CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHU VỰC CỬA BÉ
4.2. Hiện trạng môi trường nước
Kết qủa phân tích mẫu qua 2 đợt khảo sát được thống kê trong bảng 4.1 và trình bày ở hình 4.1. Qua đó có thể thấy có sự biến đổi của các yếu tố như sau:
4.2.1. Đợt khảo sát tháng 10 năm 2006
- Độ đục: giá trị độ đục cao nhất được gặp tại ở tầng mặt trạm 1 (cầu Bình Tân) do khu vực này bị ảnh hưởng của công trường xây dựng mở rộng cầu Bình Tân. Giá trị độ đục thấp nhất ở tầng đáy trạm 6. Nhìn chung, độ đục có xu hướng giảm từ khu vực cửa sông ra phía biển với khoảng dao động từ 5 đến 15 NTU, trung bình: 12NTU.
- Độ muối: Độ muối có xu thế thấp hơn ở cửa sông (trạm 1) và tăng dần về phía biển (trạm 6) với khoảng dao động từ 21‰ đến 33‰.Độ muối ở tầng mặt luôn thấp hơn tầng đáy ở tất cả các trạm khảo sát.
- pH: Giá trị pH dao động từ 7,6 (trạm 2) đến 7,9 (trạm 6); Giống như độ muối, pH có xu thế tăng dần về phía các trạm ở khu vực biển do bị ảnh hưởng của nước biển nhiều hơn .
- Oxy hoà tan (DO): Nhìn chung giá trị DO tại các trạm thấp (luôn <5 mg/l) và chênh lệch không lớn. Giá trị DO cao nhất được ghi nhận ở tầng đáy trạm 3 cũng chỉ là 4,94 mg/l. Đặc biệt, giá trị DO có lúc rất thấp (1,63 mg/l) đã gặp tại tầng đáy trạm 4 (ở gần bãi bồi ở giữa sông). Phần lớn giá trị DO tại tầng mặt đều có cao hơn so với tầng đáy.
- BOD5: giá trị BOD dao động từ 0,39 mg/l (trạm 6, khu vực ít xa các hoạt động nuôi trồng thủy sản, công nghiệp, dân cư) đến 3,67 mg/l (trạm 1, cầu Bình Tân, nơi chịu ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng thủy sản ).Nhìn chung, giá trị BOD ở tầng đáy thấp hơn so với tầng mặt.
- Nitrite-N: hàm lượng nitrite-N tương đối thấp ở tất cả các điểm và dao động trong khoảng từ 4,0 (trạm 4) đến 13,0g/l (trạm 1).
- NH3,4-N: Hàm lượng NH3,4-N có sự khác biệt rõ ràng giữa các trạm và các tầng.
Phần lớn các mẫu chỉ có NH3,4-N ở dạng vết tầng mặt (trạm 1, 2, 4, 5). Tuy nhiên, giá trị NH3,4-N cao (144g/l) được ghi nhận tại trạm 1(tầng đáy).
- Nitrate-N: Hàm lượng nitrate tại các trạm khá cao với khoảng dao động từ 64g/l (trạm 6) đến 109g/l (trạm 1).
- Phosphate-P: Có thể thấy hàm lượng phosphate trong các mẫu phân tích tương đối cao và có sự thay đổi lớn giữa các trạm trong khu vực. Đặc biệt, hàm lượng rất cao (562 g/l) của yếu tố này đã gặp ở trạm 1 (tầng mặt). Hàm lượng thấp nhất gặp tại trạm 3 tầng đáy (25,6g/l).
- Coliform: Mật độ coliform biến động bất thường và có sự chênh lệch lớn giữa các trạm dao động trong khoảng từ 430 (trạm 4) đến 46 000 tb/100ml (trạm 6) .
4.2.2. Đợt khảo sát tháng 12 năm 2006
- Độ đục: dao động trong khoảng từ 10,0 (trạm 4) đến 19,0NTU (trạm 2), trung bình 13,6 NTU.
- Độ muối: độ muối dao động trong khoảng từ 20 (trạm 1) đến 31‰ (trạm 6).
Tương tự đợt khảo sát tháng 10/2006, độ muối tại các trạm có xu hướng tăng dần về phía biển. Độ muối tầng đáy cao hơn tầng mặt.
- pH: Giá trị pH dao động trong khoảng 7,6 đến 7,9; lớn nhất tại tầng đáy trạm 6;
ghi nhận được tại tầng đáy trạm 2 có giá trị nhỏ nhất; trung bình giá trị pH tại 6 trạm: 7,7.
- Oxy hoà tan: Nhìn chung, giá trị oxy hoà tan trong đợt khảo sát tháng 12/2006 không thấp, dao động từ 4,74 mg/l (trạm 3) đến 5,62mg/l (trạm 5). Tương tự đợt khảo sát tháng 10/2006, hầu hết giá trị DO tại tầng mặt đều có cao hơn so với tầng đáy.
- BOD5: Giá trị BOD5 tại các trạm nghiên cứu tương đối thấp và có sự chênh lệch giữa các trạm, BOD có giá trị thấp nhất gặp tại trạm 6 (2,84 mg/l), cao nhất gặp tại trạm 5 (4,86 mg/l). Giống như đợt tháng 10/2006, nhìn chung, giá trị BOD ở tầng mặt cao hơn so với tầng đáy.
- Nitrite-N: Hàm lượng nitrite cao ở hầu hết các trạm. Hàm lượng nitrite cao nhất 45,0g/l gặp ở tầng đáy trạm 1, thấp nhất 25,0 g/l cũng thể hiện ở ngay trạm 1 nhưng mà ở tầng mặt.
- NH3,4-N: Hàm lượng NH3,4-N cũng khá cao ở các trạm, dao động trong khoảng từ 26 g/l (trạm 5) đến 62 g/l (trạm 2).
- Nitrate-N: Hàm lượng nitrate thấp nhất ở tầng đáy trạm 6 là 90 g/l, hàm lượng cao nhất ở tầng mặt trạm 2 là 176 g/l. Có thể thấy, hàm lượng của yếu tố này tại các trạm khảo sát là cao.
- PO4-P: Hàm lượng phosphate tại các trạm không cao và dao động trong khoảng từ 10,4 (trạm 5) đến 25,3g/l (trạm 6).
BẢng 4.1 : Giá trị thống kê các yếu tố môi trường khu vực Cửa Bé a. Một số thông số cơ bản
Thời
gian Giá trị Độ sâu
m pH Độ muối
‰
Độ đục NTU
DO mg/l
BOD mg/l
10/2006
Trung bình 5,1 8,1 28,7 9,17 3,2 1,8
Cực đại 7,1 8,13 33 15,0 4,94 3,67
Cực tiểu 1,5 7,96 21,4 5,0 1,63 0,39
n (số mẫu) 6 12 12 12 12 12
12/2006
Trung bình 4,75 7,7 22,4 13,6 5,1 4,0
Cực đại 7,0 7,9 30 19 5,62 4,86
Cực tiểu 2,5 7,6 19,6 10 4,74 2,84
n (số mẫu) 6 12 12 12 12 12
b. Hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng, dầu mỡ và coliform
Thời
gian Giá trị NH3,4-N
g/l
NO2-N
g/l
NO3-N
g/l
PO4-P
g/l
SiO3-Si
g/l
Dầu mỡ
g/l
Coliform tb/100ml
10/2006
Trung bình 52,6 7,5 85,2 101,7 919,2 486,3 10 560
Cực đại 144 13 109 562 1 869 565 46.000
Cực tiểu Vết 4,0 64 25,6 487 404 430 n (số mẫu) 12 12 12 12 12 6 6
12/2006
Trung bình 49,6 32,4 144,1 16,6 1 964,8
Cực đại 62 45 176 25,3 2 283
Cực tiểu 26 25 90 10,4 877
n (số mẫu) 12 12 12 12 12 Một cách khái quát, có thể thấy trong cả 2 đợt khảo sát hàm lượng các yếu tố BOD, dinh dưỡng, vi sinh thường tập trung cao tại trạm 1 (cầu Bình tân) và giảm dần về phía biển và thấp nhất tại trạm 6. Điều này có thể là do gần khu dân cư, thủy sản, công nghiệp (nhà máy Chitosan).
So sánh kết qủa giữa 2 đợt khảo sát thấy rằng vào tháng 10/2006 hàm lượng (giá trị) của các yếu tố pH, độ muối, NH3,4-N, PO4-P cao hơn trong khi NO2-N, NO3-N, DO, BOD5, độ đục, SiO3-Si thấp hơn so với tháng 12/2006. Sự khác biệt này chủ yếu là do tháng 10 thời tiết nắng nóng, ít mưa trong khi tháng 12 thời tiết mát và có mưa nhiều hơn làm cho vực nước nghiên cứu vào tháng 12 bị ảnh hưởng của dòng nước ngọt từ sông Cửa Bé, nước từ các cống nước thải chảy tràn ra sông, sự rửa trôi các chất hữu cơ (có cả chất thải) từ lục địa, trong đó có cả các khu dân cư, từ làm cho BOD5, NO3-N, SiO3-Si tăng và độ mặn giảm hơn. Hàm lượng DO thấp hơn vào tháng 10/2006 có thể là do vào thời kỳ này nắng nóng lượng chất hữu cơ bị phân giải nhiều hơn khiến cho hàm lượng DO bị suy giảm, điều này cũng được thể hiện qua hàm lượng PO4-P cao hơn vào thời kỳ này.