một
vụ nuôi cá thực tế theo số liệu diện tích nuôi trồng năm 2010
+ Kịch bản 2: Mô phỏng chất lượng nước theo tổng lượng nước thải trong một
vụ nuôi cá theo số liệu kế họach phát triển diện tích nuôi trồng năm 2020
- Đề xuất kế hoạch hành động bảo vệ môi trường nước sông Ba Lai đến năm
2020
Trang 13Thêm vào đó là việc cống đập Ba Lai được xây dựng ở hạ nguồn sông Ba Lai làm cho con sông bây giờ đã trở thành “lòng hồ - sông”, con đập này chỉ được mở cho nước từ sông lưu thông ra biển khoảng 1 -2 lần một tháng, có khi lên đến vài tháng một lần nên lượng chất thải bị ứ đọng lại vùng “lòng hồ - sông” là rất lớn
Với chiều dài sông Ba Lai là 55 km, nguồn nước được sử dụng chủ yếu để phục
vụ cho sinh hoạt, sản xuất, chăn nuôi và trồng trọt nhưng theo kết quả quan trắc mới đây của sở Tài Nguyên và Môi Trường thì sông Ba Lai đã có hiện tượng ô nhiễm Nếu không có các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước mặt sông Ba Lai thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, an sinh xã hội
Trước vấn đề về tài nguyên môi trường cấp bách trên, để bảo vệ môi trường và
sử dụng hợp lý tài nguyên tỉnh Bến Tre nói chung và lưu vực sông ba Lai nói riêng thì
việc thực hiện đề tài: “Ứng dụng mô hình Mike 11 đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Ba Lai – tỉnh Bến Tre” là điều cần thiết nhằm cung cấp thêm cơ sở thực tiễn trong
ứng dụng phương pháp mô hình để dự báo, kiểm soát và quản lý chất ô nhiễm cho nước sông Ba Lai, đảm bảo nhu cầu sử dụng nước của người dân và cho cả sự phát triển đầu tư trong thời gian tới
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
- Dự báo diễn biến chất lượng nước sông Ba Lai đến năm 2020
- Xây dựng kế hoạch hành động bảo vệ môi trường nước mặt
3 NỘI DUNG THỰC HIỆN
- Thu thập tài liệu và điều tra thực tế về đặc điểm tự nhiên, hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội (khu công nghiệp, khu dân cư) đến năm 2020
- Thu thập số liệu về hiện trạng cấp thoát nước và quy hoạch đến năm 2020
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước
Trang 142
+ Khảo sát, thu mẫu và phân tích chất lượng nước mặt, ngầm và nước thải từ một số cơ sở
+ Đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt, nước ngầm
- Đánh giá các nguồn thải chính tác động tới tài nguyên nước
- Tính toán hiện trạng và dự báo tải lượng nước thải đến năm 2020
- Tìm hiểu lý thuyết mô hình Mike 11, các chương trình toán mô phỏng
- Ứng dụng mô hình toán Mike 11 dự báo diễn biến chất lượng nước đến năm
2020
- Đề xuất các kế hoạch hành động bảo vệ môi trường nước sông trên phạm vi nghiên cứu
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn bao gồm:
Phương pháp thu thập thông tin:
Tác giả đã liên hệ trực tiếp đến các đơn vị chức năng Huyện/xã thuộc tỉnh Bến tre, để thu thập các tài liệu có liên quan đến nội dung của luận văn như sau:
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh bến tre
- Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh và các huyện
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội…
- Quy hoạch phát triển nông nghiệp…
- Số liệu các nguồn thải chủ yếu trên lưu vực sông Ba Lai
- Số liệu thủy văn, địa hình tại các trạm quan trắc trên sông Ba lai
- Các đề tài dự án về chất lượng nước trên sông Ba Lai đã được triển khai trong thời gian qua
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
Tiến hành khảo sát điều tra thực tế hiện trạng tại các xã thuộc lưu vực sông Ba Lai về các vấn đề sau:
- Phân bố các nguồn thải trên lưu vực
- Tình hình sử dụng nguồn nước mặt trên sông Ba Lai vào các mục đích khác nhau và hiện trạng xả thải
- Xác định lưu vực xả thải
- Thu mẫu và phân tích thí nghiệm
Phương pháp sử dụng GIS
Lập bản đồ hành chính, bản đồ hệ thống sông ngòi, và bản đồ chuyên thể hiện nồng độ
ô nhiễm chất lượng nước mặt bằng phần mềm Mapinfo
Trang 153
Phương pháp sử dụng mô hình Mike 11
Sử dụng mô hình Mike để thể hiện diễn biến chất lượng nước sông Ba Lai đến năm 2020 Đây là mô hình tích hợp, bao gồm các mô đun chuyên dụng độc lập phục vụ thực hiện các nhiệm vụ khác nhau gồm: mô dun thủy lực, mô đun tải khuyếch tán, mô đun sinh thái ( phần này sẽ được nói rõ hơn trong phần “ứng dụng mô hình Mike 11 đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Ba Lai”
Phương pháp đánh giá nhanh
Dựa vào kết quả phân tích, kết hợp thu thập tài liệu từ các nguồn xả thải để tính tải lượng ô nhiễm của các nguồn thải (nếu không xử lý) theo hệ số phát thải của tổ chức Y tế thế giới (WHO) Phương pháp tính toán sẽ được nêu rõ trong chương 3
5 PHẠM VI ĐỀ TÀI
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là điều tra đánh giá diễn biến chất lượng nước sông Ba Lai tại thời điểm hiện tại và đến năm 2020, trong phạm vi các huyện thuộc lưu vực thoát nước đổ ra sông Ba Lai bao gồm huyện Châu Thành (xã An Hóa), huyện Bình Đại ( xã Thạnh Trị, Phú Long, Lộc Thuận, Châu Hưng, Thới Lai, Long Hòa) , huyện Giồng Trôm ( Phong Nẫm, Phong Mỹ, Châu Hòa, Châu Bình), huyện Ba Tri (Tân Mỹ, Tân Xuân) của tỉnh Bến Tre
6 Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học
Các phương pháp nghiên cứu mà luận văn này sử dụng là những phương pháp
có tính khoa học cao, đã được chứng nhận trong và ngoài nước
Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả dự báo chất lượng nước sông Ba Lai, xác định rõ những vấn đề tác động tới tài nguyên nước, từ đó hoạch định các mục tiêu, kế hoạch hành động cụ thể trong công tác quản lý nguồn nước
Góp phần phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng hợp lý nguồn nước
Nghiên cứu này cũng nhằm áp dụng cho việc tính toán sức chịu tải cho vùng
“lòng hồ - sông Ba Lai”
Trang 164
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC SÔNG BA
LAI, TỈNH BẾN TRE 1.1 ĐẶC ĐIỂM SÔNG BA LAI VÀ CỐNG ĐẬP BA LAI
1.1.1 Đặc điểm sông Ba Lai
Khu vực duyên hải ĐBSCL bao gồm vùng ven biển của các tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, và Bạc Liêu Dải đất này cũng là nơi giao nhau của 9 cửa sông Cửu Long với biển Đông, tạo nên một hệ sinh thái vùng cửa sông ven biển với ba thủy vực nước (mặn, lợ, và ngọt), tạo ra hệ đa dạng sinh học các giống loài thủy hải sản
Hình 1.1: Bản đồ tỉnh Bến Tre và lưu vực sông Ba Lai
Tỉnh Bến tre có những con sông lớn nối từ biển Đông qua các cửa sông chính (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên), ngược về phía thượng nguồn đến tận Campuchia; cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt khoảng 6.000 km, Một nhánh của sông Tiền, bắt đầu tách ra từ cồn Dơi, xã Phú Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, chảy theo hướng Đông Nam đổ ra biển ở cửa Ba Lai, có chiều dài 55 km Sông là ranh giới giữa cù lao Bảo và cù lao An Hoá
Sông Ba Lai trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55 km chảy từ xã Tân Lợi ra đến biển, cửa Ba Lai Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấy ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Thiệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên của sông Ba
Trang 17Hình 1.2: Ngã 3 An Hóa Bảng 1.1: Hệ thống sông Ba Lai
R Bà Tam Từ xã Phú Đức đến xã Thành Triệu (H Châu
Trang 186
K Chẹt Sậy Từ xã Phong Nẫm qua xã Phú Hưng đào năm
1878 – 1902
5,0
R Cái Muồng Từ xã Thới Lai đến xã Lộc Thuận (H Bình
Đại)
10,0
R Vàm Hồ Ranh giới giữa xã Châu Bình (H Giồng
Trôm) và xã Mỹ Hòa (H Ba Tri)
R Khiêm Xã Thạnh Phước (H Bình Đại) thông với K
Ông Cai
5,5
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử www.bentre.gov.vn )
Hiện nay cửa sông Ba Lai bị lấp dòng bởi đập Ba Lai, và thay vào đó là cống Ba
Lai Cống đập Ba Lai có mục tiêu ngăn mặn, tạo nguồn ngọt, thau chua rửa phèn, cải
tạo đất tự nhiên phía thượng nguồn, trong đó đất canh tác nông nghiệp, cung cấp nước
sinh hoạt cho các huyện Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Châu Thành và thị xã Bến Tre
Hệ thống cống đập này đặt tại khu vực xã Thạnh Trị (huyện Bình Đại) và xã Tân Xuân
(huyện Ba Tri), được khởi công ngày 27 tháng 1, 2000, đưa vào sử dụng ngày 30 tháng
4, 2002 Đập Ba Lai dài 544 m Cống Ba Lai gồm 10 cửa, khẩu độ 84 m, vận hành
bằng van tự động 2 chiều
1.1.2 Đặc điểm cống đập Ba Lai
Công trình cống đập Ba Lai là một hạng mục chính của Dự án ngọt hóa vùng
Bắc tỉnh Bến Tre cống đập nằm chắn ngang sông Ba Lai tại khu vực xã Thạnh Trị
(Bình Đại) và xã Tân Xuân (Ba Tri) Công trình có nhiệm vụ chế ngự triều biển Đông
xâm nhập sâu từ phía hạ nguồn, ngăn mặn, tạo nguồn ngọt, thau chua rửa phèn, cải tạo
Trang 197
cho gần 140.000 ha đất tự nhiên phía thượng nguồn, trong đó có khoảng 100.000ha đất canh tác nông nghiệp, phục vụ nước sinh hoạt cho trên 700.000 dân thuộc các huyện Bình Đại, Ba Tri, Giồng Trôm, Châu Thành và thị xã Bến Tre
Theo kết quả nghiên cứu đánh giá bước đầu của Viện Khoa học thủy lợi miền Nam, sau hơn 1 năm đưa vào vận hành, công trình cống đập Ba Lai đã từng bước phát huy tác dụng, hình thành 2 vùng sinh thái mặn - ngọt khá rõ nét
Từ những chuyển đổi trên, nhiều vùng đất nông nghiệp của các xã nằm vùng thượng sông Ba Lai như Thạnh Trị, Phú Long, Lộc Thuận, Thới Lai (huyện Bình Đại); Châu Bình, Châu Hòa, Phong Mỹ (Giồng Trôm); Tân Xuân, Tân Mỹ (Ba Trí) đã được ngọt hóa hình thành nhanh các vùng trồng mía, vườn cây ăn trái thay cho trước đây nông dân phải trồng lúa nhưng năng suất không cao, đại bộ phận nhân dân gặp nhiều khó khăn trong đời sống, sản xuất
Phía hạ nguồn sông Ba Lai là vùng mặn gồm các xã: Thạnh Phước, Thừa Đức, Thới Thuận, Đại Hòa Lộc và một phần diện tích xã Thạnh Trị (Bình Đại); Bảo Thạnh, Bảo Thuận và phần lớn diện tích xã Tân Xuân (Ba Tri) Các xã trên chịu tác động trực tiếp của hệ thống cống đập Ba Lai Nhiều năm qua, đây là vùng đang phát triển nuôi trồng thủy sản và nghề làm muối Khi hệ thống cống Ba Lai mở ra, nước ngọt từ thượng nguồn đổ xuống đã điều chỉnh độ mặn cho nhiều khu vực, giúp nghề nuôi tôm phát triển nhất là nuôi tôm sú công nghiệp Phần lớn diện tích trồng lúa một vụ bấp bênh trước đây nay đã chuyển sang nuôi thủy sản, người dân có thu nhập trội hơn gấp nhiều lần so trồng lúa Và từ thuận lợi đó, Sở Thủy sản Bến Tre đã triển khai thêm dự
án nuôi tôm công nghiệp với qui mô 400 ha tại xã Thạnh Trị và Đại Hòa Lộc, góp phần tăng diện tích nuôi tôm công nghiệp ở ven vùng hạ sông Ba Lai hiện nay lên hơn 600
ha
Mặt tích cực khác khi dòng sông Ba Lai được ngọt hóa, tháng 4-2003, một nhà máy cấp nước vốn đầu tư 18 tỉ đồng (vốn vay ADB) đã được xây dựng tại xã Tân Mỹ (Ba Tri) Khi hoàn thành giai đoạn 1 nhà máy sẽ cung cấp nước sinh hoạt cho 10 xã và khi hoàn thành giai đoạn 2, sẽ cung cấp nước sinh hoạt cho toàn 24 xã của huyện biển
Ba Tri
Nhưng với diêm dân ở xã Bảo Thạnh, Bảo Thuận thì phải chịu cảnh thất mùa muối Chẳng là, khi tại đây bước vào vụ muối (tháng 10-11 và chấm dứt lúc trời sa mưa sang năm), nước lũ từ thượng nguồn đổ về sông Ba Lai dồn dập, với cường suất lớn, do vậy cống Ba Lai phải xả liên tục; nước ngọt tràn xuống làm cho độ mặn của nước biển ở đấy giảm khác thường, muối khó kết hạt Trước thực tế trên, hầu hết diêm dân đã tính chuyện phải “giải nghệ” với nghề truyền thống từ bao đời qua của gia đình
Trang 208
Hình 1.3: Cống đập Ba Lai
Trang 219
Để giải quyết những khó khăn trước mắt và giúp họ chuyển nghề Theo
đó, diêm dân cho Công ty Lâm thủy sản Bến Tre mướn đất nuôi tôm công nghiệp, tiền cho mướn đất diêm dân góp vào cổ phần và công ty sẽ mướn diêm dân tại địa phương chăm sóc trực tiếp các ao nuôi tôm Tại Bảo Thạnh 600 ha đất muối cũng sẽ chuyển sang nuôi thủy sản như tôm, cá kèo, cá rô phi đơn tính Như vậy, Ba Tri chỉ giữ lại
550 ha ở vùng sát biển để làm muối công nghiệp do Bộ NN & PTNT đầu tư”
Một diễn biến phức tạp khác là vào thời điểm mùa khô do lưu lượng nước phía thượng nguồn xuống kém, nước từ sông Hàm Luông, sông Tiền chảy vào kinh Giao Hòa ít hơn, lòng sông phía thượng nguồn sông Ba Lai cạn, nên mực nước ngọt lưu trữ thấp hơn từ 0,3 - 0,7m so với lúc chưa xây dựng cống Ba Lai Theo dự báo, nếu tình trạng này kéo dài, lòng sông ngày cạn dần sẽ dẫn đến thiếu nước sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng vào mùa khô Ngoài hạ thấp mực nước vào mùa khô, khi cống Ba Lai đóng lại đã tạo ra nhiều khu vực đọng nước phèn tại những nơi giáp nước Hiện tại, vùng giáp nước thuộc xã Phong Nẫm, Phong Mỹ (Giồng Trôm) nhiều nơi nước trở màu xanh, rong rêu phát triển mạnh Điều đó cho thấy hàm lượng phèn tụ lại
là rất cao
Do tình hình khô hạn nghiêm trọng trong năm 2010, mùa khô năm nay độ mặn 4g/l đã xâm nhập sâu trên 60km, bao trùm gần như cả tỉnh Bến Tre Độ mặn lớn nhất (vào tháng 4-2010) tại ven biển Bình Đại có lúc vượt qua mức xấp xỉ 30g/l, tại Lộc Thuận (huyện Bình Đại) là 23g/l, Giao Hòa (huyện Châu Thành) là 8g/l, đến điểm tiếp giáp tỉnh Tiền Giang độ mặn vẫn còn ở mức 1,8g/l Sự xâm nhập mặn đã gây khó khăn cho hơn 30.000ha đất canh tác lúa và cây ăn trái ở Bến Tre Tình hình xâm nhập mặn ở Bến Tre năm 2010 gay gắt hơn so với các năm 2004, 2005 và 2007
Đã có hiện tượng xói lở dọc sông Ba Lai và bồi tụ ở các kinh nội đồng: khi cống
Ba Lai mở, cột nước cao, áp lực mạnh hơn dòng chảy sông tự nhiên tạo ra dòng chảy xiên khiến cho nhiều vùng bị sạt lở Sạt lở vùng này, kéo theo bồi tụ ở vùng khác
1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI LƯU VỰC SÔNG BA LAI
Phạm vi nghiên cứu các huyện thuộc lưu vực thoát nước đổ ra sông Ba Lai bao gồm huyện Châu Thành (xã An Hóa), huyện Bình Đại ( xã Thạnh Trị, Phú Long, Lộc Thuận, Châu Hưng, Thới Lai, Long Hòa) , huyện Giồng Trôm ( Phong Nẫm, Phong
Mỹ, Châu Hòa, Châu Bình), huyện Ba Tri (Tân Mỹ, Tân Xuân) của tỉnh Bến Tre
1.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Trang 2210
Lưu vực nằm ở phía Đông nam đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với toàn
bộ đất đai của 4 huyện:
Châu Thành, Giồng Trôm,
Ba Tri, Bình Đại và thành
phố Bến Tre có tổng diện
tích tự nhiên là 133.875ha
Phạm vi của lưu vực sông
Ba Lai có tọa độ địa lý tự
nhiên từ 9048' đến 10019'10"
vĩ độ Bắc; 106009' đến 1060
55' kinh độ Đông, được bao
bọc bởi 3 sông lớn và hàng
trăm sông nhỏ, kênh rạch
khác được giới hạn bởi:Phía
Bắc giáp sông Mỹ Tho, Cửa
Đại; phía Nam giáp sông
Hàm Luông; phía Đông giáp
biển Đông và phía Tây giáp
có dạng yên ngựa Vùng trũng nhất là 2 huyện Bình Đại và Ba Tri với cao độ bình quân 0,5 - 0,75m, vùng cao nhất là địa phận huyện Châu Thành, TP Bến Tre, vùng Tây Bình Đại và Tây Giồng Trôm có cao độ trung bình từ 1.25 - 1.75 m Vùng ven biển có cao độ từ 1.00 - 1.25 m địa hình thấp nhất, khu vực xã Đại Hòa Lộc và Bình Thắng của huyện Bình Đại, khu vực Lạc Địa huyện Ba Tri có cao độ 0.3 - 0.5 m Tỷ lệ địa hình phân theo cao độ được thể hiện trong bảng
Bảng 1.2: Phân bố diện tích theo các cấp cao độ (đơn vị ha)
Độ cao (m) Diện tích Tỉ lệ (%) DT vùng ngọt hóa Vùng mặn ven
biển (Bình Đại – Ba Tri)
Hình 1.4 Bản đồ lưu vực sông Ba Lai
Trang 23(Nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, 2010)
Lưu vực sông được chia cắt bởi nhiều kênh rạch với mục đích phục vụ cho việc vận chuyển nước và vấn đề giao thông thủy Sông Ba Lai có chiều dài 55km
đổ ra biển Đông theo hướng từ Tây sang Đông đi ngang qua trung tâm lưu vực sông Vào mùa khô do lượng nước sông Tiền đổ vào sông Ba Lai nhỏ nên mặn xâm nhập sâu vào phía thượng lưu và vào các kênh, rạch nội đồng
Sông Mỹ Tho - Cửa Đại và Hàm Luông là hai dòng chính chuyển một lưu lượng khá lớn của sông Tiền vào lưu vực sông Ba Lai Ngày nay, do đoạn đầu nguồn của sông Ba Lai
đã bị thoái hóa nên việc chuyển nước ngọt từ sông Tiền vào đầu nguồn sông Ba Lai hầu như không đáng kể, cho nên lượng nước ngọt sông Tiền chỉ còn đổ vào sông Ba Lai từ sông Mỹ Tho qua sông An Hoá và một phần từ sông Hàm Luông qua sông Bến Tre Chiều dài trung bình của các kênh rạch là từ 8 ÷15km tạo thành một mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc và đất đai trong lưu vực sông bị chia cắt thành nhiều khu vực nhỏ làm cho việc ngăn mặn và dẫn ngọt gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là trong mùa kiệt
Xu hướng phát triển của các kênh rạch là chạy theo hướng Bắc Nam, chia lưu vực thành nhiều khu vực nhỏ Nối liền hai sông lớn Mỹ Tho và Hàm Luông là sông An Hoá (từ sông Mỹ Tho đến sông Ba Lai) và đoạn nối tiếp là sông Bến Tre (từ sông Ba Lai đến sông Hàm Luông) Có thể gọi tắt hai sông này sông Bến Tre – An Hoá, không những là một trong những tuyến đường giao thông thủy quan trọng từ khu vực phía nam đến thành phố Hồ Chí Minh mà còn là tuyến dẫn nước ngọt chính từ sông Tiền vào vùng đồng bằng các huyện Châu Thành, Bình Đại, Ba Tri và TP Bến Tre, vì vùng đầu nguồn sông Ba Lai đã bị thoái hóa
1.2.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng
Lưu vực sông Ba Lai nằm trong đồng bằng châu thổ mới hình thành, do sự bồi đắp của sông Mêkông, thuộc dạng đồng bằng trẻ, có nhiều phù sa bồi, có tính thẩm
Trang 2412
thấu mạnh Về mặt thổ nhưỡng có thể chia thành 4 nhóm đất chính chiếm 85%, còn sông rạch chiếm 15% tổng diện tích tự nhiên
Đất mặn: Có diện tích 59.187 ha (44.3%) được phân bố chủ yếu ở phía Tây lưu
vực sông Ba Lai, trong đó phân ra:
- Đất mặn nhiều: có diện tích 3.790 ha (2.8%)
- Đất mặn trung bình: có diện tích 20.417 ha (15.3%)
- Đất mặn ít: có diện tích 20.784 ha (15.5%)
Đất phù sa: có diện tích 39.262 ha (29.3%) được phân bố chủ yếu ở phía Tây
huyện Bình Đại, Giồng Trôm Trong đất này hình thành 2 loại:
- Đất phù sa bồi: phân bố chủ yếu ở ven sông phía Tây có diện tích 6.875 ha
(5.1%);
- Đất phù sa không được bồi có glây: phân bố tập trung ở các vùng trũng nhất
phía tây có diện tích 32.387 ha (24,2%)
Đất phèn: Có diện tích 10.068 ha (7.5%) được phân bố rải rác ở các vùng trũng
trong đó phân ra:
- Đất phèn: có diện tích 2.783 ha, trong đó chỉ có 423 ha đất phèn hoạt động
nông còn lại là hoạt động sâu
- Đất phèn mặn: có diện tích 7.285 ha (5.4%) trong đó đất phèn hoạt động
nông 2.284 ha
Đất giồng cát: có diện tích 5.850 ha (3.7%) được phân bố rải rác ở phía đông
sông Bến Tre – An Hoá có địa hình cao, thành các vòng cung có lưng quay về phía biển
1.2.1.4 Đặc điểm khí hậu
Bến Tre nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới, nên có nhiệt độ cao và ít có sự biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 260C – 270C Khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tháng nóng nhất là vào tháng 5 nhiệt độ 29,10C, tháng mát nhất là vào tháng 12 nhiệt độ khoảng 25,20C
Khí hậu Bến Tre cũng cho thấy thích hợp với nhiều loại cây trồng Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi cho sự quang hợp và phát triển của cây trồng, vật nuôi Tuy nhiên, ngoài thuận lợi trên, Bến Tre cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm nên thường có nạn sâu bệnh, dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm
Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình năm giữa các khu vực trong vùng biến đổi tương đối ổn định, bình quân nhiệt độ cả năm 27,090C (năm 2002); nóng nhất là vào tháng IV: 29,10C, mát nhất vào tháng XII: 25,20C
Trang 2513
Kết quả quan trắc, trong thời kỳ 1991 ÷ 2010, xu thế biến động nhiệt độ ở Bến
Tre bình quân là 0,0820C/năm, diễn ra không đồng nhất giữa các mùa (mùa khô và
mùa mưa) Nền nhiệt độ vào mùa mưa và mùa khô có xu thế tăng cao từ 0,3 ÷ 1,70C
Trong mùa mưa nền nhiệt độ tăng vào tháng VII, VIII khoảng 1,1 ÷ 1,70C Vào mùa
khô nền nhiệt độ tăng tương đối đều
Trong kỳ khảo sát 1996 ÷ 2003, nền nhiệt độ ở Bến Tre trong 5 năm (1997,
1998, 1999, 2000, 2001 và 2002) có nhiệt độ trung bình cả năm vượt trên trung bình
nhiều năm, các năm còn lại ở mức dưới trung bình nhiều năm trở xuống Năm 2009,
nhiệt độ trung bình của tỉnh là 270C và năm 2010 là 27,10C
Bảng 1.3: Nhiệt độ trung bình (oC) tháng trạm Bến Tre
Trang 2614
Trong kỳ khảo sát 1991 ÷ 2009, lượng mưa trung bình năm của toàn tỉnh không cao so với cả nước, biến động từ 966mm ÷ 2.084,6mm, phân bố thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng V đến XI và mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau Lượng mưa năm 2009 tại Bến Tre đạt được 1.317mm
Chế độ ẩm
Độ ẩm trung bình hàng năm ít thay đổi Thống kê qua nhiều năm cho thấy độ ẩm trung bình là 80% Tháng IV là tháng có độ ẩm thấp nhất trong năm (74,8%), tháng VIII có độ ẩm lớn nhất trong năm (83%) Nhìn chung không có sự chênh lệch lớn về
độ ẩm, độ ẩm của các tháng mùa khô thấp hơn từ 5 ÷ 10% độ ẩm của các tháng mùa mưa
Bảng 1.4: Độ ẩm trung bình nhiều năm tại trạm Mỹ Tho
Bảng 1.5: Bốc hơi trung bình nhiều năm tại trạm Mỹ Tho ( mm/tháng)
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Cả năm
Trang 2715
Bốc hơi 111 126 133 129 93 87 90 90 75 72 81 90 1.117
1.2.1.5 Đặc điểm thủy văn, hải văn, nguồn nước
1.2.1.5.1 Đặc điểm mạng lưới sông rạch
Sông lớn:
Khu vực nghiên cứu đề tài có 3 sông lớn nằm trong hạ lưu sông Cửu Long chảy
ra biển Đông là: Sông Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông với tổng chiều dài 232 km và sông Bến Tre - An Hoá dài khoảng 15 km Các sông này nối với hệ thống kênh rạch nội đồng khá phát triển Thông số của các sông lớn như sau:
- Sông Mỹ Tho-Cửa Đại: Là phân giới phía Bắc của vùng dự án có chiều dài 90
km, lòng sông rộng từ 550 2.300 m, cao trình đáy sông từ -7.0 -14m
- Sông Ba Lai: Chảy theo hướng Tây - Đông qua trung tâm vùng Ba Lai có
chiều dài 76 km, lòng sông bị thoái hóa rất nhanh sau khi có kênh đào Bến Tre - Chẹt Sậy – An Hoá cắt ngang qua Từ ngã tư sông Ba Lai – sông An Hóa đến thượng nguồn dài 34km thì chỉ có 12km từ sông An Hoá lên phía thượng lưu cao trình đáy sông từ -4
-1m, còn lại khoảng 20km thì cao trình đáy sông là từ -1 +1,4m, chiều rộng lòng sông rất hẹp gần như bị thoái hoá hoàn toàn nên hầu như ghe thuyền không thể đi lại được Vào mùa kiệt do lượng nước sông Tiền đổ vào sông Ba Lai nhỏ nên mặn xâm nhập sâu vào phía thượng lưu và vào các kênh, rạch nội đồng
- Sông Hàm Luông: Là giới hạn phía Nam vùng dự án có chiều dài 72 km, lòng
sông rộng và sâu, trung bình từ 500 ÷ 700 m, cao trình đáy sông từ -9.0 -13.0 m
Sông nhỏ và hệ thống kênh rạch:
- Sông Bến Tre – An Hoá - Chẹt Sậy: Là sông đào nối giữa sông Hàm Luông với
sông Mỹ Tho và cắt ngang qua sông Ba Lai theo hướng Bắc Nam thành trục giao thông thủy Quốc gia, chiều dài sông là 15 km, lòng sông rộng trung bình từ 200 ÷ 300 m, cao trình đáy sông từ -5.0 -10.0m, chỗ sâu nhất hiện tại tới -16.0m
- Hệ thống kênh rạch nội đồng: phần lớn chảy theo hướng Bắc - Nam, trung
bình cứ 1km có 1 cửa rạch, rộng từ 30 60 m và thu hẹp nhanh về phía nội đồng, độ sâu trung bình từ - 1,5 - 3.0m, tổng chiều dài gần 300 km
Bến Tre là tỉnh duy nhất ở ĐBSCL có rất nhiều cửa sông lớn như cửa Đại, cửa
Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên Với hệ thống nhiều cửa như thế kết hợp với địa hình bằng phẳng, cho nên vào mùa gió chướng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa tỉnh Vào mùa khô lượng mưa trong tỉnh hầu như không có hoặc rất thấp, lượng nước thượng nguồn về ít thì hầu như toàn bộ diện tích của tỉnh bị
Trang 2816
nhiễm mặn cho nên các chế độ về thủy văn của tỉnh Bến Tre là khá phức tạp so với các
tỉnh khác
1.2.1.5.2 Chế độ thuỷ văn
Chế độ thuỷ văn trong khu vực nghiên cứu hàng năm bị chi phối mãnh liệt bởi
chế độ thuỷ triều Biển Đông và dòng chảy thượng nguồn sông Mê Kông qua 2 sông
Mỹ Tho – Cửa Đại và Hàm Luông
Thuỷ triều Biển Đông có dạng bán nhật triều không đều với chu kỳ 24h50', chu kỳ nửa
tháng 13 14 ngày Ngày có 2 đỉnh, 2 chân, chênh lệch giữa 2 đỉnh triều khoảng 0.2
0.3m, chênh lệch giữa 2 chân triều khá lớn 1 2m
Mực nước đỉnh triều bình quân ngày của hầu hết các tháng trong năm thường
đạt trị số lớn hơn +1.0 m, tạo điều kiện tưới tự chảy thuận lợi cho các khu vực đất có
cao độ thấp hơn +0.7 m
Mực nước chân triều bình quân ngày các tháng IX, X ở Mỹ Tho thường đạt trị
số lớn nhất trong năm, chỉ có Hmin < -50 cm, tháng IX có Hmin < -93cm, tháng X có
Hmin < -80 cm, nên vùng dự án hầu như tiêu tự chảy quanh năm
Biên độ triều giảm nhanh từ cửa sông lên thượng lưu, từ mùa kiệt sang mùa lũ
Thống kê tài liệu thủy văn cho thấy trong mùa cạn, sông Tiền được phân phối 52% tổng lượng nước từ thượng nguồn đổ về Tài liệu thực đo mùa kiệt cho thấy lưu lượng
chảy vào đồng bằng là 5.920m3/s, trong đó sông Tiền nhận được một lưu lượng là 3.078m3/s, tương đương với 52% và được phân phối vào sông Ba Lai như sau:
- Phân phối dòng chảy vào mùa khô: 59,0 m3/s tương đương với 1%
- Phân phối dòng chảy vào mùa lũ: 240m3/sntương đương với 1%
Trang 29Chất lượng nước rất kém do nhiễm mặn nên khả năng khai thác nước mặt phục
vụ cho nông nghiệp và sinh hoạt lại rất hạn chế Nước mưa là lượng nước mặt quan trọng bổ sung cho khu vực
Xét về tổng quan, lưu vực sông Ba Lai có mật độ sông rạch tự nhiên và kênh mương khá dày đặc, diện tích đất sông rạch lên đến 1.728ha (chiếm 15,79% diện tích
tự nhiên), đặc biệt chỉ trong phần huyện Ba Tri, tỷ lệ đất sông rạch lên đến 20,16% diện tích tự nhiên, song nguồn nước có chất lượng để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt rất thiếu
Hình 1.5: Kênh 2 chảy ra sông Ba Lai
Nguồn nước ngầm:
Trang 3018
Theo tài liệu nước ngầm của Liên đoàn Địa chất - Thủy văn (Bản đồ tỷ lệ
1/250.000) và kết quả khoan khai thác của chương trình nước sạch nông thôn, trong khu
vực nghiên cứu nước ngầm được chia ra 2 loại: nước ngầm Pleistocen trên đất cát giồng
có số lượng và chất lượng tốt, đảm bảo cho sinh hoạt Nước ngầm tầng sâu khoan ở các
vùng đất mặn có chất lượng rất kém, độ khoáng hóa cao, không sử dụng được cho sinh
hoạt và trồng trọt
Trong khu vực nghiên cứu, nước dưới đất được tồn tại trong các tầng chứa nước
khác nhau Chất lượng nước trong các tầng chứa nước này biến đổi rất phức tạp theo cả
diện rộng cũng như theo độ sâu Dưới đây là những tóm tắt về điều kiện địa chất và
chất lượng nước ngầm ở trong vùng nghiên cứu
- Phức hệ chứa nước lỗ hổng các trầm tích nhiều nguồn gốc Holoxen (QIV)
- Tầng chứa nước Pliocen (m 42)
- Tầng chứa nước Pliocen dưới (m 41)
- Tầng chứa nước Miocen (m 3)
Trong khu vực nước nhạt (M < 1.0g/l) chỉ phân bố chủ yếu ở huyện Châu Thành
và phía Bắc, Tây Bắc TP Bến Tre được tồn tại trong 3 tầng: Pliocen trên (m 42),
Pliocen dưới (m 32)và Miocen (m 3), các khu vực khác nước ngầm đều bị nhiễm mặn
Tuy nhiên nước ở cả ba tầng nước đều bị nhiễm sắt
1.2.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội
1.2.2.1 Dân số - dân cư
Dân số tỉnh Bến Tre đến năm 2009 là 1.255.809 người và theo số liệu thống kê
thì dân số năm 2010 giảm xuống còn 1.252.019 người
Diện tích lưu vực sông Ba Lai chiếm khoảng 58% diện tích toàn tỉnh và dân số
chiếm gần 2/3 toàn tỉnh, trong đó số dân sống tại TP Bến Tre, các thị trấn Châu Thành,
Bình Đại, Giồng Trôm và các vùng thị tứ khác là hơn một nửa dân số Năm 2010 dân
số khu vực nghiên cứu là 834.680 người Vì vậy việc nâng cao chất lượng nông sản,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống, phát triển nuôi
trồng và đánh bắt thuỷ, hải sản, mở rộng công nghiệp chế biến và tăng tỷ trọng dịch
vụ… làm cho nền kinh tế tỉnh Bến Tre nói chung và trong khu vực nghiên cứu nói
riêng phát triển mạnh theo hướng kinh tế thị trường và đây cũng chính là áp lực lớn
cho môi trường sinh thái Đa phần người nghèo thường sống ở các vùng nhạy cảm về môi
trường Trong khu vực nghiên cứu cũng như trong các địa phương khác ở Bến Tre, vấn đề
nhà ở còn rất bức xúc đa phần là nhà tạm, vật liệu thô sơ
Trang 31số tại các vùng phân bố không đồng đều giữa các khu vực hành chính (TP Bến Tre) và các huyện
1.2.2.2 Kinh tế
Nền kinh tế trong vùng chủ yếu dựa vào sản xuất lúa, trồng dừa và trong những năm gần đây dựa vào đánh cá và nuôi trồng thủy sản (chủ yếu là nuôi tôm, cá da trơn) Hơn 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp Trong khi đó khả năng và dinh dưỡng của đất ngày càng kém, đồng thời đất ngày càng bị nhiễm mặn và chua Hầu hết người dân sống nhờ vào canh tác tự cấp qui mô nhỏ Tuy nhiên gần đây họ phải tìm kiếm các hoạt động tạo thu nhập khác Tỷ lệ thất nghiệp chính thức là khoảng từ 5 8%
1.2.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Cây trồng: Về cơ cấu cây trồng của tỉnh Bến Tre khá đa dạng, trong đó có các
cây trồng chủ yếu là lúa, cây công nghiệp và cây ăn quả Cơ cấu cây trồng cũng
đã có sự chuyển dịch khá lớn Tỷ trọng cây ăn quả đã tăng đáng kể và trở thành loại cây trồng chủ lực Trong khi đó với thời gian tương ứng, tỷ trọng cây lúa
cũng đã giảm Cụ thể:
Cây dừa là cây công nghiệp lâu năm, chiếm một diện tích khá lớn là 27.329 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Giồng Trôm (13.007 ha), Bình Đại (5.840 ha), Châu Thành (5.541 ha), Ba Tri (1.413 ha), Tp Bến Tre (1.528 ha) với diện tích bằng 43,36% diện tích đất trồng lúa Sản lượng dừa đạt 239.400 tấn, bình quân 8,76 tấn/ha
Cây lúa chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu lương thực của tỉnh nhưng diện tích lúa của tỉnh Bến Tre thuộc loại thấp nhất so với các tỉnh ĐBSCL Và diện tích lúa tiếp tục giảm, phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu lúa được chuyển
Trang 3220
đổi heo hướng có nagn8 suất cao, chất lượng đạt tiêu chuẩn xuất khẩu Diện tích công tác lúa trong khu vực nghiên cứu năm 2009 là 63.780 ha, sản lượng đạt 304.145 tấn, đạt năng suất 4,77 tấn/ha, bình quân đầu người đạt 399kg/đầu người
Năm 2010 diện tích gieo trồng lúa là 69.927ha Sản lượng lúa đạt 323.021 tấn, năng suất lúa đạt 46,19 tạ/ha, bình quân đạt 402kg/đầu người Tuy diện tích lúa giảm, nhưng nhờ gieo cấy giống lúa ngắn ngày nên năng suất tăng lên, tuy nhiên chi phí đầu vào là khá cao nên nông dân đã gặp rất nhiều khó khăn Riêng vụ đông xuân 2010, diện tích 21.063 ha, năng suất bình quân 57,54 tạ/ha, sản lượng 121.194 tấn
Hình 1.6: Trồng dừa tại huyện Bình Đại
Một số huyện chuyển đất lúa sang mục đích khác, như: Mỏ Cày Nam trồng cây
ăn trái và dừa; Châu Thành chuyển sang đất thổ cư Riêng ở 3 huyện biển, diện tích lúa tăng hơn 700 ha, nhờ các công trình thủy lợi ngăn mặn, trữ ngọt đã từng bước hoàn thiện và dần phát huy tác dụng Cây màu lương thực và thực phẩm tiếp tục phát triển khá trên diện tích chuyên canh lẫn luân canh, do duy trì được phong trào đưa cây màu xuống ruộng
Đầu năm 2010, tổng diện tích cây màu gieo trồng ước đạt 5.413 ha, tăng 17,5%
so cùng kỳ; chủ yếu là bắp, khoai lang, khoai mì; rau đậu các loại Cây mía có diện tích 5.865 ha, với sản lượng 406.056 tấn Diện tích mía tiếp tục giảm, chuyển sang cây trồng khác hiệu quả kinh tế cao hơn Cây dừa có diện tích 50.324 ha, dự kiến sản lượng thu hoạch trong 6 tháng đầu năm 2010 hơn 190 triệu trái; trong đó trồng mới 502 ha Nông dân trong tỉnh đã tiến hành thâm canh vườn dừa kết hợp trồng xen, nuôi xen,
Trang 3321
triển khai dự án trồng mới 5.000 ha dừa, dự án thâm canh 1.000 ha dừa, dự án 10.000
ha ca cao phục vụ xuất khẩu
Diện tích cây ăn trái có 32.465 ha, dự kiến sản lượng trong 6 tháng đầu năm là 165.363 tấn, diện tích trồng mới là 690 ha Nông dân tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực, đạt năng suất và chất lượng cao, tập trung thâm canh và phát triển bưởi da xanh, cam soàn, sầu riêng, măng cụt Đồng thời, nông dân còn nhân rộng các mô hình trồng cây ăn trái theo hướng VietGap và GlobalGap
Cây mía phát triển ở những vùng nước lợ trên đất mới lên liếp từ ruộng trũng (phát triển chủ yếu là ở Giồng Trôm và Ba Tri), các giống phổ biến là Comus, Co 715,
775, F 156, Nco 310… Nhưng tổng diện tích mía trong khu vực có diễn biến giảm sau khi có công trình thủy lợi đi vào hoạt động
Năm 2009 diện tích cây cacao trồng xen trong vườn là 3.771 ha sản lượng 16.435 tấn, năng 4,86 tấn/ha Năm 2010 diện tích cây cacao tăng lên 4.421 ha, sản lượng 19.247 tấn, nhưng năng suất giảm chỉ còn 4,35 tấn/ha Ngoài ra, khu vực hiện còn đang phát triển mạnh cây ca cao với các giống tốt như: TD1TD2, TD3TD5, TD6TD8, TD10TD14, TC5, TC7TC11,TC12, TC13
1.2.2.2.2 Chăn nuôi
Chăn nuôi chưa trở thành ngành sản xuất chính trong khu vực, giá trị sản lượng chăn nuôi chỉ mới chiếm khoảng 21 ÷ 25% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp Vật nuôi được nông dân chú trọng phát triển là heo, trâu bò và các loại gia cầm như gà, vịt, ngan, ngỗng, , định hướng phát triển trong chăn nuôi là tiếp tục phát triển đàn heo theo hướng nạc hóa, cải thiện giống và điều kiện chăn nuôi, tăng năng suất xuất chuồng Phục hồi dần đàn gia cầm chuyên thịt và chuyên trứng tập trung theo hình thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp Đẩy mạnh tốc độ sind hóa đàn bò, tăng năng suất
và chất lượng thịt, ổn định và gia tăng tổng đàn Ngoài ra tiếp tục quan tâm đa dạng hóa vật nuôi, đặc biệt là loại hình chăn nuôi dê, thỏ, cừu đang có nhiều triển vọng Hình thức chăn nuôi chủ yếu vẫn là kinh tế hộ gia đình, đồng thời chú trọng khuyến khích tăng dần qui mô nuôi Nâng tỷ trọng giá trị chăn nuôi cân đối dần với trồng trọt trong cơ cấu ngành nông nghiệp
Bảng 1.8: Số lượng gia súc, gia cầm nuôi trong khu vực
(con)
Bò (con)
Heo (con)
Gia cầm (con)
Trang 34Hình 1.7: Chăn nuôi gia cầm trong hộ gia đình
Thủy sản cũng được xem là ngành kinh tế chủ đạo của tỉnh, đóng một phần quan trọng trong tổng thu nhập, khu vực nghiên cứu khá mạnh về thủy hải sản tập trung ở hai huyện Bình Đại và Ba Tri
Hiện nay 2 huyện Bình Đại và Ba Tri đã hình thành các ngư trường nuôi tôm xuất khẩu với diện tích khoảng 1.200 ha theo hình thức bán thâm canh, với năng suất khoảng 1.500 kg/ha Hầu hết diện tích nuôi trồng thủy hải sản còn mang tính quảng canh là chính
Trang 3523
Tình hình dịch bệnh trên tôm năm 2009 và 2010 có giảm so với vụ nuôi của các năm trước do người nuôi tuân thủ các quy trình kỹ thuật, cải tạo ao, quản lý tốt chất lượng con giống, chấp hành tốt lịch thời vụ Vùng nuôi tôm quãng canh cải tiến, tôm xen rừng khá ổn định Nuôi thủy sản vùng ngọt phát triển mạnh, nhất là nuôi cá da trơn
ở 2 huyện Châu Thành và Chợ Lách; diện tích tăng khá nhanh, có đến 495 ha thả giống nuôi Nuôi xen tôm càng xanh trong mương vườn phát triển đều khắp ở các huyện, riêng hình thức sản xuất một vụ tôm sú, một vụ tôm càng xanh-lúa phát triển mạnh ở Thạnh Phú và đạt hiệu quả khá cao
Trong điều kiện thời tiết, khí hậu, dịch bệnh và giá cả hàng nông sản còn diễn biến phức tạp, nhưng hoạt động nông nghiệp vẫn tiếp tục giữ vững nhịp độ phát triển
Đó là nhờ ngành nông nghiệp đã tập trung lãnh đạo nông dân khai thác tốt tiềm năng
và lợi thế của từng vùng sinh thái, nâng cao chất lượng và hiệu quả cây trồng, vật nuôi theo hướng đẩy mạnh đầu tư thâm canh, chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường Diện tích nuôi cá tra thâm canh, trồng dừa mới, trồng ca cao xen trong vườn dừa, vườn cây ăn trái tăng nhanh Nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm được khôi phục và phát triển Sản lượng nông nghiệp không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng Hoạt động khai thác thủy sản được tiếp tục phát triển theo chiều sâu, số tàu thuyền khai thác xa bờ, sản lượng khai thác tăng
Hình 1.8: Nuôi cá da trơn tại huyện Bình Đại
1.2.2.3 Tình hình xã hội
1.2.2.3.1 Y tế
Trang 3624
Mạng lưới y tế từ tuyến tỉnh xuống xã đã được đầu tư, cải tạo và nâng cấp Công tác khám và chữa bệnh ở các bệnh viện ngày càng được nâng cao về chất lượng, cơ sở vật chất và trang thiết bị khám chữa bệnh tiếp tục được đầu tư nâng cấp, những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong điều trị cũng được ứng dụng đạt hiệu quả cao Các chương trình y tế quốc gia đạt kết quả khá tốt Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố hoàn thiện, tính đến nay toàn tỉnh có 100% xã, phường có y sĩ sản nhi và nữ hộ sinh, xã có y
tế ấp đạt 97,5%, 82% ấp có nhân viên y tế, 62 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 208 làng văn hóa sức khỏe
Tóm lại, vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe của tỉnh Bến Tre nói chung và của khu vực nghiên cứu nói riêng còn gặp nhiều khó khăn cả về con người và cơ sở vật chất đặc biệt đối với những vùng sâu vùng xa
1.2.2.3.2 Giáo dục
Việc thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục đạt kết quả khả quan, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 95,63%, phổ cập giáo dục trung học cơ sở đạt 96,87% Tỉ
lệ người mù chữ trong độ tuổi 15 ÷ 35 còn 2,57%
Tóm lại, trình độ học vấn của cư dân trong khu vực không đồng đều do yếu tố
đô thị hoá Khu vực dân cư có trình độ học vấn cao nhất là Thành phố và thị trấn, khu vực có trình độ học vấn thấp đều thuộc các huyện ven biển như Ba Tri, Bình Đại
Các xu hướng chung: Hầu hết đời sống văn hóa, vật chất, tinh thần của nhân
dân trong tỉnh đều khá hơn những năm trước đây, họ có thu nhập cao hơn, tiết kiệm nhiều hơn
1.2.2.3.3 Cơ sở hạ tầng
Điện
Mạng truyền tải điện có tuyến duy nhất từ Mỹ Tho sang khu vực nghiên cứu
110 KV, dài: 18 km, khả năng tải 72 MVA Các trạm biến áp 110/22/15 KV Tân Thành (1x 25 MVA) Điện đã kéo về 100% số xã phường trong khu vực (104/104 xã), trong đó số hộ dùng điện 99% Điện sử dụng trong sản xuất nông nghiệp chiếm 15%
Tóm lại, nhờ có điện đã hỗ trợ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp phát triển, cải thiện điều kiện sống cho dân cư nông thôn, nhất là về sinh hoạt tinh thần Song, để phát huy hiệu quả cao cần tiếp tục đầu tư điện khí hóa nông thôn, sử dụng điện trong sản xuất nông nghiệp nhiều hơn
Giao thông:
Trong những năm qua giao thông khu vực được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp rất nhanh, các tuyến đường chính gồm: Quốc lộ 60 và các trục đường tỉnh 881,
Trang 3725
882, 883, 884, 885, 886, 887, 888 đã trải nhựa, giao thông đi lại khá thuận lợi, đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông là những cầu lớn nối liền tỉnh Bến Tre với các tỉnh khác đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đã mang lại những lợi ích kinh tế rất lớn không những cho nhân dân tỉnh Bến Tre mà còn cho các tỉnh khác ở vùng ĐBSCL Vừa qua Chính phủ đã phê duyệt dự án cầu Cổ Chiên nối Bến Tre và Trà Vinh và sẽ được khởi công xây dựng trong năm 2011 Khi cầu này được xây dựng xong đường giao thông nối Bến Tre với các tỉnh ĐBSCL gần như là hoàn chỉnh tạo điều kiện rất thuận lợi cho phát triển kinh tế trong khu vực
Theo thống kê tính đến cuối năm 2009 có 100% số xã có đường ô-tô trải nhựa đến trung tâm xã, ngoài ra một số ấp cũng đã có đường ôtô Bên cạnh đó, với chủ trương nhà nước và nhân dân cùng làm đã có bước cải thiện mạnh mẽ về giao thông nông thôn góp phần nâng cao khả năng lưu thông và phát triển nông nghiệp Hệ thống giao thông nông thôn ở KVNC rất tốt, hầu hết các thôn ấp đều có đường bêtông đã được xây dựng theo hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm
Cấp nước sinh hoạt:
Theo số liệu của Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường, trong khu vực có 1.902 giếng khoan và 630 giếng đào, ngoài ra, đã cung cấp cho hộ nông dân: 15.000 lu chứa nước (dung tích 200 lít/lu), 520 bể chứa (dung tích 4,0 m3/bể) và bể chứa nhỏ loại dung tích 1,0m3 là: 180 bể
Hình 1.9: Hình ảnh các lu chứa nước tại hộ gia đình
Trang 3826
Nói chung, việc cấp nước sinh hoạt ở đây đã được cải thiện nhiều trong những năm qua tuy nhiên tỷ lệ sử dụng nước sạch vẫn thấp so với các tỉnh ĐBSCL và đang là một thách thức lớn, nhất là các hộ nghèo
1.2.2.4 Môi trường
1.2.2.4.1 Thực vật
Khu hệ thực vật tự nhiên (rừng mắm, đước, bần) của khu vực chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển và thực vật ven sông rạch Rừng ngập mặn là nơi cư trú, sinh sản, phát triển, cung cấp thức ăn cho các loại thủy sản ven biển Rừng ngập mặn còn là nơi
cư trú, sinh sống của các loài chim, thú rừng, là nơi lưu trữ nguồn gien góp phần bảo vệ
đa dạng sinh học
Trên các giồng cát, trước đây là các cây thân gỗ thuộc các họ sao, dầu, họ trôm xen lẫn một số vết tích của rừng ngập mặn còn sót lại ở chân các giồng như các loại tra, tra lầm vồ, cùi, mù u
1.2.2.4.2 Thủy sinh và động vật trên cạn
Dựa vào kết quả nghiên cứu trước đây về môi trường nước, cơ sở thức ăn tự nhiên, cho phép chia KVNC ra thành 2 vùng phụ:
- 133 loài tảo, trong đó giống tảo silic có nguồn gốc biển chiếm 83,3%
- 24 giống loài động vật nổi (60% giống loài có nguồn gốc mặn lợ)
- 61 loài động vật đáy (giáp xác, nhuyễn thể, giun nhiều tơ, ) nguồn gốc biển chiếm ưu thế
Bên cạnh đó đàn cá, tôm kinh tế và các loài hải sản khác cũng đã được phát hiện
ở vùng nước lợ - mặn, bao gồm: 61 loài cá, trong đó 24 loài thuộc 9 họ cá thích ứng với vùng nước lợ, 18 loài thuộc 8 họ cá biển di cư vào nước lợ, 16 loài thuộc 7 họ cá từ biển di cư vào nước lợ và nước ngọt, 3 loài thuộc 2 họ cá từ nước ngọt di cư đến,
Vùng nước ngọt:
Đối với hệ thủy sinh vùng nước ngọt, kết quả khảo sát đã phát hiện được 105 loài tảo (tảo silic 55 loài chiếm 52,38%, tảo lam 23 loài chiếm 21,9%, tảo lục 14 loài chiếm 13,33%), 28 loài động vật nổi (trùng bánh xe 9 loài - 31,14%, râu ngành 6 loài - 21,43%, động vật đơn bào 5 loài - 17,86%, chân chèo 4 loài - 14,28%, thâm mềm 2 loài - 7,14%, 51 loài động vật đáy (giáp xác 24 loài chiếm 41,17%, ốc nước ngọt 14
Trang 39Động vật trên cạn: Kết quả thống kê động vật trên cạn cho thấy: có 27 loài bò
sát, 8 loài lưỡng thê, 16 loài thú và đặc biệt có 80 loài chim
1.3 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2020 CHO LƯU VỰC SÔNG BA LAI
1.3.1 Ngành nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản
1.3.1.1 Ngành nông nghiệp
Phương hướng phát triển chung
Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng Thúc đẩy ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản nhằm nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích Củng cố vùng nuôi và đánh bắt thủy sản phục vụ cho sản xuất công nghiệp chế biến thủy hải sản Gắn phát triển nuôi trồng
và đánh bắt thủy sản với sản xuất công nghiệp chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm
Xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung; phát triển các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao; gắn sản xuất với bảo quản, chế biến và tiêu thụ Nâng cao chất lượng hàng nông sản; từng bước tạo dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước
Những năm tới để phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng trên địa bàn tỉnh Bến Tre cũng như trên địa bàn huyện Bình Đại thì đất nông nghiệp sẽ giảm để ưu tiên cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng như phát triển các công trình xây dựng và công trình công cộng khác Do đó, sản xuất nông nghiệp các huyện trong thời gian tới cần tập trung đi vào đầu tư thâm canh, ứng dụng công nghệ sinh học
Giá trị sản xuất nông nghiệp
Mặc dù diện tích đất sản xuất trồng trọt có bị giảm, nhưng sẽ áp dụng các biện pháp kỹ thuật để thâm canh cây trồng, cũng như phát triển nuôi các loại con có giá trị kinh tế cao nên giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp vẫn có xu hướng tăng trong những năm tới Dự báo tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 là 12%/năm và giai đoạn 2016-2020 là 8%/năm; cả giai đoạn 2011-2020 là 10%/năm Nguyên nhân là do giai đoạn 2016-2020 chủ yếu đầu tư vào chiều sâu, các bước đột phá đã được ưu tiên tập trung vào giai đoạn 2011-2015 nên tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất nông nghiệp ở giai đoạn 2016-2020 đạt thấp hơn Trong đó, giá trị
Trang 4028
sản xuất ngành chăn nuôi tăng cao nhất, với các tỷ lệ tương ứng là 16,6%/năm; 14,3%/năm; 15,4%/năm Riêng giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng chậm hơn với các
tỷ lệ tương ứng là 10,6%/năm; 5,4%/năm; 7,9%/năm
Trong những năm tới sẽ có sự chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt sẽ giảm dần từ 78,4% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2010 xuống 73,6% năm 2015 và 65% năm 2020 Ngược lại, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi sẽ có xu hướng tăng trong cơ cấu với các tỷ trọng tương ứng là 21,6%; 26,4%; 35%
Phương hướng phát triển ngành trồng trọt
Chọn giống cây trồng có chất lượng để tăng năng suất cây trồng vật nuôi, xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh, tập trung, phát triển và nhân rộng các mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững, trên quan điểm phát triển nông nghiệp gắn với việc bảo quản chế biến, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm hàng hóa nông nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Ngoài ra, chú ý đến việc cải thiện môi trường sinh thái, tạo cảnh quan đẹp kết hợp đáp ứng cho nhu cầu du lịch của huyện và tỉnh
Tập trung đầu tư cải tạo và kiến thiết lại đồng ruộng Hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi để đáp ứng đủ cho nhu cầu tưới tiêu
Thực hiện các giải pháp kỹ thuật trong đó đẩy mạnh việc thực hiện cơ giới hóa trong các khâu sản xuất
Tiếp tục thử nghiệm để chọn lựa được những giống cây, con có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương
Phương hướng phát triển ngành chăn nuôi
Phát triển theo hướng tập trung để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị hàng hóa Bên cạnh đó phải chú trọng đến công tác kiểm soát dịch bệnh, vệ sinh thú y,
an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo đảm môi trường nuôi trong sạch Ngoài những đối tượng con nuôi hiện có, sẽ nghiên cứu để phát triển những đối tượng con nuôi khác có hiệu quả kinh tế cao mà có thể phù hợp với điều kiện nuôi trên địa bàn Bình Đại (nghề nuôi chim yến…)
Phát triển theo hướng tập trung, công nghiệp, để nâng cao năng suất, chất lượng
và giá trị hàng hóa Bên cạnh đó phải chú trọng đến công tác kiểm soát dịch bệnh, vệ sinh thú y, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo đảm môi trường nuôi trong sạch
Bảng 1.9: Dự kiến các chỉ tiêu ngành trồng trọt năm 2010 - 2020
Diện tích/sản lượng Năm 2020