Chất thải từ các cơ sở như khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung cũng như riêng lẻ, ở gần các đầm và ven biển, bãi đậu thuyền cộng với hoạt động sinh hoạt hàng ngày thiếu ý thức bảo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC KHU VỰC CỬA BÉ, NHA TRANG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC CỬA BÉ
SVTH: LÊ THỊ MAI
MSSV: 610481B
LỚP: 06MT2N
Ngày giao nhiệm vụ luận văn: ngày tháng năm
Ngày hoàn thành luận văn: ngày tháng năm
TP HỒ CHÍ MINH, Ngày tháng 01 năm 2007 Giảng viên hướng dẫn
(Ký ghi rõ họ tên)
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC KHU VỰC CỬA BÉ, NHA TRANG ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG KHU VỰC CỬA BÉ
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ THANH MỸ SVTH: LÊ THỊ MAI
MSSV: 610481B LỚP: 06MT2N
TP HỒ CHÍ MINH: THÁNG 01/2007
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học bốn năm ở trường tôi luôn mong được đi thăm quan các công ty, nhà máy, xí nghiệp nơi đây đã cho tôi một cái nhìn bao quát và hiểu được ý nghĩa ngành tôi học, giời đây tôi có thực hiện được những ước vọng của mình
Xin cảm ơn sự hướng dẫn của bác Phạm Văn Thơm, cô Lê Thị Vinh, chú Lê Trọng Kiểm, chú Phạm Hữu Tâm và cô Nguyễn Hồng Thu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể trực tiếp tiến hành những nghiên cứu tại phòng thí nghiệm trong quá trình thực hiện thu mẫu tại hiện trường và phân tích mẫu, xử lý số liệu để hoàn thành bài luận văn
Tôi xin gởi lời cảm ơn tới ThS Nguyễn Thị Thanh Mỹ giáo viên hướng dẫn luận văn đã ân cần chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn trường Đại Học Bán Công Tôn Đức Thắng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên chúng tôi trong quá trình học tập để hoàn thành khoá học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu của bác, các cô chú trong phòng Thuỷ Địa Hoá viện Hải Dương Học và cô Nguyễn Thị Thanh
Mỹ
Tôi xin gởi lời chúc tới toàn thể gia đình bác, các cô chú phòng Thuỷ Địa Hoá
và cô Nguyễn Thị Thanh Mỹ luôn luôn mạnh khoẻ và hạnh phúc; chúc mọi người luôn hoàn thành công tác tốt nhất và có những nghiên cứu giúp ích cho xã hội
Tp Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 01 năm 2007 Sinh Viên Thực Hiện
Lê Thị Mai
Trang 4MỤC LỤC
trang
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH 4
1 Danh mục bảng 4
2 Danh mục hình 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 6
1.1 Sự cần thiết của đề tài 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
1.3 Nội dung nghiên cứu 7
1.4 Thời gian nghiên cứu 7
1.5 Địa điểm thực hiện nghiên cứu 7
1.6 Phương pháp nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CÁC VỰC NƯỚC VEN BỜ 9
2.1 Tổng quát về ô nhiễm môi trường các vực nước ven bờ 9
2.1.1 Những đặc trưng về điều kiện sống 9
2.1.2 Các hoạt động kinh tế trong vùng biển ven bờ 10
2.1.2.1 Khai thác thủy sản 10
2.1.2.2 Nuôi trồng thủy sản 11
2.1.2.3 Phát triển giao thông thủy 12
2.1.2.4 Phát triển du lịch 12
2.1.2.5 Các hoạt động kinh tế khác 13
2.1.3 Khái niệm ô nhiễm môi trường nước 14
2.1.4 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước 20
Trang 52.1.4.1 Nước thải công nghiệp 20
2.1.4.2 Nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản 20
2.1.4.3 Nước thải sinh hoạt từ khu dân cư 20
2.1.4.4 Nước thải từ hoạt động nông nghiệp 21
2.1.4.5 Chất gây ô nhiễm từ các nguồn tự nhiên 21
2.2 Hiện trạng chất lượng môi trường ở tỉnh Khánh Hoà và khu vực nghiên cứu 21
2.2.1 Tỉnh Khánh Hoà 21
2.2.2 Khu vực Cửa Bé 31
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP LẤY VÀ PHÂN TÍCH MẪU 34
3.1 Địa điểm lấy mẫu 34
3.2 Tần suất & thông số phân tích 34
3.3 Phương pháp thu mẫu, xử lý, bảo quản, phân tích mẫu 36
3.3.1 Phương pháp thu mẫu 36
3.3.2 .Phương pháp bảo quản mẫu 36
3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu nước 36
3.4 Xử lý số liệu 37
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHU VỰC CỬA BÉ 39
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu 39
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
4.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 39
4.1.1.2 Điều kiện khí tượng thuỷ văn 39
4.1.2 Kinh tế xã hội 40
4.2 Hiện trạng môi trường nước 41
4.2.1 Đợt khảo khát tháng 10 năm 2006 41
4.2.2 Đợt khảo sát tháng 12 năm 2006 42
Trang 64.3 Đánh giá hiện trạng môi trường 45
4.3.1 Môi trường nước 45
4.3.2 Môi trường chất thải rắn 51
4.3.3 Môi trường không khí 52
4.4 Các nguồn (có khả năng) gây ô nhiễm môi trường nước khu vực Cửa Bé, Nha Trang 54
4.4.1 Nguồn thải từ hoạt động dân sinh 54
4.4.2 Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản 54
4.4.3 Nguồn thải từ hoạt động công nghiệp 56
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ 59
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 66
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
trang
1 Danh mục bảng
Bảng 2.1 : Thống kê tàu thuyền và phương tiện đánh bắt tại một số thủy vực ven bờ miền
Trung 11
Bảng 2.2: Phân bố diện tích nuôi trồng thủy sản trong một số thủy vực ven bờ miền Trung (1996) 12
Bảng 2.3 : Giá trị trung bình của một số yếu tố tại các cống thải vào 2004 22
Bảng 2.4: Giá trị trung bình của các yếu tố tại trạm xử lý năm 2004 23
Bảng 2.5: Giá trị trung bình của các yếu tố tại các cống thải năm 2004 24
Bảng 2.6: Hàm Lượng kim loại nặng trong trầm tích ở cảng Hyundai-Vinashin năm 2004 – 2005 25
Bảng 2.7: Hàm lượng HC trong trầm tích bãi triều khu vực nhà máy Hyundai-Vinashin 26
Bảng 2.8: Tổng hợp nước thải ngành công nghiệp và chế biến thực phẩm (theo khu vực) 26
Bảng 2.9: Tổng hợp nước thải ngành công nghiệp và chế biến thực phẩm 27
Bảng 2.10 : Hiện trạng nhiểm bẩn của các vực nước ven bờ tỉnh Khánh Hoà 29
Bảng 2.11: Lượng chất thải y tế thu gom ở Khánh Hòa năm 2004 31
Bảng 2.12: Một số yếu tố đặc trưng của môi trường không khí 32
Bảng 2.13: Hệ số ô nhiễm (HSÔN) của các yếu tố trong nước ven bờ tại khu dân cư 32
BẢng 4.1 : Giá trị thống kê các yếu tố môi trường khu vực Cửa Bé 43
Bảng 4.2: Một số yếu tố môi trường trung bình qua các năm của cầu Bình Tân 49
Bảng 4.3: Chất lượng môi trường nước khu vực Cửa Bé 49
Bảng 4.4: Giá trị trung bình hàm lượng các chất ô nhiễm có trong không khí tại trạm Bình Tân qua các năm 52
Bảng 4.5: Hàm lượng một số yếu tố tại khu vực cống nước thải khu dân cư Cửa Bé 54
Trang 8Bảng 4.6: Hàm lượng một số yếu tố tại ao nuôi tôm Sú khu vực Cửa Bé 55 Bảng 4.7: Giá trị các yếu tố trong thành phần nước thải nhà máy chế biến 57
2 Danh mục hình
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí các trạm thu mẫu nước 35 Hình 4.1: Biến động một số yếu tố tại các trạm theo 2 đợt khảo sát 47 Hình 4.2: Sự biến đổi hàm lượng trung bình một số yếu tố theo thời gian tại trạm cầu Bình Tân 50 Hình 4.3: Biến động hàm lượng trung bình các chất ô nhiễm có trong không khí tại trạm Bình Tân qua các năm 53
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD: nhu cầu oxy sinh hoá
COD: nhu cầu oxy hoá học
DO: hàm lượng oxy hoà tan
Trang 9CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Khánh Hoà là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ, có quần đảo Trường sa nằm ở điểm cực Đông Việt Nam Tỉnh Khánh Hoà có bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp, cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, di tích lịch sử, văn hoá phong phú, đặc biệt là vịnh Vân Phong
và bãi biển Nha Trang Vịnh Nha Trang đã được công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới và có một hệ thống dịch vụ - du lịch khá hoàn hảo, đã đang và sẽ xây dựng Khu
du lịch bắc bán đảo Cam Ranh sẽ trở thành một khu du lịch sôi động và cao cấp bên cạnh sân bay quốc tế Cam Ranh Nguồn lợi biển phong phú, diện tích nuôi trồng thủy sản lớn cho phép phát triển mạnh ngành đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy, hải sản
Theo kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây ở các tỉnh ven biển miền Trung nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng, việc tăng cường và mở rộng nuôi trồng thủy sản, đang được xem là một giải pháp nhằm giảm bớt sức ép đến khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ, đã mang nhiều lợi ích kinh tế Tuy nhiên, mặt trái của nó là các tác động tiêu cực tới môi trường cũng đã diễn ra do sự phát triển thiếu quy hoạch, tự phát và trình độ dân trí chưa cao
Bên cạnh đó nền công nghiệp của tỉnh Khánh Hoà cũng phát triển mạnh trong những năm gần đây Chất thải từ các cơ sở như khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung cũng như riêng lẻ, ở gần các đầm và ven biển, bãi đậu thuyền cộng với hoạt động sinh hoạt hàng ngày thiếu ý thức bảo vệ môi trường của dân cư đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm cục bộ khá nghiêm trọng
Vì vậy chúng ta cần có các nghiên cứu để tìm hiểu hiện trạng các vực nước và xác định các nguyên nhân gây ô nhiễm Kết quả các nghiên cứu này sẽ là cơ sở khoa học cần thiết cho việc quy hoạch (các khu nuôi trồng, khu công nghiệp) và đề ra những giải pháp bảo vệ môi trường hữu hiệu Đó là tiền đề cho sự phát triển kinh tế bền vững Tuy nhiên, hiện nay ở Khánh Hoà một số khu vực tập trung có nguy cơ bị ô nhiễm vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ như khu vực Cửa Bé, Nha Trang Trên cơ sở đó tôi đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp với chủ đề:
“Đánh giá hiện trạng chất lượng nước khu vực Cửa Bé, Nha Trang Đề xuất
giải pháp quản lý bảo vệ môi trường khu vực Cửa Bé.”
Trang 10Nhằm góp phần vào việc xác định cơ sở dữ liệu về hiện trạng môi trường nước của khu vực và có những đề xuất, trong công tác quản lý của khu vực náy
Tuy nhiên, thời gian thực hiện đế tài chỉ có 3 tháng, kinh phí hạn và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để báo cáo được hoàn thiện hơn
Hy vọng việc thực hiện đề tài này sẽ cung cấp được những thông tin có ích góp phần bảo vệ môi trường khu vực Cửa Bé nói riêng và vịnh Nha Trang
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước khu vực Cửa Bé (cửa sông Đồng Bò)
- Để xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và các giải pháp quản lý chất lượng nước khu vực Cửa Bé
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều kiện tự nhiên khu vực Cửa Bé, Nha Trang
- Hiện trạng kinh tế – xã hội khu vực Cửa Bé, Nha Trang
- Đặc tính lý hóa học và vi sinh của môi trường nước khu vực Cửa Bé, Nha Trang
- Xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến môi trường chất lượng nước khu vực Cửa Bé
- Đế xuất các biện pháp quản lý bảo vệ chất lượng nước khu vực Cửa Bé
1.4 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện từ ngày 05/10/2006 đến ngày 31/12/2006
1.5 ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU
- Khu vực Cửa Bé (cửa sông Đồng Bò) nằm ở phía tây nam vịnh Nha Trang: khảo sát, thu mẫu, thu thập số liệu, nghiên cứu
- Phòng Thủy Địa Hoá – Viện Hải Dương Học Nha Trang: phân tích mẫu, nghiên cứu xử lý số liệu và viết báo cáo
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thẩm vấn cộng đồng: điều tra thông qua phỏng vấn các nhà quản lý và nhân dân
Trang 11- Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu: các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các hoạt động sản xuất quanh khu vực Cửa Bé được thu thập qua các cơ quan chuyên trách, chính quyền địa phương: phòng nông nghiệp và phát triển Nông Thôn
- Khảo sát thực địa, lựa chọn vị trí trạm thu mẫu (tham khảo các công trình nghiên cứu về khu vực Cửa Bé (cửa sông Đồng Bò) chưa và đã công bố)
- Lấy mẫu và thực hiện đo đạc một số chỉ tiêu tại hiện trường
- Phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm
- Thống kê và xử lý số liệu, vẽ biểu đồ
Trang 12CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG CÁC VỰC
NƯỚC VEN BỜ 2.1 TỔNG QUÁT VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VỰC NƯỚC VEN BỜ
2.1.1 NHỮNG ĐẶC TRƯNG VỀ ĐIỀU KIỆN SỐNG
Các vực nước ven bờ (nhất là khu vực cửa sộng) có độ muối biến thiên trong phạm vi rộng từ < 1‰ đến hơn 30‰ Tương tự, các yếu tố môi trường khác (nhiệt độ, độ trong suốt, hàm lượng các khí và muối dinh dưỡng…) cũng thay đổi nhiều theo không gian và thời gian
Vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh là nơi đang phát triển và đầy biến động (các
hệ thống sông nước ta hàng năm chuyển ra biển hơn 830 tỷ m3 nước ngọt, lượng bùn cát trung bình 200 triệu tấn và trên 100 triệu tấn các chất hòa tan (Vũ Trung Tạng, 1994) nhưng lại là nơi cư trú của những quần xã sinh vật ổn định và có năng suất cao
Do hoạt động tương tác sông biển mà các yếu tố môi trường trước hết là nồng độ muối, biến động rất mạnh tạo ra một môi trường luôn bất ổn định theo thời gian và không gian Trong hoàn cảnh như thế, vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh lại là nơi phân bố những quần xã sinh vật ổn định, thích nghi với điều kiện rất biến động của môi trường Vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh là nơi cư trú (habitat) bắt buộc đối với nhiều loài trong một giai đoạn nhất định của đời sống; thí dụ cá hồi phải chuyển vào cửa sông để sinh sản (Nguyễn Viết Phổ, 1984; Trần Tuất và Ctv, 1980).
Các vực nước ven bờ có tài nguyên đa dạng và phong phú, là nơi duy trì và phát triển nguồn lợi cho những vùng nước xa bờ Nguồn lợi sinh vật đóng vai trò quan trọng trong vùng: đó là các cơ thể động, thực vật sống trong các sinh cảnh đặc trưng như rừng ngập mặn, các bãi cỏ và rong tảo ngầm, trong các khối nước cửa sông, vũng vịnh, đầm, phá… Thành phần các giống loài sinh vật rất đa dạng, nhóm sinh vật cửa sông chính thức và nhóm nước mặn rộng muối là cơ cấu chính của nguồn lợi vùng nước cửa sông
(Vũ Trung Tạng, 1998).
Các nguồn lợi của các vực nước ven bờ được duy trì và phát triển nhờ vào nguồn dinh dưỡng được chuyển tải ra từ lục địa, từ các rừng ngập mặn kế cận và từ sự phát triển tại chỗ do sự phân hủy của thực vật phù du, các tảo và bãi cỏ ngầm
Trang 13Do những điều kiện độc đáo của mình, vùng biển ven bờ trở thành nơi sống bắt buộc của một giai đoạn nhất định trong chu kì sống của nhiều loài giáp xác và cá, là bãi
đẻ của nhiều động vật biển, bãi kiếm ăn và vỗ béo cho các đàn bố mẹ Đương nhiên nơi này cũng trở thành vùng “tái sản xuất nguồn lợi”, duy trì sự ổn định đối với nguồn lợi của vùng khai thác xa bờ, một trong tổng thể duy nhất hệ sinh thái biển
Vùng cửa sông ven biển, đầm phá, vũng vịnh còn là nơi có tiềm năng cho sự phát triển nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi thả biển do:
- Các bãi triều rộng, nhiều vụng vịnh nông, ít sóng gió với diện tích lớn (gần 0,5 triệu ha)
- Nguồn thức ăn tự nhiên đa dạng và giàu có
- Tập đoàn giống đa dạng về giống loài, phong phú về số lượng
- Nguồn năng lượng thủy triều tạo thuận lợi cho việc cung cấp nước, lấy giống và thức ăn, thay rửa đầm (Vũ Trung Tạng, 1998)
2.1.2 CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ TRONG VÙNG BIỂN VEN BỜ
Việt Nam là một quốc gia có vùng biển rộng lớn, bờ biển kéo dài trên 3 260km với nhiều đầm phá, vũng vịnh, cửa sông Nó là một vùng giàu có về tài nguyên đa dạng về nguồn lợi nên có tiềm năng phát triển nhiều ngành kinh tế như: khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy, du lịch và các hoạt động kinh tế khác
2.1.2.1 Khai thác thủy sản
Ở các vực nước ven bờ trong đó có các đầm phá, vùng vịnh tập trung trên 20 kiểu
hệ sinh thái Đó là nơi cư trú tự nhiên, dự trữ thức ăn, ương nuôi ấu trùng, bãi sinh sản của nhiều loài động vật thuỷ sinh và là môi trường sống lý tưởng cho 90% các loài sinh vật xa bờ trong một giai đoạn phát triển của chúng Vì thế nên vùng này có tính đa dạng sinh học cao, nguồn lợi thủy sản phong phú tạo điều kiện phát triển của hoạt động khai
thác thuỷ sản (80% sản lượng thủy sản đánh bắt tập trung ở vùng này) (Nguyễn Chu Hồi,
2004)
Trang 14Bảng 2.1 : Thống kê tàu thuyền và phương tiện đánh bắt tại một số thủy
vực ven bờ miền Trung
Địa danh
Tổng tàu thuyền và phương tiện
đánh bắt
Sản lượng (tấn)
Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh
Thừa Thiên Huế
4.675 tàu thuyền, 7.826 ngư cụ,
13.000 nhân lực 2 000 – 2 500
Thị Nại, tỉnh Bình Định
976 tàu thuyền, 757 ngư cụ, 600
nhân lực 600 Vân Phong, tỉnh Khánh Hoà 843 tàu thuyền, 725 ngư cụ, 2578 nhân lực 500
Nguồn: Bùi Hồng Long, 2002
2.1.2.2 Nuôi trồng thuỷ sản
Vùng biển ven bờ nước ta có những vùng nước lợ rộng lớn, các vùng vịnh, đặc
biệt là các đầm phá kín gió với độ đa khoảng 20 – 30m, có điều kiện môi trường thích
hợp nên thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản ven bờ và cả nuôi biển Dọc ven biển có
khoảng trên 37 000ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản nước lợ mặn và
500000ha eo vụng, đầm phá có khả năng phát triển nuôi hải sản trên biển Ngoài ra, vùng
ven bờ có cơ sở thức ăn phong phú nhất là thức ăn có mùn bã hữu cơ, hoạt động thủy
triều mạnh giúp vận chuyển nước, giống và nguồn thức ăn từ biển vào vùng nuôi, thay
nước khi nuôi, thau rửa vùng nuôi sau khi thu hoạch Do có những điều kiện thuận lợi đó
nên thời gian qua hoạt động nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh mẽ ở vùng bờ với nhiều
hình thức khác nhau, cung cấp một sản lượng trong khai thác thủy sản Mặt khác, các
vùng đảo và quần đảo cũng có tiềm năng nuôi biển và đại dương khá lớn
Trang 15Bảng 2.2: Phân bố diện tích nuôi trồng thủy sản trong một số thuỷ vực
ven bờ miền Trung (1996)
Địa danh Diện tích bề
mặt (ha)
Diện tích vùng triều (ha)
Diện tích nuôi trồng (ha)
Diện tích vùng sản xuất muối (ha)
Nguồn: Bùi Hồng Long, 2002
2.1.2.3 Phát triển giao thông thủy
Vùng biển ven bờ Việt Nam có nhiều vùng vịnh kín gió thuận lợi cho việc xây
dựng các cảng biển và phát triển giao thông thủy Nó là hậu phương cho các hoạt động
khai thác xa bờ và hàng hải Hàng năm giao thông thủy và cảng biển này mang lại cho
quốc gia một nguồn doanh thu rất lớn Ở Việt Nam, cứ 20km bờ biển có một cửa sông
lớn, các vũng vịnh ven bờ chiếm khoảng 60% đường bờ biển, trong đó có 12 vũng vịnh
lớn Đó là những tiền đề quan trọng đối với phát triển cảng và hàng hải ở nước ta Đến
nay, Việt Nam có 8 cảng tổng hợp quan trọng thuộc các địa bàn: Quảng Ninh, Hải Phòng,
Cửa Lò, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu và Sài Gòn với tổng năng lực bốc
xếp trên 10 triệu tấn/năm
2.1.2.4 Phát triển du lịch
Thiên nhiên đã tạo ở vùng biển ven bờ nước ta những danh lam thắng cảnh và
những bãi biển đẹp tuyệt vời: Trà Cổ, Bãi Cháy, khu du lịch Đồ Sơn, Cát Bà, Nha Trang,
Vũng Tàu … Hằng năm, những khu du lịch nay thu hút một lượng lớn khách du lịch tới
đây nghỉ mát Hiện nay du lịch biển là một trong những ngành rất phát triển, được đầu tư
nhiều và mang lại cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn
Trang 16Việt Nam cũng có lợi thế phát triển du lịch biển: khoảng 125 bãi cát biển đẹp, trong đó khoảng 20 bãi cát biển đạt tiêu chuẩn quốc tế, dài trên 16 km, dung lượng chứa khách cùng lúc đến vài trăm ngàn người đấy là chưa kể đến hàng trăm bãi biển nhỏ, đẹp, nằm ven các vụng, vũng tĩnh lặng, ven các đảo hoang sơ Năm 1994, vịnh Hạ Long được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, năm 2003 vịnh Nha Trang được công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới, 15 khu bảo tồn biển đang được qui hoạch trình chính phủ phê duyệt, 2 thành phố ven biển Huế và Hội An được công nhận là di sản văn hoá thế giới Ngoài ra, các khu di sản thế giới thánh địa Mỹ Sơn và động Phong Nha đều nằm ở vùng ven biển Du lịch lặn đã bắt đầu phát triển ở Nha Trang dựa trên cơ sở khai thác các giá trị du lịch của rạn san hô
2.1.2.5 Các hoạt động kinh tế khác
Ngoài ra vùng ven bờ nước ta còn có mặt các mỏ khoáng sản, các đồng bằng ven
bờ, các châu thổ quanh các đầm phá tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động khai thác khoáng sản, sa khoáng và nông nghiệp
Gần đây, đã phát hiện một số mô cát dưới đát biển ở một số khu vực biển với trữ lượng chừng trên 100 tỷ tấn Cát thủy tinh nổi tiếng là mỏ Vân Hải (trữ lượng 7 tỷ tấn), Vĩnh Thực (20 000 tấn) và 1 dải cát thạch anh ngầm dưới đáy biển Quảng Ninh (gần 9 tỷ tấn) Diện tích tiềm năng để phát triển đồng muối ven biển khoảng 50 000 – 60 000ha, trong đó 60% tập trung ở vùng ven biển từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận Dọc ven biển đã phát hiện được các khoáng vật nặng của các nguyên tố quý hiếm (như Titan, Ziacon, các nguyên tố đất hiếm ) Sản lượng khai thác Inmenit từ các bãi sa khoáng ven biển trong
cả nước lên đến 220 000 tấn/năm và Ziacôn lên đến 1 500 tấn/năm
Các dẫn liệu nói trên cho thấy các vực nước ven bờ có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của đất nước Tuy nhiên, chất lượng môi trường có nguy cơ bị giảm sút do:
- Sự phát triển các hoạt động kinh tế biển còn mang tính tự phát, việc nuôi trồng thủy sản còn thiếu quy hoạch, không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật đã gây ra nhiều tác động tiêu cực môi trường nước
- Sự quản lý chưa chặt chẽ; luật pháp về khai thác, sử dụng về bảo vệ tài nguyên nước chưa được thực thi nghiêm minh và đặt biệt là ý thức của người dân trong việc khai thác tài nguyên
- Tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa tăng cao gây sức ép lớn đến việc bảo vệ,
Trang 17xả thải trực tiếp xuống cống rãnh, ao hồ, đầm, không qua xử lý Đặc biệt là nước thải của các bệnh viện, cơ sở y tế, các khu chăn nuôi là những nguồn gây ô nhiễm nước rất nghiêm trọng Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất không đạt tiêu chuẩn nước thải sạch
do không có các công trình xử lý nước thải hoặc có nhưng vận hành không đạt yêu cầu
2.1.3 KHÁI NIỆM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế gới, sự ô nhiễm (hoặc sự nhiễm bẩn) là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây tác hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường
Theo định nghĩa này các tác nhân gây ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải) hoặc rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được gọi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ, hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu (Lê Trình, 1997).
Để đánh giá chất lượng nước cũng như mức độ ô nhiễm của vực nước, có thể dựa vào những chỉ tiêu cơ bản và qui định giới hạn của từng chỉ tiêu đó tuân theo luật môi trường của quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế cho từng loại nước sử dụng cho từng mục đích khác nhau Kết hợp các yêu cầu về chất lượng nước và các chất gây ô nhiễm nước người ta có thể đưa ra một số chỉ tiêu như sau:
nước tự nhiên, pH là một trong những chỉ tiêu quan trọng về vật chất lượng nước Phạm
vi dao động của pH rất rộng, từ 4,5-9,5; thường gặp nhất là trong khoảng từ 6,5-8,3 Tuy nhiên, tuỳ vào đó là thủy vực nước ngọt, nước lợ hay nước mặn mà sự biến động pH khác
nhau ( Nguyễn Đình Trung, 2004 ) Việc axit hoá nguồn nước đến độ pH 4,1-5 làm suy giảm
lượng trứng cá và các loài tôm, cá nhỏ so với nguồn nước có pH trung tính, độ pH giảm
xuống dưới 4 hầu hết các loài cá ăn nuổi bị biến mất ( Lê Trình, 1997 )
Trang 18Độ đục
Một đặc tính vật lý chủ yếu của nước cống rãnh và các loại nước thải công nghiệp
là độ đục Độ đục do các chất lơ lửng gây ra Những chất lơ lửng này có kích thước rất khác nhau, từ cỡ các hạt keo đến những thể phân tán thô, phụ thuộc vào trạng thái xáo trộn Khi các loại nước thải được phóng thích ra sông, chúng làm cho nước sông mang tính đục, làm giảm khả năng xuyên sâu của ánh sáng qua nước và làm cho độ sâu nhìn thấy bị giảm nhỏ Độ đục của nước thải càng mạnh thì ảnh hưởng xấu của nước thải đối với nước sông càng lớn Vì vậy, độ đục cửa nước sông thường được coi như là mức độ đánh giá hiện tượng ô nhiễm Dĩ nhiên, một thể nước nào đó có độ đục nhỏ hoặc rất trong cũng không hẳn là không bị ô nhiễm Những chất gây ra độ đục bao gồm các chất hữu cơ lẫn các chất vô cơ Trong nước, những chất hữu cơ được dùng làm thức ăn cho các vi khuẩn Sự phát triển của vi khuẩn lại gây thêm độ đục cho nước Những chất dinh dưỡng
vô cơ (như nitơ và phospho có mặt trong nước thải và nước tiêu ra từ vùng sản xuất nông nghiệp) thúc đẩy sự phát triển của tảo, vì vậy cũng làm cho độ đục cả nước tăng thêm
Những hạt vật chất lơ lửng, gây ra độ đục trong nước, thường có bề mặt hấp phụ các kim loại độc, các vi sinh vật gây bệnh Chính những hạt này cản trở quá trình diệt trùng vì các vi sinh vật gây bệnh có thể được các hạt lơ lửng bao bọc nên thoát khỏi tác dụng của chất diệt trùng khi cần xử lý nước ăn (Lê Trình, 1997).
Độ muối
Độ muối là một thông số rất quan trọng của môi trường nước biển Theo nguyên tắc độ muối là tổng khối lượng các chất hoà tan trong 1kg nước biển
Nếu căn cứ theo định nghĩa này việc xác định độ muối của nước biển rất khó khăn
và tốn kém Do đó các nhà khoa học chuyển sang cách xác định độ muối theo độ clo (và sau đó, độ dẫn điện) vì các yếu tố này liên quan chặt chẽ với độ muối Độ clo là tổng nồng độ của các halogen Vì nồng độ của ion clo trong nước biển rất lớn so với tổng nồng
độ của các halogen khác nên có thể xem tổng nồng độ của các ion halogen tương đương với nồng độ clo
Độ muối ở vùng gần các cửa sông thấp hơn vùng biển khơi (do ảnh hưởng của nước ngọt từ lục địa), tại các nơi này thường có sự phân lớp độ muối rất rõ vào mùa mưa
Sự bốc hơi mạnh có thể làm cho độ muối tầng mặt cao hơn lớp nước ngay bên dưới (Phạm Văn Thơm, 2003 )
Trang 19Độ muối ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hòa áp suất thẩm thấu của thủy sinh vật Các thay đổi độ mặn vượt ra ngoài giới hạn thích ứng của cá, tôm đều gây ra các phản ứng sốc của cơ thể làm giảm khả năng đề kháng bệnh của cá, tôm nuôi (Nguyễn Đình Trung, 2002)
Hàm lượng oxy hoà tan trong nước (DO)
Oxy hoà tan trong nước rất cần thiết cho sinh vật hiếu khí Bình thường oxi hoà tan trong nước khoảng 8 – 10mg/l, chiếm 70 – 85% khi oxi bão hoà Mức oxi hoà tan trong nước tự nhiên và nước thải phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm chất hữu cơ, vào hoạt động của thế giới thủy sinh, các hoạt động hoá sinh, hoá học và vật lý của nước Trong môi trường nước bị ô nhiễm nặng, oxi được dùng nhiều cho các quá trình hoá sinh và xuất hiện hiện tượng thiếu oxy trầm trọng
Hàm lượng oxy hoà tan trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ nước, độ muối, áp suất riêng phần của oxy trong không khí (Rand et al., 1995). Khi nhiệt độ và độ muối tăng thì hàm lượng oxy hòa tan giảm Hàm lượng oxy hòa tan trong nước là thông số quan trọng
nhất trong nuôi trồng thủy sản kể cả nước ngọt và nước mặn ( Nguyễn Đình Trung, 2002).
Hàm lượng oxy thay đổi theo thời gian và không gian do hoạt động quang hợp và hô hấp của thủy sinh vật, quá trình phân giải hữu cơ, sự trao đổi oxy giữa môi trường nước và khí quyển, trong đó hoạt động sống của vi sinh vật và tảo có vai trò quyết định
Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD 5 )
BOD5 là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật tiêu thụ trong quá trình phân huỷ các chất hữu cơ trong nước trong điều kiện hiếu khí
Oxy sử dụng trong quá trình này là oxy hoà tan trong nước Chỉ số BOD5 càng cao thì chứng tỏ lượng chất hữu cơ có khả năng phân huỷ sinh học càng lớn
Do vậy BOD5 càng cao chứng tỏ lượng chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học trong nước càng lớn (Nguyễn Đình Trung, 2002). Như vậy, thông số BOD giúp đánh giá được mức độ ô nhiễm hữu cơ của nguồn nước Theo quy định của bộ y tế nước ta thì giá trị tới hạn của BOD5 trong nước sinh hoạt là 4mg/l, trong nước thuỷ sản là 10mg/l
Ammoniac (NH 3,4 -N)
Trong nước biển NH3 và ammonium NH4+ là hai dạng có thể trao đổi qua lại
(Phạm Văn Thơm, 2003) Dạng NH3 là ammonia không ion hóa, dạng NH4+ gọi là
Trang 20ammonia ion hóa, trong đó là ammonia không ion hóa NH3 là chất độc đối với thủy sinh vật
Ammoniac là một khí tan vô hạn trong nước, là một loại khí có khả năng tham gia tác dụng tương hỗ với nước:
NH3 + H2O NH4OH
Do vậy, trong môi trường nước chúng có thể bị thay đổi trạng thái, nhiệt độ và pH tăng thì NH3 tăng lên Trong thủy vực, NH3 là sản phẩm của quá trình trao đổi chất của động vật, quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ bởi vi sinh vật, trao đổi với khí quyển Ngoài ra, chất thải sinh hoạt cũng đưa vào môi trường nước một lượng NH3 đáng kể
Ammoniac là một khí độc có nguồn gốc sinh hoá, độc tính phụ thuộc vào hàm lượng của nó trong thuỷ vực Nồng độ gây chết của ammoniac đối với các loài thủy sinh vật dao động trong khoảng 0,4 – 2,0mg/l (Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh Phương và các cộng
sự, 1994)
Nhóm các muối dinh dưỡng
Muối dinh dưỡng là yếu tố dùng để đánh giá mức độ ưu dưỡng hóa của thủy vực
Nó đóng vai tró rất quan trong trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật Muối dinh dưỡng có tính chất quyết định đến sự phát triển của chuỗi thức ăn tự nhiên trong thủy vực Các muối dinh dưỡng chứa nitơ được coi là quá trình quan trọng nhất, giới hạn năng suất sinh học sơ cấp trong biển và môi trường ven bờ Trong khi đó các muối dinh dưỡng chứa phospho thường là yếu tố giớ hạn năng suất sơ cấp trong nước ngọt Cả nitơ và phospho đều quan trọng trong các vực nước ven bờ Trong khi đó các muối dinh dưỡng khác như silicat cũng đóng vai trò quan trọng trong một hệ thống đặc thù trong những thời điểm nhất định
Các muối dinh dưỡng chứa Nitơ
Nitơ tồn tại trong nước ở những dạng hỗn hợp khác nhau: cả vô cơ và hữu cơ Nitrate là một muối nitơ chủ yếu và quan trọng trong những thủy vực giàu oxy Nitrit xuất hiện trong điều kiện cụ thể Amoniac là dạng vô cơ chủ yếu của Nitơ trong điều kiện
kỵ khí Quá trình oxy hoá có thể chuyển đổi cả Nitơ vô cơ sang nitrate trong khi sự suy giảm oxy có thể chuyển đổi cả nitrat sang dạng amoniac
Trang 21Muối dinh dưỡng Nitrite (NO 2 -N)
Nitrite là mắt xích trung gian của quá trình nitrat hoá hoặc khử nitrate Vì không bền vững nên hàm lượng của nó trong tự nhiên thường thấp Sự xuất hiện với hàm lượng lớn trong thời gian không phù hợp cho ta biết sự nhiễm bẩn của thuỷ vực Độc tính của nitrit trong môi trường nước ngọt gấp 55 lần trong nước lợ có độ mặn 16‰,nitrit làm
tăng tính mẫn càm của cá đối với vi khuẩn Tuy nhiên, tại các khu vực cửa sông lớn hàm lượng nitrit có thể đến vài chục µg/l (Phạm Văn Thơm, 2003)
Muối dinh dưỡng Nitrate (NO 3 -N)
Nitrate là sản phẩm cuối cùng của quá trình nitrite hoá Nó là muối dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của thủy sinh vật Nitrate không gây hại đối với sinh vật, khi hàm lượng nitrate nhỏ hơn 1mg/l thì tảo lam sẽ phát triển mạnh, còn khi hàm lượng nitrat lớn hơn 2mg/l thì tảo khuê sẽ phát triển mạnh Tại các vùng biển khơi, hàm lượng nitrate rất thấp (tối đa chỉ vài chục µg/l), nhưng ở vùng nước ven bờ có thể lên tới 50-100µg/l và
ở khu vực cửa sông lớn thì NO3-N có thể cao hơn gấp 5 lần (Phạm Văn Thơm, 2003).
Muối dinh dưỡng chứa Phospho (phosphate)
Phospho trong nước tự nhiên và nước thải tồn tại ở các dạng orthphosphat (PO43-, HPO42-, H2PO4-, H3PO4) hay polyphosphate như [Na3(PO3)6] và phophate hữu cơ Phosphate là dạng vô cơ hoà tan của phospho Nó là một trong những nguyên tố quan trọng cần thiết cho sự sống ở nước, phosphate được thực vật bậc cao và tảo đồng hoá trong quá trình quang hợp Trong một số trường hợp nó là chất dinh dưỡng giới hạn cho
sự phát triển của tảo do đó điều khiển năng suất sơ cấp của thủy vực Ngày nay, người ta quan tâm nhiều hơn đến việc kiểm soát hàm lượng các hợp chất phospho trong tầng nước mặt, nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp thải vào nguồn nước Sự gia tăng phosphate là do hoạt động của con người, sự phân hủy các vật chất hữu cơ và là nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng ưu dưỡng hoá Trong bề mặt thủy vực tự nhiên phosphate dao động 0,005 – 0,02mg/l (Vũ trung Tạng, 1997)
Trang 22Muối dinh dưỡng Silicat
Ngoài các muối dinh dưỡng chứa nitơ và phosphate, silicat cũng là một muối dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của đa số thực vật nổi Mặc dù hiện tượng nước trồi cũng có thể làm tăng hàm lượng silicat trong lớp nước mặt Nguồn cung cấp silicat chính cho môi trường biển là silicat hoà tan trong nước sông Do đó, hàm lượng silicat ở vùng ven bờ có sự biến động rất rộng theo không gian và thời gian Thông thường, hàm lượng silicat khoảng vài trăm µg/l nhưng mùa khô có thể < 1µm/l (khoảng 20µg/l) (Phạm Văn Thơm, 2003)
DẦu mỡ
Dầu mỡ là chất lỏng, khó tan trong nước phức tạp, tan trong các dung môi hữu cơ Dầu mỡ có thành phần hoá học rất phức tạp Độc tính và tác động sinh thái của dầu mỡ phụ thuộc vào từng loại dầu Dầu thô có chứa hàng ngàn phân tử khác nhau nhưng phần lớn là các hydrocacbon có số carbon từ 4 đến 26 Trong dầu thô còn có các hợp chất lưu huỳnh, nitơ, kim loại (như vanadi) Các loại dầu nhiên liệu sau khi tinh chế (dầu DO, FO)
và một số sản phẩm dầu mỡ còn chứa các chất độc như hydrocacbon thơm đa vòng (PAH), polyclobiphenyl (PCB), kim loại (chì) Do đó dầu mỡ có độc tính cao và tương đối bền vững trong môi trường nước
Hầu hết các loài thực, động vật đều bị tác hại do dầu mỡ Các loài thủy sinh và cây ngập nước dễ bị chết do dầu mỡ ngăn cản quá trình hô hấp, quang hợp và cung cấp dinh dưỡng Các loài tảo kém nhạy cảm với tác động trực tiếp của dầu so với các loài thủy sinh khác, tuy nhiên tảo lại nhạy cảm với các tác động thứ cấp Trong điều kiện ô nhiễm dầu trong nguồn nước, một số loài tảo lại phát triên mạnh (Lê Trình, năm 1997).
Coliform
Chất lượng về mặt vi sinh của nước thướng được biểu thị bằng mật độ vi khuẩn chỉ thị, đó là những vi khuẩn không gây bệnh và chính là nhóm trực khuẩn Coliform, mà thông số được sử dụng rộng rãi nhất là chỉ số Coli Coliform là nhóm vi sinh quan trọng nhất trong việc đánh giá vi sinh nguồn nước vì chúng có đầy đủ các tiêu chuẩn của loại vi sinh chỉ thị lý tưởng, cách xác định chúng cũng dễ thực hiện
Ở vùng nhiệt đới mật độ coliform cho phép tương đối cao khoảng 2000CFU/100ml (nguồn: ASEAN marine water quality citeria) ĐỐi với nghề nuôi thủy sản, tiêu chuẩn coliform cho phép là 70CFU/100ml nước Theo tiêu chuẩn của WHO quy
Trang 23100-định nước đạt vệ sinh: không quá 10 tế bào coli trong nước; của Việt Nam ≤ 20/100 ml nước (Lại Văn Hùng, 2004).
2.1.4 CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước Hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô nhiễm, như
ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp hay sinh hoạt Hoặc dựa vào môi trường nước, như
ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương Hoặc dựa vào tính chất của ô nhiễm, như
ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý
2.1.4.1 Nước thải công nghiệp
Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, chúng không có đặc điểm chung mà phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành sản xuất Chính vì vậy mà thành phần các yếu tố gây ô nhiễm và hàm lượng của chúng phụ thuộc vào đặc điểm của các hoạt động sản xuất (Lê Trình, 1997)
Thành phần nước thải rất đa dạng, nước thải từ các nhà máy chế biến thực phẩm
có hàm lượng chất hữu cơ, nitơ và phospho cao, còn nước thải các nhà máy hoá chất thường chứa một số hoá chất độc Như vậy, cần nắm rõ bản chất nguồn nước thải để có phương pháp xử lý thích hợp (Mai Thanh Tuyết, Nguyễn Minh Quang, 2003).
2.1.4.2 Nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản
Bên cạnh đó, nguồn nước thải do nuôi trồng thủy sản hiện nay cũng đang được quan tâm Lượng chất thảido nuôi trồng thủy sản đưa ra môi trường phụ thuộc vào chế độ cho ăn, chất lượng thức ăn cũng như khả năng sử dụng thức ăn của vật nuôi loại hình nuôi (Tạ Khắc Trường và cộng sự, 2002).
2.1.4.3 Nước thải sinh hoạt từ khu dân cư
Đây là nguồn nước thải từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học Nước thải ở mỗi vùng dân cư khác nhau sẽ có tiềm năng gây ô nhiễm khác nhau phụ thuoc65 vào điều liện sống, khối lượng nước sử dung và điều kiện vệ sinh cộng đồng; đặc điểm chung của chúng là chứa nhiều các chất hữu cơ dễ phân huỷ, dầu mỡ, chất béo, phosphate, nitơ và vi trùng (Lê Huy Bá, 2000)
Theo (S J Arceirala,1985) thì lượng hcất thải một người tạo ra là: tổng chất rắn 220g/ngày; rác vô cơ lạ15kg/ngày (lượng BOD tương ứng là 45-54mg/ngày); ngoài ra, nước thải của một người trong một ngày chứa tổng lượng vi khuẩn là 109-1010tb/100ml
Trang 24170-2.1.4.4 Nước thải từ hoạt động nông nghiệp
Nước chảy tràn từ mặt đất do mưa hoặc do thoát nước từ đồng ruộng là nguồn gây
ô nhiễm nước, sông, hồ Nước rửa trôi qua đồng ruộng có thể cuốn theo chất rắn lơ lửng, thuốc trừ sâu và phân bón (Lê Trình, 1997). Các chất gây ô nhiễm này đôi khi gây ra những hậu quả nghiêm trọng và không thể kiểm soát, đặc biệt vào mùa mưa lũ
2.1.4.5 Chất gây ô nhiễm từ các nguồn tự nhiên
Bên cạnh các chất thải do hoạt động của con người các chất ô nhiễm từ các nguồn
tự nhiên đôi khi cũng gây ra các ảnh hưởng xấu (nhiễm bẩn sinh thái) Thí dụ nước sông
bị nhiễm mặn ở vùng ven biển do sự xâm nhập mặn sâu vào vùng nước nội địa hay sự nhiễm phèn làm giảm ảnh hưởng đến sinh hoạt và nông nghiệp (Nguyễn Trọng Nho, Nguyễn Văn Quỳnh Bôi, 1999); hiện tượng mưa axit làm giảm pH của vùng nước; hiện tượng nước trồi có thể gây ra ưu dưỡng hoá và sự nở hoa của tảo
2.2 HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG Ở TỈNH KHÁNH HOÀ VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.2.1 Tỉnh Khánh Hoà
Khánh Hòa là một trong những tỉnh ở khu vực Nam Trung Bộ có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao trong các lĩnh vực du lịch, công nghiệp hóa, đô thị hóa, rất giàu có về mặt tài nguyên với một hệ thống vùng vịnh phân bố gần hết dải bờ biển, bao gồm: vịnh Bến Gỏi, vịnh Vân Phong, đầm Nha Phu, vịnh Bình Cang, vịnh Nha Trang, đầm Thủy Triều và vịnh Cam Ranh Nhiều hoạt động kinh tế đang diễn ra với các quy mô khác nhau trong thuỷ vục này Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển này cũng tạo ra những áp lực và tác động đến chất lượng môi trường, làm suy giảm chất lượng môi trường không khí, môi trường nước cũng như cảnh quan đô thị…
- Nước thải của các khu công nghiệp: Trong số 6 khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà thì hoạt động của khu công nghiệp Suối Hiệp và Suối Dầu đã gây ra những ảnh hưởng đáng kể nhất đối với môi trường chung quanh (Lê Thị Vinh et al., 2005)
Khu công nghiệp Suối Hiệp gồm 12 nhà máy và cơ sở sản xuất với các ngành sản xuất chính là nước giải khát và giấy Nước thải của các nhà máy được đổ ra cống Diên Toàn và cống Cư Thạnh (kênh Cầu Đôi), qua đập tràn Cầu Dứa rồi thoát ra biển tại Cửa
Bé
Trang 25Tổng lưu lượng nước thải của khu công nghiệp khoảng 4 340 m3/ngày đêm (2004) Đến nay khu công nghiệp chưa có trạm xử lý tập trung, chỉ có 6/12 nhà máy (bia san Miguel, Taihso Việt Nam, nước thải riêng Các cơ sở giấy Hoa Hồng, giấy Hiệp Hưng, cồn công nghiệp, giải khát Festi tuy có lưu lượng nước thải không lớn nhưng thải
đổ thẳng vào môi trường
Kết quả phân tích mẫu nước thải của một số nhà máy (Giấy Hiệp Hưng, Giải khát sannest, Cồn công nghiệp, Bia sanmigel, Taihso Việt Nam, Giấy 3/2) vào tháng 10/2005 cho thấy nước thải (kể cả đã qua xử lý) hàm lượng BOD dao động trong khoảng từ 3,2 đến 141mg/l; mật độ coliform dao động trong khoảng 91000-318 000 000 tb/100ml; hàm lượng dầu mỡ dao động trong khoảng 495-1 089g/l đã không đạt tiêu chuẩn thải vào nguồn loại A
Nước thải từ khu công nghiệp này đã làm tăng hàm lượng các muối dinh dưỡng, chất hữu cơ và coliform trong mặt liền kề (cống Diên Toàn và Cư Thạnh) So với tiêu chuẩn nước mặt (TCVN) có thể dùng làm nước sinh hoạt thì các giá trị của BOD, COD, vật lơ lửng, NH3,4-N, NO2-N, dầu mỡ và mật độ coliform cao hơn giới hạn cho phép
(GHCP) rất nhiều (bảng 2.3)
Bảng 2.3 : Kết quả phân tích mẫu tại các cống thải vào 2004
Cống NH 3,4 -N NO 2 -N NO 3 -N N hc P tổng BOD COD TSS Dầu
Cư
Thạnh
76,0 21,94 195,8 3 775 236,8 15,29 44,98 30,54 1.373,4 486 000 n=5 n=5 n=5 n=5 n=5 n=5 n=5 n=5 n=5 n=2 TCVN 50 10 10 000 - - <4 <10 20 không 5 000
Nguồn: Lê Thị Vinh, 2005
Trang 26Khu công nghiệp Suối Dầu có 21 nhà máy (chế biến thuỷ sản, sản xuất thức ăn gia, súc, dệt may, gỗ giấy, nước đá ) Từ năm 2002 khu công nghiệp này đã có trạm xử
lý nước thải chung với công suất 5 000m3/ngày đêm Nước thải qua xử lý được đổ ra cống Ông Của trong khi nước mặt (nước mưa) được chảy ra cống Bàu Cỏ và chúng thoát
ra đầm Thủy Triều
Nước thải đã xử lý có giá trị của các chất dinh dưỡng (N và P), dầu mỡ, và coliform luôn cao hơn giá trị giới hạn đối với nước thải loại A (TCVN) rất nhiều (bảng 2.4)
Bảng 2.4: Giá trị trung bình của các chỉ tiêu tại trạm xử lý năm 2004
NH3,4-N NO2-N N tổng P tổng BOD COD Vật LL Dầu mỡ Coliform
g/l g/l g/l g/l mg/l mg/l mg/l g/l tb/100ml
T.bình
3 504 3 397 41 153 14 530 11,0 33,8 29 738 710 000 n=7 n=7 n=7 n=7 n=7 n=7 n=7 n=7 n=7 TCVN 50 100 30 000 4 000 20 50 50 không 5 000
Nguồn: Lê Thị Vinh, 2005
Nước thải từ khu công nghiệp Suối Dầu làm tăng cao đáng kể hàm lượng cac muối dinh dưỡng, chất hữu cơ và coliform trong nước mặt liền kề, đặc biệt tại cống Ông Của
và Bàu Cỏ Tình trạng nhiễm bẩn cao tại hai cống này cũng là do hậu quả của việc xả trộm chất thải của một số nhà máy So với tiêu chuẩn nước mặt các giá trị của BOD, COD, NO3-N đôi khi cao hơn mức cho phép trong lúc hàm lượng vật LL, NH3,4-N, NO2-
N và đặc biệt là dầu mỡ, coliform luôn cao hơn (bảng 2.5)
Trang 27Bảng 2.5: Kết quả phân tích mẫu tại các cống thải vào 2004
Bàu
Cỏ
241 17,08 305,1 3 503 302 3,6 29,3 43 644 1 069 025 n=6 n=6 n=6 n=6 n=6 n=7 n=7 n=6 n=7 n=7 TCVN 50 10 10 000 - - <4 <10 20 không 5.000
Nguồn: Lê Thị Vinh, 2005
Nhà máy đường Cam Ranh, Ninh Hoà cũng đã là hai khu vực thường gây ô nhiễm vào thời điểm đầu năm khi vào vụ mía Nhà máy đường Cam Ranh chưa xây dựng xong
hệ thống xử lý nước thải (thời điểm đầu năm 2004) do vậy đã xả nước thải chưa xử lý đạt yêu cầu, ảnh hưởng đến một số hộ nuôi cá trong khu vực gần nhà máy
Vấn đề bức xúc nhất hiện nay về môi trường công nghiệp là khu vực Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà máy Hyundai-Vinashin Quá trình sử dụng hạt NIX làm sạch bề mặt kim loạt trước khi sơn và việc lưu giữ chất thải NIX sau khi sử dụng đã gây ô nhiễm nghiêm trọng cho khu dân cư Mỹ Giang và vùng lân cận, chất thải NIX hiện đang lưu giữ tại bãi chứa ước tính hơn 400 000 tấn vẫn chưa có biện pháp giải quyết
Các kết quả quan trắc năm 2005 cho thấy trầm tích tại khu vực cảng Vinashin có hàm lượng Cu khá cao Trong 4 lần quan trắc thì có đến 2 lần cho kết quả hàm lượng Cu cao hơn cả Zn, đây là một hiện tượng ít gặp ở trầm tích biển cá nơi khác Điều đáng chú ý nhất là một trong đợt giám sát tháng 8, hàm lượng các kim loại nặng quan trắc đều có giá trị rất cao so với năm 2004 (bảng 2.6)
Trang 28Hyundai-Bảng 2.6: Hàm Lượng kim loại nặng trong trầm tích ở cảng
Hyundai-Vinashin năm 2004 – 2005
Thời gian
Fe (%) Mn (ppm) Zn (ppm) Cu (ppm)
2004 2005 2004 2005 2004 2005 2004 2005 Tháng 2
Tháng 5
Tháng 8
Tháng 11
1,20 0,50 1,23 0,59
1,10 0,73 1,75 1,69
127,6 139,4 140,8 77,52
119,9 142,8 260,1 79,3
37,9 42,2 79,0 24,7
58,0 14,3 227,9 46,2
97,2 86,7 60,6 27,9
95,8 13,9 329,9 14,5
0,06 0,04 0,50 0,05
4,3 3,3 1,5 1,6
12,2 0,3 2,0 3,3
112,0 122,0 65,6 62,0
97,9 145,6 138,7 105,0
Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Khánh Hòa, 2005
So sánh với kết quả quan trắc trong năm 2004 cho thấy hàm lượng các yếu tố kim loại nặng: Fe, Mn, HC, Coliform ở hầu hết các thời điểm lấy mẫu có xu thế tăng theo thời gian Hàm lượng của các kim loại nặng: Zn, Pb, Cu, Cr, Cd có xu thế giảm (trừ tháng 8, 11)
Bên cạnh đó kết quả quan trắc trong năm 2005 cho thấy hàm lượng hydrocarbon (thông số duy nhất được giám sát tại vị trí này) cũng khá cao, giá trị cao nhất gặp vào tháng 11 thể hiện ở bảng sau:
Trang 29Bảng 2.7: Hàm lượng HC trong trầm tích bãi triều khu vực nhàmáy
Hyundai-Vinashin
Thời gian
HC (ppm) Năm 2004 Năm 2005 Tháng 2
Tháng 5 Tháng 8 Tháng 11
Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Khánh Hòa, 2005
Nhìn chung, trên địa bàn Khánh Hòa, lượng thải chủ yếu là tại Nha trang, Diên Khánh, nơi có nhiều hoạt động công nghiệp (bảng 2.8)
Bảng 2.8: Tổng hợp nước thải ngành công nghiệp và chế biến thực phẩm
(theo khu vực)
Khu vực Lượng nước thải
(m3/ngày) Tỉ lệ (%) Nha Trang
Diên Khánh Ninh Hòa Vạn Ninh Cam Ranh
Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Khánh Hòa, 2005
Ngành có lượng nước thải cao nhất là thủy sản 5 113m3, chiếm tỉ lệ 39,0%; tiếp theo là giấy, dệt, nhuộm 3 890 m3, tỉ lệ 29,7% và thấp nhất là mạ 10 m3, tỉ lệ 0,1% (bảng 2.9)
Trang 30Bảng 2.9: Tổng hợp nước thải ngành công nghiệp và chế biến thực phẩm
Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Khánh Hòa, 2005
Mặt khác từ năm 1991, ngành nuôi trồng thủy sản Khánh Hoà được chú ý phát
triển mạnh mẽ, diện tích nuôi tôm phát triển khá nhanh: năm 1991 là 1 237 ha, tới năm
2003 là 5 320 ha và chủ yếu theo xu hướng nuôi công nghiệp Ngoài ra hoạt động nuôi
tôm, cá lồng trên biển cũng phát triển nhanh (13 270 lồng năm 2003) Hàng năm, các hộ
sử dụng từ 10 000 – 12 000 tấn thức ăn công nghiệp và trên 300 loại thuốc, hoá chất, chế
phẩm sinh học đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng môi trường nước tự nhiên
Trong vài thập niên trước, rạn san hô dọc theo bãi biển phía Bắc của Hòn Tre đã
từng có mức tăng trưởng đáng kể nhất trong vịnh Nha Trang, nhưng hiện nay đã suy
giảm Mặt khác, hiện nay việc xây dựng khu du lịch Phú Quý đã gây ảnh hưởng đến môi
trường của sinh vật biển không chỉ ngay tại vị trí đang xây dựng mà còn ảnh hưởng đến
Trang 31Được biết, hiện nay Ban quản lý Khu Bảo tồn vịnh Nha Trang đang có các giải pháp thực hiện chương trình quan trắc chất lượng nước có hiệu quả hơn để từ đó sẽ có kế hoạch cụ thể kiến nghị với các cơ quan quản lý và vận động sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các tổ chức quốc tế để quản lý Khu bảo tồn biển ngày càng tốt hơn
Việc thi công các công trình ven bờ, nhất là các dự án san lấp lấn biển để phát triển các khu dân cư, đô thị mới ở vùng ven bờ vịnh Nha Trang trong thời gian gần đây
đã làm gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước biển ven bờ ở một số khu vực trong vịnh Nha Trang Hàm lượng chất rắn lơ lửng gia tăng trong nước làm tăng sự lắng đọng trầm tích trên các rạn san hô, cỏ biển trong vùng vịnh Nha Trang Khu vực chịu nhiều ảnh hưởng nhất là khu vực Vũng Me, Bãi Trủ, Bãi Tiên, Đường Đệ, Cửa Bé (cửa sông Tắc), cửa sông Lô, dọc đường sông Lô - Củ Hin
Hiện nay, dầu mỡ từ tàu thuyền vận tải hàng hoá, tàu du lịch, thuyền đánh cá thải
ra trong quá trình hoạt động là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng gia tăng hàm lượng dầu mỡ trong nước biển ven ở một số vực nước ven bờ ở Khánh Hoà nói chung và ở vịnh Nha Trang nói riêng, đặc biệt là xung quang khu vực Cảng Nha Trang Hàng năm có hàng chục vụ xả thải dầu mỡ được ghi nhận, gây ô nhiễm diện rộng cho một số vùng biển ở Khánh Hoà Theo Phạm Văn Thơm và các cộng sự cho thấy các vực nước ven bờ Khánh Hoà thường bị nhiễm bẩn kim loại, hydrocarbon, nitrate, coliform do nuôi thủy sản, đóng tàu và sửa chữa tàu (bảng 2.10)
Trang 32Bảng 2.10 : Hiện trạng nhiểm bẩn của các vực nước ven bờ tỉnh Khánh Hoà
Vực nước Yếu tố gây nhiễm bẩn
quan trọng
Tai biến môi trường
Tác nhân hiện đang gây ảnh hưởng
Vịnh Bến Gỏi chất dinh dưỡng, Fe, Zn
…
HAB (1994): tôm hùm chết (2000) Nuôi thủy sản
Vịnh Vân Phong
Kim loại nặng, hydrocarbon, chất dinh
Vịnh Bình Cang chất dinh dưỡng, Fe, Zn,
hydrocacbon … Chưa ghi nhận
Vật chất từ sông, đánh bắt hải sản
Vịnh Nha Trang
Hữu cơ, nitrate, Zn, hydrocacbon, coliform…
HAB (Cửa, Bé 1997)
Đô thị hoá, nuôi thủy sản, cảng
Đầm Thuỷ triều –
Vịnh Cam Ranh
Fe, Zn, hydrocacbon, chất dinh dưỡng … ???
Nuôi thủy sản, cảng, công nghiệp
(Phạm Văn Thơm, Hiện trạng nhiễm bẩn tại vùng biển ven bờ tỉnh Khánh Hoà)
Phân, nước thải sinh hoạt dân cư sống ở các đảo trong vịnh, các chất thải từ nuôi trồng thủy sản với hàng nghìn lồng nuôi tôm hùm, các loài thuỷ sàn khác cộng với sự phát triển thiếu quy hoạch trong những năm qua đã tạo ra một cảnh quan rất xấu và gây ô nhiễm môi trường nước tại một số vùng Mặt khác, một hộ dân sống trên các đảo và khu vực cửa sông Cái Nha Trang không có nhà vệ sinh, đã phóng uế ra bãi biển hoặc trực tiếp xuống sông, biển, góp phần không nhỏ vào tình trạng ô nhiễm vùng vịnh Nha Trang
(Theo nguồn: Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Khánh Hoà, 2005).
Trang 33Theo báo cáo hiện trạng môi trường năm 2004 của các địa phương, chỉ có một số huyện có thống kê về số liệu rác thải công nghiệp như Diên Khánh: 90 tấn/tháng (chủ yếu
là rác thải từ khu công nghiệp Suối Dầu), Ninh Hoà: 810 tấn/tháng (chủ yếu là rác thải từ nhà máy Huyndai-Vinashin không tính lượng NIX thải), Khánh Vĩnh: 15 tấn/tháng Một phần được thu gom và vận chuyển đưa về bãi rác ở Đèo Rù Rì xã Vĩnh Lương thành phố Nha Trang hoặc bãi rác Cam Thị Đông thị xã Cam Ranh
Theo công ty môi trường đô thị Nha Trang, khối lượng chất thải rắn từ các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có hợp đồng thu gom với công ty là vào khoảng 182 tấn/tháng Trong đó các cơ sở tiểu thủ công nghiệp: 42 tấn/tháng; các nhà máy chế biến hải sản ở Nha Trang: 140 tấn/ngày Lượng phát sinh chất thải rắn công nghiệp chiếm khoảng 20 – 25% tổng lượng chất thải sinh hoạt nhưng tuỳ thuộc vào quy mô, ngành nghề cửa từng cơ sở công nghiệp và của từng vùng trong tỉnh Hiện chất thải công nghiệp tập trung chủ yếu ở Nha Trang, Cam Ranh, Diên Khánh, Ninh Hoà là những vùng tập trung nhiều nhà máy, cơ sở công nghiệp
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà năm 2004 vào khoảng 505,991 tấn, trong đó lượng chất thải rắn y tế nguy hại cần thu gom và xử lý triệt để vào khoảng 30,970 tấn Lượng chất thải rắn y tế thu gom được chủ yếu tập trung ở các cơ sở y tế lớn ở thành phố Nha Trang và các trung tâm y tế tuyến huyện, thể hiện ở bảng 2.11
Trang 34Bảng 2.11: Lượng chất thải y tế thu gom ở Khánh Hòa năm 2004
STT Khu vực Chất thải rắn sinh hoạt
Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2004 các địa phương tỉnh Khánh Hoà
Hiện nay, khối lượng chất thải rắn nguy hại công nghiệp ở Khánh Hoà cũng chưa
có số liệu thống kê cụ thể Chất thải nguy hại được biết đến ở khánh Hoà là hạt NIX, phát sinh từ hoạt động sửa chữa tàu ở nhà máy Hyundai-Vinashin (khoảng 100 000 tấn/năm) đang được lưu giữ tại bãi chứa hạt NIX tại xã Ninh Thuỷ (Ninh Hoà)
2.2.2 Khu vực Cửa Bé
Kết quả điều tra hiện trạng môi trường khu dân cư ven biển thành phố Nha Trang (tháng 7/1997) của Phạm Văn Thơm và các cộng sự tại khu dân cư ven biển Cửa Bé, Phường Vĩnh Trường cho thấy:
Chất lượng môi trường không khí:
Môi trường không khí ở khu vực dân cư Cửa Bé đã có dấu hiệu ô nhiểm do ảnh hưởng của hoạt động giao thông, sự phân hủy các chất hữu cơ và sự bốc hơi của xăng dầu
từ các kho, các trạm bán lẻ và có thể cả từ váng dầu trong vực nước lân cận Chất lượng
Trang 35môi trường không khí của khu vực được thể hiện thông qua một số các yếu tố đặc trưng được trình bày trong bảng 2.12
Bảng 2.12: Một số yếu tố đặc trưng của môi trường không khí
cảm quan
Ồn dBA
Bụi mg/m3
HC mg/m3Cửa Bé 1(Chợ) Tanh 65-72 2,0 0,72 0,45 0,01 4,3
Cửa Bé 2 (Cây
xăng)
Mùi mắm tanh, xăng 65 - 68 3,5 0,68 0,60 0,005 11,3
(xăng)
(Phạm Văn Thơm, 1997)
Chất lượng nước ven bờ:
Nước biển ven bờ bị nhiễm bẩn bởi các yếu tố vật lơ lửng, oxy hòa tan, COD,
nitrate, phosphate, hydrocarbon và coliform (bảng 2.13) Nguyên nhân chính là chất thải
sinh hoạt của nhân dân trong khu vực không được xử lý hợp lý, phần lớn các gia đình sống ven biển không có hố xí tự hoại, rác thải cũng bị ném bừa xuống biển Mặt khác hoạt động của các cảng và việc rửa sàn các thuyền đánh cá tại chỗ cũng đưa vào môi trường biển nhiều chất hữu cơ và hydrocarbon
Bảng 2.13: Hệ số ô nhiễm(HSÔN) của các yếu tố trong nước ven bờ tại khu dân cư
Cửa Bé
Triều Vật LL DO COD Nitrate Phosphate HC Coliform Cao 0,93 0,83 3,10 1,98 0,54 1,47 67,00 Thấp 1,02 0,97 9,73 1,78 0,56 1,94 79,90
TB 0,97 0,89 6,42 1,88 0,55 1,70 73,45
Trang 36Thông số Vật LL DO COD Nitrate Phosphate HC Coliform GHCP mg/l 1,03* 5* 3** 0,1** 15** 0,3* 1 000*
(Phạm Văn Thơm, 1997)
Ghi chú:
(*): Tiêu chuẩn Việt Nam, 1995 đối với nước ven bờ ngoài nước bãi tắm và nước thủy sản
(**): Tiêu cuẩn nước thủy sản Trung Quốc (Guao Shenquan et al, 1991)
Chất lượng nước sinh hoạt:
Nguồn nước cấp cho sinh hoạt của khu dân cư hoàn toàn từ việc khai thác nước
ngầm Qua khảo sát phân tích chất lượng nước giếng ở khu dân cư thì hầu như đều không đạt Nước giếng ở khu dân cư được khảo sát đều bị nhiễm bẩn bởi các yếu tố vật lơ lửng (HSÔN là 1,79; GHCP: 20mg/l); oxy hòa tan (HSÔN là: 1,84; GHCP: >6mg/l); nitrite (HSÔN là 0,72; GHCP: 0,01mg/l); nitrate (HSÔN là 7,9; GHCP: 10mg/l); coliform (HSÔN là 5,46 lần; GHCP: 5 000tb/100ml ), COD (HSÔN là 0,89; GCHP: 10mg/l)
Các nguồn thải:
Kết quả phân tích một số mẫu nước thải cho thấy nước thải ở Cửa Bé có hàm lượng chất rắn lơ lửng (506mg/l; GHCP: 100mg/l); hàm lượng BOD (329mg/l; GHCP: 50mg/l); hàm lượng COD (1 178mg/l; GHCP: 100mg/l); hàm lượng coliform (360 000 tb/100ml; GHCP: 10 000tb/100ml) và hàm lượng hydrocarbon (37,12mg/l; ) vượt mức cho phép nhiều lần (theo tiêu chuẩn Việt Nam 5945-1995)
Kết quả trên được ghi nhận vào năm 1997, hiện nay chất lượng môi trường ở khu vực Cửa Bé đã có nhiều thay đổi lớn từ năm 1997 đến năm 2006 do dân cư tăng và hoạt động giao thông thủy cũng phát triển, có thêm 2 cảng cá (Hòn Rớ và Vĩnh Trường), Công
ty công nghiệp tàu thuỷ Nha Trang, bên cạnh đó hoạt động nuôi trồng thủy sản cũng gia tăng nên ít nhiều môi trường ở đây cũng thay đổi Sự thay đổi đó được thể hiện một phần qua đề tài luận văn này ở trong chương 4 kết quả nghiên cứu
Trang 37CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP LẤY VÀ PHÂN TÍCH MẪU
3.1 ĐỊA ĐIỂM LẤY MẪU
Khảo sát hiện trạng chất lượng nước của khu vực Cửa Bé 06 vị trí lấy mẫu được lựa chọn như sau:
Trạm 5: Khu dân cư
Cửa Bé
Tập trung đông dân cư và gần nguồn thải nhà máy chế biến thuỷ sản Chitosan
109o11’982’’ 12o12’316’’
Trạm 6 Giữa cửa sông giáp với biển 109o12’145’’ 12o11’840’’
3.2 TẦN SUẤT & THÔNG SỐ PHÂN TÍCH
Tần suất: Mẫu nước được thu 2 đợt:
- ĐỢt 1 vào ngày 17 tháng10 năm 2006
- Đợt 2 vào ngày 08 tháng 12 năm 2006
Trong mỗi đợt khảo sát mẫu nước thu bằng bathomet plastic tại 6 trạm (giới hạn bởi các kinh độ 109o11’ – 109o12’ E và các vĩ độ 12o11’ – 12o12’ N) có độ sâu từ 1,5 đến 7,0 mét Mẫu được thu theo hai tầng mặt (M) và tầng đáy (Đ)
Trang 38Thông số quan trắc:
- Các yếu tố thủy lý: độ đục, nhiệt độ
- Các yếu tố thủy hoá: độ muối, pH, độ muối và độ đục, DO, BOD5, amonia, nitrite, nitrate, phosphate, silicat, riêng hai chỉ tiêu dầu mỡ và coliform chỉ phân tích một đợt và tháng 10/2006 còn các chỉ tiêu còn lại đều được thu mẫu và phân tích trong hai đợt tháng 10 và 12/2006
Hình 3.1: Vị trí các trạm thu mẫu nước